Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Latest Articles


  • THÔNG BÁO - CHÙA PHÁP BẢO ĐÀN

     

    ------------------Thông Cáo - CHÙA PHÁP ĐÀN------------------

    - Chùa Pháp Đàn hiện nay đang xuống cấp, cần sự HOAN HỸ quý Phật Tử trong nước hoặc hải ngoại giúp tu sửa lại Chánh Điện ( TAM BẢO ). Để tiếp tục con đường Hoàng Dương Phật Pháp lợi lạc Chúng Sanh.

    L/L: Trụ Trì Thích Tắc Phi

    Quốc Lộ 1, Thị Tứ Gò Đen
    Huyện Bến Lức, Tỉnh Long An
    Tel: ( 072 ) 3870 112
    Cel: 0906.32.35.38
    Email: thichtacphi@yahoo.com.vn

    NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHÂT
    NAM MÔ HOAN HỸ BỐ TÁT MA HA TÁT

    Read more »
  • BẬC THẦY – CỘI NGUỒN CỦA ÂN PHƯỚC GIA TRÌ

    BẬC THẦY – CỘI NGUỒN CỦA ÂN PHƯỚC GIA TRÌ 
    Jamgon Kongtrul Rinpoche[1] soạn | Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ 

     

    3rd Jamgon Kongtrul Rinpoche (1954-1992)Vienna, tháng 10 năm 1987

    Giáo lý Phật Đà có thể được chia thành con đường Kinh thừa và con đường Mật thừa. Con đường Kinh thừa dựa trên những nguyên nhân và con đường Mật thừa dựa trên kết quả. Cả hai đều về việc sử dụng một con đường để giải phóng chúng ta khỏi tri kiến nhị nguyên nhằm đạt tới trạng thái giải thoát.

    Đầu tiên, trên con đường Kinh thừa, nguyên nhân của tri kiến nhị nguyên được phân tích. Người ta thấy rằng gốc rễ của nó là sự bám víu vào cái tôi, sự vô minh của chúng ta. Sau đấy, họ tiếp tục phân tích. Ý tưởng này đến từ đâu? Bản chất của sự bám víu vào cái tôi này là gì? Những dấu hiệu của nó? Nguyên nhân của nó là gì? Cuối cùng, họ đi đến kết luận rằng sự đồng nhất của bản thân không thực sự tồn tại. Trên con đường Kinh thừa, chúng ta bắt đầu từ sự hiểu rằng hiện nay chúng ta đang trong trạng thái tràn đầy khổ đau và họ tìm kiếm nguyên nhân của nỗi khổ đau này. Họ thấy rằng nguyên nhân là những hành động khác nhau mà họ đã từng làm. Sau đấy, họ tự hỏi điều gì đã gây ra những hành động này và nghiệp quả của chúng. Họ thấy rằng nguyên nhân là những cảm xúc phiền não, điều lại được gây ra bởi tri kiến nhị nguyên và sự bám víu vào cái tôi. Vì vậy, họ đến một điểm mà họ nhận ra rằng sự bám víu đó là nguyên nhân của mọi trải nghiệm.

    Dựa trên sự hiểu này, họ đi theo con đường Kinh thừa, trong đó hành giả chủ yếu duy trì các quy tắc về thân và khẩu. Họ cũng sẽ hiểu về sự phụ thuộc lẫn nhau của vạn pháp và rằng chúng không tồn tại cố hữu. Thứ ba, họ cố gắng đạt được một thái độ nhân từ với tha nhân.

    Vì thế, trên con đường Kinh thừa, hành giả bước đi bằng cách phân tích mọi thứ, tìm hiểu nguyên nhân. Dựa trên sự hiểu đạt được nhờ làm thế, họ áp dụng các phương pháp khác nhau. Sau đấy, họ sẽ đến một điểm mà họ thoát khỏi khổ đau. Họ đạt giải thoát và trạng thái toàn tri. Tuy nhiên, con đường này rất dài. Chúng ta biết rằng con đường của chư Bồ Tát cần tới ba vô lượng kiếp để đạt Phật quả. Về con đường Mật thừa, Kim Cương thừa, hành giả tiến hành theo cách thức hoàn toàn khác. Họ không phân tích các nguyên nhân, họ làm việc trực tiếp với các trải nghiệm của bản thân. Ví dụ, khi những cảm xúc phiền não xuất hiện, họ không phân tích nguyên nhân của chúng, mà trực tiếp trải nghiệm và đến một thời điểm mà họ có thể chuyển hóa chúng. Vì lý do đó, người ta nói rằng con đường này làm việc với kết quả và bởi thế là con đường rất nhanh. Kết quả, thứ đạt được nhờ cả hai con đường, là giống nhau:  hành giả thoát khỏi khổ đau và các phiền não bên trong suy giảm, họ đạt chứng ngộ. Điểm khác biệt giữa các con đường chỉ là cách mà chúng ta thực hành.

    Con đường Mật thừa bắt đầu từ những điều kiện khác với con đường Kinh thừa. Con đường này chỉ thích hợp với các hành giả có căn cơ cao nhất, bởi nó làm việc với các cảm xúc phiền não mà không phân tích nguyên nhân của chúng. Mặt khác, người ta cũng nói rằng, trong thời đại suy đồi này, con đường này thích hợp với những người có cảm xúc phiền não mạnh mẽ nhất. Lý do là bởi những người này không có sự kiên nhẫn để tích lũy công đức trong thời gian dài và thực hành con đường Bồ Tát. Đơn giản là họ không thể xoay sở được. Nếu họ thực sự có thể thực hành Mật thừa và giải quyết các phiền não trong tâm, đây là con đường rất nhanh. Tuy nhiên, họ sẽ không đạt Phật quả trong vài ngày hay năm.

    Người ta cũng luôn nói rằng Kim Cương thừa là về việc đưa các kinh nghiệm và hình tướng bất tịnh đến cấp độ thanh tịnh. Tuy vậy, điều này không phải là sự chuyển hóa chỉ bao gồm việc suy nghĩ hay tin tưởng rằng mọi thứ là thanh tịnh. Hơn thế, nó là sự chuyển hóa thực sự. Để có thể làm vậy, hành giả cần “ba gốc” (cội nguồn) của ân phước, thành tựu và hoạt động. Gốc rễ của ân phước là Bậc Thầy (Lama). Gốc rễ của thành tựu (siddhi) là Bổn tôn (Yidam). Gốc rễ của hoạt động là chư Hộ Pháp. Bậc thầy là quan trọng nhất trong ba gốc. Chư Bổn tôn và Hộ Pháp là sự hiển bày của bậc thầy. Không có Bổn tôn hay Hộ Pháp nào tách rời với bậc thầy. Vì lý do đó, bậc thầy có ý nghĩa rất đặc biệt trong Kim Cương thừa.

    Để hiểu được điều này, thật lợi lạc khi nhìn lại con đường Kinh thừa. Ở đây, hành giả nương tựa một vị thầy hay thiện tri thức tâm linh, người chỉ ra con đường.  Theo những giải thích của bậc thầy, họ thực hành và như thế tiến bộ qua các cấp độ (địa) Bồ Tát và năm con đường (ngũ đạo: tư lương đạo, gia hạnh đạo, kiến đạo, tu tập đạo và vô học đạo).

    Trong Kim Cương thừa, bậc thầy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng hơn. Hành giả không xem bậc thầy đơn giản là người chỉ bày con đường, mà xem ngài như chính Đức Phật. Với thái độ này, ân phước của bậc thầy có thể trực tiếp thâm nhập tâm thức học trò, làm chín muồi và đánh thức dòng tâm thức. Để điều này xảy ra, hai yếu tố là cần thiết. Một mặt, hành giả phải thực hành và mặt khác, anh ta phải cởi mở với bậc thầy và thực sự thấy ngài là Phật.

    Về con đường Kinh thừa, hành giả đối phó với hành động một cách có chủ ý. Anh ta nỗ lực để tránh mọi hành động tiêu cực và chỉ làm thiện hạnh. Nhưng bởi luôn được “đồng hành”bởi sự vô minh và vì có nhiều phiền não, anh ta không bao giờ thành công một cách trọn vẹn và luôn luôn lại làm điều gì đó xấu xa. Con đường Kinh thừa tốn nhiều thời gian bởi nỗ lực vì thiện hạnh và những phiền não trong tâm, thứ luôn xúi giục chúng ta làm ác, liên tục xung đột với nhau. Tuy nhiên, trên con đường Mật thừa, có một yếu tố bổ sung trong kết nối với bậc thầy. Trong bản tính thật sự của tâm, chẳng có vô minh nào được tìm ra; nó chỉ là cách mà chúng ta trải nghiệm mọi thứ, điều được đánh dấu bằng vô minh. Nếu chúng ta hướng về bậc thầy với sự tin tưởng trọn vẹn, và nhờ đó nhận được ân phước gia trì, tâm thức sẽ được dẫn dắt đến sự trưởng thành. Điều này nghĩa là, nhờ ân phước gia trì, chúng ta có thể nhận ra bản tính thật sự của tâm. Vì thế, bậc thầy – cội nguồn của ân phước, rất quan trọng trong Kim Cương thừa và được gọi là “gốc đầu tiên”.

    Để thọ nhận ân phước gia trì, chúng ta cần nhiều thứ. Một mặt, chúng ta cần phát triển sự tin tưởng trọn vẹn và lòng sùng mộ chí thành với bậc thầy. Tuy nhiên, điều này không nhắc đến bất cứ bậc thầy nào. Nó liên quan đến người mà chúng ta lựa chọn sau khi kiểm tra kỹ lưỡng nhiều vị đạo sư khác nhau. Đó là vị thầy mà chúng ta chắc chắn rằng bản thân có thể phát triển sự tin tưởng trọn vẹn. Mặt khác, bậc thầy cũng cần kiểm tra hành giả để chắc chắn rằng ngài có thể thực sự giúp đỡ.

    Nếu chúng ta có thể đạt được sự chắc chắn rằng bản thân có thể phát triển sự cởi mở trọn vẹn này với một vị thầy, nó cần khởi lên sự tin tưởng không dao động. Nó thực sự không dao động và không thể phá hủy giống như kim cương. Nếu làm được vậy, kết quả sẽ không bị ảnh hưởng và gây phiền nhiễu bởi những ý nghĩ thông thường nữa. Sự không dao động này của niềm tin cũng là lý do của tên gọi “Kim Cương thừa”.

    Nhiều người tin tưởng một cách sai lầm rằng chẳng có sự khác biệt giữa một vị thầy Kim Cương thừa với các vị thầy khác. Một vị thầy nói chung có thể chỉ ra con đường theo cách thức hoàn toàn thanh tịnh và rõ ràng, và giải thích cách thức hành xử, cách mà mọi thứ là hay tương tự. Tuy nhiên, một vị thầy Kim Cương thừa là người không chỉ làm việc và giảng dạy với từ ngữ mà với mọi cấp độ. Với hành vi về thân, với giáo lý bằng khẩu và thông qua những nguyện ước của tâm, ngài có thể dẫn dắt tâm thức của người khác đạt đến sự chín muồi và giải thoát. Chỉ người có khả năng này mới là một vị đạo sư Kim Cương thừa chân chính. Có nhiều vị thầy nói chung nhưng rất ít vị có thể được gọi là đạo sư trong Kim Cương thừa.

    Trong lời cầu nguyện Kim Cương Trì (Dorje Chang) có nói rằng lòng sùng mộ là đầu của thiền định. Nó nhắc đến lòng sùng mộ được phát triển trong Kim Cương thừa – một kiểu sùng mộ hoàn toàn và tự nhiên thức tỉnh trong hành giả, không chút tưởng tượng hay tự lừa dối. Khi nó xuất hiện trong tâm, những ý niệm bình phàm sẽ suy giảm nhờ ân phước của bậc thầy và các kinh nghiệm thiền định tự nhiên xuất hiện, không cần dốc sức hành thiền. Sau đấy, những nguyện ước về thân, khẩu và ý của bậc thầy có thể hữu ích cho học trò.

    Các vị Tổ của truyền thống Kagyu từng nói, những pháp tu sơ khởi – Ngondro còn sâu xa hơn mọi thực hành khác. Tuyên bố này liên quan nhiều đến Guru-Yoga (Đạo Sư Du Già) hơn là lễ lạy, Kim Cương Tát Đỏa (Dorje Sempa) hay cúng dường Mandala, bởi ở đây, hành giả đón nhận ân phước gia trì của bậc thầy. Với các thực hành như Đại thủ ấn (Mahamudra) hay giai đoạn phát triển trong thực hành Bổn tôn, giai đoạn phát triển – Sáu Pháp Du Già Của Naropa – tất cả đều dựa trên Ngondro, chúng ta luôn luôn phải chuẩn bị tâm thức một cách thích hợp. Điều này xảy đến nhờ ân phước gia trì mà chúng ta trải qua trong Guru Yoga. Chỉ nhờ điều này mà chúng ta đem các kinh nghiệm bất tịnh đến cấp độ thanh tịnh và có thể trực tiếp tiến hành các pháp tu khác. Lòng sùng mộ mà một hành giả cần có với bậc thầy không giống cảm xúc khi gặp một vị thầy đối xử tốt đẹp với mình. Nếu ngài mỉm cười hay nói năng theo cách thức dễ chịu, một cảm xúc sùng mộ có thể khởi lên, nhưng đó được gọi là “sự khởi lên của cảm xúc vì những điều kiện”. Tuy nhiên, lòng sùng mộ được truyền cảm hứng với bậc đạo sư là cảm xúc ở sâu bên trong, không phụ thuộc vào những điều kiện ngoại cảnh như vậy. Ban đầu, nó vẫn phụ thuộc vào những thứ bên ngoài;  sau đấy nó trở thành cảm xúc bên trong, thứ xuất hiện chẳng phụ thuộc vào ngoại cảnh và các kinh nghiệm tạm thời. Chỉ khi lòng sùng mộ sâu sắc này và niềm tin tưởng không dao động khởi lên, ân phước gia trì mới có thể phát huy tác dụng để các ý niệm bình thường cùng những thứ tương tự tự nhiên lắng dịu. Có những miêu tả về dấu hiệu của lòng sùng mộ: rớt nước mắt và nổi da gà. Nhưng để điều này xảy ra, hành giả cần phải kết nối với vị thầy trong nhiều đời; xây dựng nó trong một đời là không thể.

    Chỉ khi thọ nhận được ân phước thực sự, chúng ta mới có thể chứng ngộ được kết quả đúng đắn, chứng ngộ rốt ráo, những thành tựu cao cấp nhất. Nếu chúng ta ép buộc bản thân vun bồi cảm xúc sùng mộ và tin tưởng giả tạo, ân phước gia trì và nguyện ước cũng sẽ là sự tưởng tượng và giả tạo, và vì thế kết quả cũng tương tự. Chư đạo sư chỉ là con người. Chư vị có thân thể. Chư vị đôi lúc có tâm trạng tốt hay xấu. Chư vị có thể tức giận, buồn bã hay tương tự. Không có niềm tin tưởng thực sự và lòng sùng mộ không dao động, chúng ta sẽ bị ảnh hưởng bởi những điều này và cảm thấy bất an. Chúng ta sẽ băn khoăn liệu kinh nghiệm thiền định hôm nay có mạnh mẽ như hôm qua; chúng ta trở nên không ổn định và thiếu chắc chắn trong sự tự tin. Tất cả đều vì lòng sùng mộ và sự tin tưởng vẫn chưa phải là không thể lay chuyển.

    Khi chúng ta nói về việc đạt đến những thành tựu cao cấp nhất, nó không phải thứ gì đó bên ngoài hay mới mẻ. Đó là sự chứng ngộ bản tính tâm. Chúng ta đạt được thành tựu cao nhất khi thoát khỏi mọi trạng thái và điều kiện thay đổi, tạm thời và khi ta chứng ngộ tâm như nó thực sự là.

    Ân phước gia trì có khả năng đem tâm thức của hữu tình chúng sinh khác đến sự chín muồi và giải thoát họ. Ân phước không có hình tướng hay biểu tượng riêng biệt nào. Mặc dù trong các quán đỉnh, những pháp khí biểu tượng khác nhau được sử dụng, ân phước gia trì đích thực là việc chúng ta thoát khỏi ý tưởng rằng ai đó nhận một sự gia trì và được ban một sự gia trì. Đó là quán đỉnh rốt ráo và là ân phước thật sự. Mọi thứ khác đều chỉ là biểu tượng và ví dụ để đón nhận ân phước.

     

    Nguyên tác: Lama – The Source of Blessings, Jamgon Kongtrul Rinpoche (http://www.dhagpo.org/en/index.php/multimedia/teachings/193-lama-the-source-of-blessings).


    Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ. 
    Mọi sai sót là lỗi của người dịch. Xin thành tâm sám hối trước Tam Bảo, Tam Gốc. Mọi công đức có được xin hồi hướng cho hết thảy chúng sinh. Nguyện mọi sự cát tường!

     

    Read more »
  • China đóng đồ hộp & ăn thịt người

    NEVER TRAVEL TO CHINA , YOU DON'T KNOW WHAT WILL YOU EAT ???
         (Tin về tụi China đóng đồ hộp & ăn thịt người ở Châu Phi đấy chị ạ)
    Nhưng em gửi để chị forward... để rộng đường dư luận thêm thôi, chị nhé.
     


    Mời các qúi vị xem tin này... (tôi thấy link này online sáng nay còn okay!)
    Thằng chệt nay chính thực là kẻ thù của cả thế giới!...
     
    Than ôi!
     
    PS: Qúi vị cứ forward, nếu cần... để thấy cho mọi người thấy rõ bộ mặt thật của giống nòi China.
     
     

    Chinese Feeding Africans With Human Fless.

     
    The favorite beef stew you enjoyed with your family may as well be human meat.

    According to a post appearing on Zambian Watch, Chinese have been collecting dead bodies and packing them as corned beef then dispatching them to Africa. 

    The human meat is added species to make it tasty and preservatives to last for a long time. 

    Part of the post read: 

    "Please send this to all your contacts , it's very important. Chinese people have started producing corned beef with their dead bodies and sending them to Africa . Please stay away from corned beef irrespective of brand , most especially in Africa and from Afro-Asian grocery shops" they charged.

    It is not clear as to why Chinese will pack human dead body as beef and send to African Countries

    The Chinese government is yet to respond to this damning allegation. 
     
    http://www.theinformerke.com/2016/05/chinese-feeding-africans-with-human.html

    PHI CHÂU RÚNG ĐỘNG VÌ TIN "THỊT NGƯỜI ĐÓNG HỘP" Made in China!

     
    http://www.echinacities.com/upload/editor/weirdnews2-(564).jpg
     
    Ngày 18-5 vừa qua, Pháp Tấn Xã loan tin, đài phát thanh của chính phủ Cộng hòa Gambia, Phi châu, loan tin động trời theo tiết lộ của một phụ nữ Gambia từng sống ở Hoa Lục, đã chứng kiến tận mắt, đã "nắm được bằng chứng", một công ty đồ hộp TC đã dùng thịt người chết(như thịt heo, thịt dê ... ) đóng hộp đem qua Phi châu bán! <!>
    Theo một ký giả Pháp ở Congo Brezaville tin này, làm chấn động Phi châu, uy tín của TC sụp đổ ở nhiều nước mà TC đang đầu tư với số vốn vượt cả Anh, Pháp và Đức. 
    Tình hình đột khởi rất nghiêm trọng đến mức phát ngôn Hồng Lỗi Bắc Kinh được lệnh "cực lực" cải chính ngay. Nhưng khắp Phi châu đều không tin lời cải chính của Hồng Lỗi, mặc nhiên coi là sự thực do đài phát thanh quốc gia Gambia. 
     
    Chính phủ Gambia vẫn yên lặng!  Đây là quốc gia thân thiện của TC. 
    Dân Hồi giáo Gambia cũng như tất cả dân Hồi trên thế giới "ghê sợ" thịt heo và thịt chó huống chi thịt người. Nhưng dân Hoa Hán lại nổi tiếng về thức ăn thịt người! Truyện Thủy Hử, một danh phẩm quốc tế đã được dịch qua tiếng Anh, Pháp... 
    Thị Nại Am viết về Hắc Điếm, thường giết khách trọ béo tốt, xẻ thịt làm các món ăn và nhân bánh. Văn hào Lỗ Tấn, chế độ Mao tin như "Thánh sống" của Cách mạng vô sản. Sử sách TC tôn Lỗ Tấn (1881-1936) là nhà văn, nhà tư tưởng vĩ đại của TC hiện đại. Ông người gốc Mân Việt, ở Thiệu Hưng, Chiết Giang (xem: Lao Tư và Thịnh Lê, Bách khoa từ điển Nho - Phật - Đạo, nxb Ly Giang, TQ, 1995, tr. 778).
     Lỗ Tấn tên thực là Chu Thụ Nhân. Nhà văn Trung Hoa đầu tiên viết truyện bằng chữ quốc ngữ mới, Quan Thoại, với danh phẩm Nhật ký người điên (bản dịch Việt ngữ của Nguyễn Hiến Lê). 
    Lỗ Tấn vạch trần và đả kích mạnh mẽ vào chế độ phong kiến "người ăn thịt người"!  Các nhà văn thời Lỗ Tấn còn kịch liệt đả kích nạn phong kiến TH "ăn thịt bao tử heo!" (thịnh hành ở Thượng Hải). Trung Hoa Văn Hóa Sử - Tam Bách Đề cho ta biết "Người TH ở Thiên Tân có món ăn bao tử chó quay. TH văn học Sử đã viết về món ăn này, không kể các món ăn vương giả như ăn gỏi chuột còn sống (sở thích của Từ Hy Thái Hậu nhà Thanh). 
    Do văn hóa quá khác biệt (ẩm thực) Phi châu và Trung Hoa khó  hòa hợp. Thí dụ thịt heo, lạp xưởng... Bản tin "thịt người" đóng hộp của Bắc Kinh phổ biến trên đài quốc gia Gambia, phổ phiến trên khắp lục địa Phi châu. Hậu quả không phải là nhỏ.
     
     
    China denies selling human flesh as tinned corned beef in Zambia in Africa - BBC Newsbeat
    China's foreign ministry has denied reports that Chinese food companies are canning human flesh and selling it in Africa as corned beef.
    The country's state-run Xinhua news agency said one tabloid newspaper in Zambia was falsely quoting an unnamed woman living in China.
    She said Chinese firms were collecting dead human bodies, marinating them and packing them in tins.
    Chinese spokesman Hong Lei said the reports were "irresponsible".
    The Chinese Ambassador to Zambia, Yang Youming, said the reports were aimed at destroying the long-standing partnership between the two countries.
    Corned beef
    Image caption This is what "proper" corned beef looks like
    "Today a local tabloid newspaper is openly spreading a rumour, claiming that the Chinese use human meat to make corned beef and sell it to Africa.
    "This is a malicious slandering and vilification which is absolutely unacceptable to us.
    "We hereby express our utmost anger and the strongest condemnation over such an act."
    The photos supposedly showing dead bodies are actually from a marketing stunt from 2012 for the video game Resident Evil 6.
    A butchers selling fake "human meat" was set up at London's Smithfield Market and the same pictures have appeared in Zambia this week.
    Facebook post on Chinese human flesh being packaged as corned beef and tuna           
    Zambia's Deputy Defence Minister Christopher Mulenga says his government will launch an investigation into the reports.
    "The government of Zambia regrets the incident in view of the warm relations that exist between Zambia and China," he said.
    "We shall make sure that relevant government authorities will take up the investigations and give a comprehensive statement."
    Zambia has a large community of Chinese immigrants who've built successful businesses in the retail and construction industries.
    China is also a key importer of Zambia's main export, copper, and has invested considerable amounts of cash into the country's mining industry.
    Find us on Instagram at BBCNewsbeat and follow us on Snapchat, search for bbc_newsbeat
    __._,_.___
    Read more »
  • 10 lợi ích sức khỏe của cây sa kê

    Sa kê là một loại thực phẩm tốt cho chế độ ăn uống vì nó rất giàu carbohydrate nhưng ít calo.

    Cây sa kê còn có tên là cây bánh mỳ thuộc họ dâu tằm Moraceae, có nguồn gốc từ Malaysia và các đảo Thái Bình Dương, được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Nam nước ta.

    Bạn biết gì về cây sa kê?

    Sa kê là cây gỗ lớn, có chiều cao từ 15-20m, có nhựa mủ màu trắng sữa, cành mảnh mọc ngang, làm thành tán rộng, dày. Lá sa kê lớn chia 3-9 thuỳ thuôn dài, cuống mập, rụng để xẹp trên cành. Đặc biệt, lá có màu xanh bóng ở mặt trên, mặt dưới rất nhám, khi rụng đổi màu vàng nâu khô, cứng có thể làm vật trang trí.

    Cây sa kê là một loại cây xanh vừa đẹp lại vừa mang lại nhiều lợi ích. Cây được dùng làm cảnh, làm cây bóng mát và được trồng nhiều trong các khuôn viên công sở, trường học, bệnh viện, các khu dân cư, vỉa hè đường phố và nhất là sân vườn biệt thự…

    Không chỉ làm cảnh, sa kê còn được trồng làm cây lấy quả mang lại giá trị kinh tế cao cho người dân.

    Nhiều lợi ích cho sức khoẻ

    Sa kê là vị thuốc khá công dụng trong dân gian trị nhiều bệnh về răng miệng, sát khuẩn, đái tháo đường, tăng huyết áp… Bộ phận có thể dùng trong y học gồm: rễ, lá, vỏ và nhựa cây. Theo Đông y, rễ sa kê có tính làm dịu, trị ho; vỏ có tác dụng sát khuẩn; lá có công dụng tiêu viêm, tiêu độc, lợi tiểu. Ở một số nước, rễ sa kê dùng trị bệnh hen và các chứng rối loạn dạ dày, đau răng, bệnh về da; vỏ cây sa kê dùng trị ghẻ; nhựa cây sa kê được dùng pha loãng trị tiêu chảy và lỵ; còn lá sa kê tươi được dùng với lá đu đủ tươi, giã với vôi để đắp trị nhọt. Ở nước ta, dân gian dùng lá sa kê chữa phù thũng, viêm gan vàng da bằng cách nấu lá tươi để uống.

    Dưới đây là 10 lợi ích cho sức khoẻ của trái cây sa kê mà ít người biết đến:

    1. Khuyến khích tăng trưởng tế bào mới

    Các chất chống oxy hóa trong sa kê cung cấp một lá chắn hiệu quả chống lại các tia mặt trời và nắng. Nó cũng khuyến khích sự tăng trưởng của tế bào mới làm cho da bị tổn thương sẽ mịn màng và trẻ trung trở lại.

    2. Sức khỏe tim mạch

    Sa kê là một nguồn tuyệt vời của kali – một loại dinh dưỡng hữu dụng cho trái tim của bạn. Vi chất này làm giảm huyết áp trong cơ thể và điều hòa nhịp tim bằng cách giảm thiểu các tác động của natri. Chất xơ có trong thịt quả sa kê giúp giảm cholesterol bằng cách ngăn chặn sự hấp thu ở ruột. Nó làm giảm cholesterol xấu (LDL), đồng thời nâng cao cholesterol tốt (HDL) trong cơ thể. Nó làm giảm triglyceride – là một trong những nguyên nhân chính của bệnh tim mạch.


    Sa kê là vị thuốc khá công dụng trong dân gian trị nhiều bệnh về răng miệng, sát khuẩn…

    3. Chống nhiễm trùng

    Sa kê có chứa một lượng chất chống oxy hóa tốt, giúp cơ thể phát triển sức đề kháng chống lại các tác nhân gây bệnh. Nó cũng dọn sạch các gốc tự do có hại ra khỏi cơ thể, là nguyên nhân dẫn đến lão hóa và các bệnh liên quan đến tuổi khác.

    4. Nguồn cung cấp năng lượng

    Một chén sa kê cung cấp 60gam carbohydrate, là nguồn năng lượng chính của cơ thể. Nó rất có lợi cho các vận động viên và người thường xuyên vận động.

    5. Ngăn chặn quá trình viêm da

    Chiết xuất sa kê tươi có thể giúp giảm viêm không mong muốn. Nó ức chế hoạt động của các enzym gây viêm và ngăn cản sự sản xuất quá mức oxit nitric, do đó ngăn ngừa tình trạng viêm nhiễm.

    6. Sản sinh collagen

    Uống nước trái cây sa kê giúp sáng da và làm săn chắc da. Số lượng lớn vitamin C trong sa kê giúp thúc đẩy sản xuất collagen – một protein cung cấp tính đàn hồi cho da.

    7. Điều trị các bệnh về da

    Tro của lá sa kê vô cùng hữu ích để trị bệnh nhiễm trùng da. Mủ của cây sa kê được bôi trên bề mặt da bị ảnh hưởng bởi các bệnh ngoài da như eczema, bệnh vẩy nến và viêm da.


    Cây sa kê là một loại cây xanh vừa đẹp lại vừa mang lại nhiều lợi ích.

    8. Nuôi dưỡng tóc

    Sa kê chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho việc duy trì sức khỏe của tóc. Vitamin C trong sa kê tạo điều kiện cho sự hấp thu khoáng chất và cung cấp dinh dưỡng cho tóc. Sa kê là một nguồn cung cấp tốt axit omega-3 và omega-6 làm giảm gãy, rụng tóc.

    Các axit béo có trong sa kê điều chỉnh việc sản xuất bã nhờn ở da đầu, giảm gàu và ngứa. Nó cũng ức chế viêm da đầu và tế bào chết, ngăn ngừa rụng tóc.

    9. Bệnh tiểu đường

    Chất xơ trong sa kê ức chế sự hấp thu glucose từ thực phẩm chúng ta ăn, do đó kiểm soát bệnh tiểu đường. Nó có chứa các hợp chất cần thiết giúp tuyến tụy sản xuất insulin trong cơ thể.

    10. Tốt cho hệ tiêu hóa

    Chất xơ trong sa kê xả các độc tố ra khỏi ruột, giúp hoạt động tốt nhu động ruột và hệ tiêu hóa. Nó ngăn ngừa các bệnh tiêu hóa liên quan như chứng ợ nóng, ợ chua, loét và viêm dạ dày, loại bỏ các hợp chất độc hại trong ruột. Sa kê còn bảo vệ màng nhầy của ruột kết giúp tránh được các hóa chất gây ung thư từ đại tràng.

    Theo Khoa Học

    Read more »
  • 4 Oai Nghi Người Xuât Gia Phải Thực Hành NGHIÊM CHỈNH

    TỨ OAI NGHI CỦA HÀNH GIẢ XUẤT GIA

    Khi vừa vào xuất gia, con đã học và tâm đắc bài “Quy Sơn Cảnh Sách” nhất là đoạn : “Người xuất gia là cất bước thì muốn vượt tới phương trời cao rộng, tâm tính và hình dung khác hẳn thế tục, tiếp nối một cách rạng rỡ dòng giống của Phật, làm cho quân đội của ma phải rúng động khuất phục, với mục đích báo đáp bốn ân, cứu vớt ba cõi.” Sau đó con luôn luôn được Sư Phụ chỉnh sửa từng chút về dáng đi, kiểu ngồi,…để có được “đường đường Tăng tướng”. Con cũng muốn mình trở thành một bậc mô phạm trong Thiền môn thế nhưng có biết bao nhiêu lần con bị “trật đường rầy” và phải liên tục chỉnh sửa lại. Cho nên, con rất tâm đắc với đề tài : “Tứ Oai Nghi của hành giả Xuất Gia”. Đây là một cơ hội nữa để con nhìn lại chính mình, nêu lên những suy tư và quyết tâm thể hiện và thâm nhập nếp sống Đạo của hạnh xuất gia mà mình đã chọn.

    Oai nghi là hình thức bề ngoài của người tu. Người xưa nói: “có oai khá sợ, có nghi khá kính”. Trong thiền môn, rất chú trọng đến bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi. Bởi người xuất gia, ngoài việc hành trì giới luật nghiêm minh, còn phải giữ gìn oai nghi tế hạnh. Đó là những phép tắc cao đẹp của người xuất gia. Người có oai nghi, ai trông thấy cũng kính trọng, mến phục. Người thiếu oai nghi, tất nhiên là thiếu cung cách phẩm hạnh cao đẹp của một người tu. Vì thế, một tu sinh dự tu, theo phẩm hạnh cung cách của người xuất gia, thì phải giữ gìn oai nghi tế hạnh thật cẩn thận. Đó là vừa khắc phục chính mình mà cũng vừa cảm hóa kẻ khác. Từ cách đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, nói năng, làm việc v.v… tất cả đều phải giữ gìn đúng theo phong thái nghiêm trang, nhẹ nhàng của một tu sỹ. Những cử chỉ, hành vi thô tháo ngoài đời, tu sỹ cần phải khắc phục sửa đổi lại. Có thế, thì việc tu hành của chúng ta trong khóa tu mới được lợi lạc rất lớn. Bằng ngược lại, thì rất là có lỗi vậy.

    “Tứ Oai Nghi” bao gồm : đi đứng ngồi nằm của người xuất gia phải theo khuôn phép và đạt những tiêu chuẩn nhất định. Trong Luật Tạng và 24 Thiên Oai Nghi của Sa Di có rất nhiều điều liên quan đến 4 oai nghi này. Là người tu phải khéo chế phục, điều ngự nơi thân và tâm của mình sao cho không thô tháo, buông lung, giãi đãi, trạo cử, làm mất đi niềm tin của tín thí và thế nhân, đó phải là biểu tượng của Chân – Thiện – Mỹ. Ông bà chúng ta có câu : “Học ăn, học nói, học gói, học mở” học mọi thao tác nhỏ nhất trong cuộc sống thế thì trong Thiền môn, hàng tu sỹ phải khéo làm chủ và biểu hiện nơi mọi cử chỉ cho dù là nhỏ nhất của mình hàm chứa trong đó nội dung Phật Pháp.

    Khi học về “Tỳ ni nhật dụng thiết yếu”, chúng con đã học về cách rửa mặt, đánh răng, uống nước, mặc y áo,…Như vậy có phải là phức tạp hóa hay rườm rà hình thức về nếp sống hàng ngày của người tu hay không? Thưa Không ! Đó là cách để thực tập chánh niệm tỉnh giác, đem tuệ giác chiếu soi nơi mọi việc làm hàng ngày và Thiền trong cuộc sống đời thường. nếu như nói chuyện oang oang, đi đứng ầm ĩ làm rúng động sự yên tĩnh người khác, ăn uống vung vãi, quần áo đồ đạc ngổn ngang bừa bãi vậy thì làm sao có thể tạo được một “Thiền môn nghiêm tịnh, hải chúng an hòa”, như lời cảnh giác của “Tổ Quy Sơn” :

    Lời to, tiếng lớn, nói năng vô phép. Không kính thượng tọa, trung tọa, hạ tọa, ngồi với nhau không khác gì sự tụ họp của các đạo sĩ Bà la môn. Khua bát ra tiếng, ăn rồi dậy trước. Đi ở trái phép nên bản chất tăng sĩ mất hẳn, đứng ngồi quàng hoảng nên làm động tâm niệm của kẻ khác. Phép tắc ít nhất cũng không giữ, uy nghi nhỏ nhất cũng không còn, thì đưa cái gì ra để kềm thúc hậu bối, nên kẻ sơ học không biết do đâu mà mô phỏng?”

    Khi còn làm Sa Di Ni, con lại nghĩ mình “kém phước” nên “bị” làm thị giả cho Sư Phụ, gần gũi trực tiếp với Sư Phụ trong khi bao nhiêu người tu trẻ khác cùng lứa tuổi của mình không làm thị giả, được tự do hơn, giải trí và học tập được nhiều hơn. Bao nhiêu lần “bị la”, bị chỉnh khiến con tự ái, tự thương thân mặc cảm, ngậm ngùi. Thế nhưng sau này con mới ngộ ra rằng : chính cái thời gian làm thị giả “hầu Thầy” ấy, chính vì bị “sửa lưng” nhiều như vậy, con mới học được, thực tập được nhiều thứ mà ở ngoài thế gian không sao học được, tôi luyện mình cho phù hợp với Thiền môn và “thấm tương chao”. Đó là diễm phúc lớn, là nền tảng vững chắc cho cả đời tu tập và sinh hoạt Phật sự của mình. Nếu không biết làm thị giả tốt thì làm sao có thể trờ thành vị Thầy tốt và nuôi dạy chúng tốt?

    Mọi người tu, ai cũng nghĩ mình phải thấy (ngộ) được đạo, và nghĩ rằng đạo là cái gì cao siêu ở ngoài mình. Triệu Châu cũng có tâm niệm như chúng ta, khi được Ngài Nam Tuyền trả lời “tâm bình thường là đạo”, sư chưa đủ sức tin. Vậy, tâm bình thường là tâm nào? Tâm bình thường là tâm lặng lẽ sáng suốt, thấy biết rõ ràng, như mặt nước phẳng lặng không gợn sóng trong mọi việc đang xảy ra hiện tại. Ngài Sùng Tín hầu hạ luôn bên thầy 3 năm, một hôm sư thưa:
    – Từ ngày con vào đây đến nay, chưa được thầy chỉ dạy tâm yếu.
    Đạo Ngộ bảo:
    – Từ ngày ngươi vào đây, ta chưa từng chẳng chỉ dạy tâm yếu cho ngươi.
    Sùng Tín hỏi:
    – Thầy chỉ dạy ở chỗ nào?
    Đạo Ngộ bảo:
    – Ngươi dâng trà lên ta vì ngươi mà tiếp, ngươi bưng cơm đến ta vì ngươi mà nhận, ngươi xá lui ra thì ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?

    Đó, Đạo ở đâu xa, Đạo bàng bạc quanh ta, Đạo ngay nơi ăn cơm, uống nước, từng việc làm hàng ngày của người thị giả. Tu không phải là đợi lên chánh điện tụng kinh, ngồi thiền, bái sám,… mới gọi là tu mà tu ở khắp nơi : ngoài sân, trong bếp, phòng khách, trai đường, trong mọi việc làm mà lặng lẽ chiếu soi, thân đâu tâm đó, chánh quán, không khởi vọng niệm, đó là tu, đó là động thiền.

    Trong Tăng Già thời Đức Phật, chính cái phong thái đĩnh đạc, ung dung giải thoát của Đức Phật đã cảm hóa được năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển mặc dù ban đầu họ có thành kiến với Ngài và bàn bạc với nhau là không đón tiếp Ngài. Câu chuyên Ngài Xá Lợi Phất được cảm hóa theo Đạo Phật được ghi : “ Xá Lợi Phất bỗng nhìn thấy thầy A Thị Thuyết (Assaji, là một trong năm vị tì kheo đầu tiên xuất gia làm đệ tử Phật) trên một đường phố trong kinh thành Vương Xá …Dáng vẻ của thầy A Thị Thuyết trông trang nghiêm làm sao! Mỗi cử chỉ đi, đứng của vị tì kheo ấy đều tỏ rỏ oai ghi tế hạnh. Thoạt nhìn thấy, Xá Lợi Phất bỗng cảm thấy tâm hồn rúng động. Thật kinh ngạc, thật kì lạ, không thể tả được! Không dằn được thắc mắc Xá Lợi Phất liền bước đến trước mặt A Thị Thuyết, chào hỏi một cách cung kính”. Thế cho nên, Ngay nơi oai nghi cử chỉ lại có sức cảm hóa người khác mạnh hơn cả lời nói. Giáo hóa độ sanh trong Phật Giáo có 3 phương diện : Thân Giáo – Khẩu Giáo – Ý Giáo. Không phải Giảng sư chỉ dùng ngôn ngữ để thuyết pháp mà tất cả nụ cười, ánh mắt, ngón tay, dáng ngồi im lặng đều là những bài pháp không lời. Giảng sư không phải giống như một ca sỹ hoặc một nghệ sỹ cải lương đóng xong tấn tuồng vai trò mình trên sân khấu rồi cởi bỏ râu mũ muốn làm gì thì làm mà phải thể hiện đạo lý trong nếp sống hàng ngày của mình, tránh tình trạng “năng thuyết bất năng hành” (nói hay nhưng làm không hay) hoặc lý thuyết suông, sáo rỗng.

    Không giữ đúng oai nghi sẽ mang đến những hậu quả xấu xa, tai hại. Trong “Sơ Đẳng Phật Học Giáo Khoa Thư” có dạy một người vào điện Phật lễ Phật mà để cây gậy dựa vào tường, chính cái sơ ý thất thố này mà khiến cho việc Lễ Phật đã không tăng thêm mà lại mất phước. Nếu chúng ta rửa khua chén bát vào ban đêm khiến cho ngạ quỷ đói khát rướn cổ và đứt cổ. Một việc mất oai nghi trong rửa chén lại đưa đến thương tổn và đau khổ như vậy. Nếu lên chánh điện mà đánh chuông đánh mõ không đúng nhịp thì có thể làm rối loạn và phiền não thời công phu. Nếu hô canh mà không đúng cách khiến đại chúng khó nhiếp niệm vào Thiền. Nếu trong phòng thi hay trong lớp học mà không biết im lặng trật tự thì khiến bao người xung quanh động niệm, không tập trung được và khó chịu. Xoa đầu vuốt ve trẻ vị thành niên khác giới có thể bị kiện ra tòa. Nếu đi với dáng vẻ lấc xấc, nếu vừa chống nạnh vừa nghe điện thoại, hút thuốc lá phì phèo tự do, nếu lái xe honda chạy quá nhanh bạt mạng thì khiến dân chúng coi thường tu sỹ. Nếu Ban Kinh Sư trong tiến linh hoặc Chẩn Tế Cô Hồn mà oai nghi không đúng sẽ phản tác dụng, phiền não và đọa lạc… Như vậy có thể nào khinh suất mà không học hỏi, thực tập và biểu hiện cho đúng khuôn phép hay sao?

    Thân và Tâm có mối liên hệ chặt chẽ với nhau : “Tướng tùy tâm sanh, tướng tùy tâm hiện”. Một con người lười biếng giãi đãi, hay bỡn cợt, không có ý thức cao, tinh chuyên tu tập thì làm sao có thể kiểm thúc được nơi thân? Trong Thiền Tứ Niệm Xứ có 4 yếu tố : Thân, Thọ, Tâm, Pháp, hay khi ngồi thiền có các giai đoạn : điều thân, điều tức, điều tâm. Hình có ngay thì bóng mới thẳng. Con mắt là cửa sổ của tâm hồn. Con người tham nhiễm sắc dục thì làm sao mà mắt không liếc ngó lơ láo quàng xiên được? Tu là cả quá trình tu sửa, trong đó có việc sửa thói hư tật xấu nơi Thân, Khẩu, Ý của mình, có cả tu tâm và tu tướng. Có được như vậy thì mới có thể hướng đến việc làm : “Thầy khắp cả Trời Người”, Sứ Giả Như Lai. Pháp Bảo Đàn Kinh ghi : vị Tăng Pháp Đạt ở Hồng Châu thường tụng kinh Pháp Hoa, đến lễ Lục tổ Huệ Năng mà đầu không sát đất. Tổ quở: “Lễ mà đầu không sát đất, chi bằng đừng lễ. Trong tâm ông ắt có một vật, “chất chứa việc gì?” Pháp Đạt thưa: “Đã tụng được ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa.” Tổ bảo: “Ông nếu tụng đến muôn bộ, đạt được ý kinh mà chẳng lấy làm hơn thì cùng ta sánh vai. Nay ông mang sự nghiệp này trọn chẳng biết lỗi…” Tụng kinh nhiều mà thiếu tu tập thì biểu hiện ngạo mạn, thiếu đi 3 ngàn oai nghi, 8 muôn tế hạnh cũng chẳng ích gì!

    Tăng đoàn xưa thời Đức Phật chỉ cần thứ lớp khất thực lặng lẽ cũng gieo trồng phước điền, gây tạo niềm tin và cảm hóa quần chúng. Ngày nay những tu sỹ giả và khất thực giả dễ bị phát hiện là do cách đi đứng, ánh mắt, lời nói của họ thô tháo làm sao họ có thể tái hiện lại bước chân của những “Tượng Vương” đĩnh đạc uy nghi? Nếu một người khéo biết quán sát thì chỉ cần nhìn cách xá chào, câu thưa hỏi, dáng đi, cách ngồi, cách rót trà cũng có thể biết đối tượng đó tu bao lâu, có “thấm mùi tương chao” (thiền vị) hay chưa?

    Tăng đoàn đó là nếp sống của những người hòa hợp, tỉnh thức. Khách tham quan và thiện tín vào chùa có thể học hỏi rất nhiều điều từ sinh hoạt của người xuất gia chứ không phải là chỉ học được từ Pháp Thoại trên Pháp Tòa :người tu nấu ăn thế nào, hành đường ra sao, thọ trai cách gì, xỉa răng ra sao,…Tất cả đều được thể hiện sự vững chãi, thảnh thơi, đạo lực của người tu, chất liệu của giải thoát. Hình ảnh của Đức Phật ngồi trên tòa sen rất trang nghiêm, tôn quý, Ngài nhập niết bàn trong tư thế nằm tuyệt hảo. Như vậy người tu ngồi như Đức Phật ngồi trên tòa sen, đứng như cách Đức Phật A Di Đà sẵn sàng tiếp độ, đi như là đang thiền hành và nằm theo dáng Đức Phật nhập niết bàn, có vậy mới có thể tạo ra một hình ảnh siêu phàm thoát tục, biểu tượng quy ngưỡng cho hàng tại gia và thế nhân.

    Nay trong dịp kỷ niệm 35 năm ngày Thành Lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, nhiều cuộc Tọa Đàm, Hội Thảo diễn ra liên quan đến các Ban Ngành : Pháp chế, Tăng Sự, Nghi Lễ, Văn Hóa, Hoằng Pháp, Giáo Dục Tăng Ni, …nhằm nâng cao phẩm chất người tu và phát triển Phật Giáo Việt Nam. Trong đó, những vấn đề như Pháp phục cho người tu sỹ, việc khất thực, thực hành nghi lễ, giới luật cho hàng tu sỹ và xử trị đang được cân nhắc nghiêm túc để áp dụng cho hàng xuất gia trong giai đoạn sắp đến. Nếu trên 15 000 ngôi chùa và 55000 tu sỹ mà tu đúng, sinh hoạt đúng thì Phật Giáo hưng thịnh và truyền bá đến khắp hang cùng ngõ hẻm cuộc sống, trong đó biểu hiện oai nghi đóng vai trò rất quan trọng trong biểu tượng Thế Gian Trụ Trì Tam Bảo để mọi người quy hướng và tu tập trên lộ trình giải thoát.

    Nay con được phước duyên làm người xuất gia vào phương trời cao rộng. Con đã có hình tưởng Tăng Bảo “đầu tròn, áo vuông” nhưng “chiếc áo không làm nên thầy tu” mà là tất cả phẩm hạnh biểu hiện nơi Thân Khẩu Ý mới quyết định là một người xứng danh Tỳ Kheo hay không? Con nguyện khép mình trong Pháp và Luật của Như Lai, cẩn thận dè dặt tu tập với oai nghi tế hạnh để không làm thất thố oai nghi, tổn giảm niềm tin của tín thí, và dần dần trở thành một bậc mô phạm xứng đáng. Con biết những tập khí xấu xa vẫn còn trong con rất nhiều trải qua nhiều đời kiếp nhưng sẽ miệt mài tu sửa. Thi tuyển vào Trung Cấp Giảng Sư cũng là cơ hội để giao tiếp, để học hỏi kinh nghiệm từ chư Tôn Đức và Thiện Tri Thức để hoàn thiện chính mình trước khi có thể hoằng Pháp độ sanh. Hoàn thiện để phục vụ, phục vụ để hoàn thiện, con biết rất khó trở thành một Thiền Môn Long Tượng nhưng đó là động lực là hướng tu tập. Thân người khó được, Phật Pháp khó gặp, hãy sử dụng trọng đời này, thân này trong việc tu tập và xiển dương Giáo Pháp. Nhân Giới Sinh Định, nhân Định Phát Tuệ, giới định tuệ là căn bản cho tu tập và hoằng pháp lợi sanh. Giới Luật còn là Phật Pháp còn. Con xin trau sửa theo Giới Pháp Như Lai để hạnh phúc, an lạc, thăng hoa, giải thoát, “vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai, thuyết Pháp Như Lai”

    Source: NPD

    Read more »
RSS