Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Latest Articles


  • Tiến Sỉ Phật Học làm được gì cho chúng sanh thời Mạt Pháp?

     

    NỖI NIỀM TIẾN SĨ 
    Minh Mẫn
    35namGHPGVN

    tiến sĩ
    Cuộc sống trong bất cứ xã hội nào, thời đại nào, đều hướng đến mục đích cao đẹp hơn, hoàn thiện hơn, và đạo đức hơn. Tuy nhiên, vẫn còn rơi rớt một vài thành phần có khuynh hướng tiêu cực, luôn đi xuống nhiều mặt, nhất là ý thức đưa đến hành động thiếu tích cực.

    Theo TS Vũ Ngọc Hoàng, phó Ban Tuyên giáo Trung ương, nói riêng về lĩnh vực quyền lực, cũng đã đưa đến tiêu cực, tiêu cực đó đã lan tỏa vào phạm vi mà ai cũng ngỡ là  những tổ chức lý tưởng như học đường, tôn giáo : -...( Nó cứ lan rộng dần vào tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, của công việc quản lý và quản trị quốc gia, vào ngay trong các lĩnh vực mà trước đến nay thường được cho là trong sạch, thiêng liêng (như lĩnh vực dạy người, cứu người, an ninh quốc gia, nắm cán cân công lý để bảo vệ sự nghiêm minh, kể cả cơ quan ở cấp cao, cả nhà thờ, chùa chiền, cả lĩnh vực làm từ thiện, nhân đạo, chính sách đền ơn đáp nghĩa…).

    Góc độ quyền lực trong xã hội nhiễm virus tiêu cực đã đành, những lãnh vực  mang tính thiêng liêng cũng không tránh khỏi nhiễm bệnh bởi loại vi khuẩn "tam độc" vốn là hạt giống tiềm ẩn sâu trong nghiệp thức của mỗi chúng sanh. Chính những hạt giống xấu đó, làm tắt nghẻn đường về "cỏi Phật", mà đức Phật đã suốt 49 năm không ngừng nói đến việc tiêu trừ nghiệp chướng, đưa ra pháp chuyển hóa hạt giống tiêu cực để mỗi nhân thân được Thánh hóa trong cuộc sống, làm thân giáo cho mọi chúng sanh, để cùng thoát  khỏi sanh tử luân hồi. Hỉnh ảnh Tăng thân lý tưởng đó, khuôn vàng thước ngọc trong thánh giáo đó, ngày càng tục hóa để tương thích với hạt giống phàm phu. Phàm phu phát triển tối đa những hạt giống tiêu cực để đắp bồi thêm cao những tham vọng trần tục như những bầy mối vun cao khối đất làm tổ, điều đó là tất yếu nên gọi là chúng sanh, phàm tục.

    khat thucTừ ngày thành lập Tăng đoàn, hình ảnh "xuất thế tục gia-xuất phiền não gia-xuất tam giới gia" của Như Lai tướng đã được quần sanh sùng kính, ái mộ, nhờ vậy, suốt ba ngàn năm, hàng triệu tu sĩ trên toàn cầu, trong quá khứ cũng như hiện tại, không sản xuất ra của cải vật chất, không làm kinh tế và tạo mãi...vẫn có cuộc sống không thiếu. Những bậc ẩn cư  trên non sâu núi thẳm cũng chưa từng chết vì đói, phải chăng do cuộc sống thoát ly quá lý tưởng của người con Phật, buông bỏ tất cả quyền lợi thế gian để tìm đến thế giới siêu thế gian hầu phục vụ lại cho nhân sanh ở thế gian, làm giảm thiểu niềm đau nỗi khổ của nhân thế, vì vậy được gọi là "xuất sĩ".

    TT Thích Minh Trí – Hoàng Văn Thắng đón nhận bằng tiến sĩCuộc sống trong xã hội bị ràng buộc bởi  quy tắc tổ chức để tổ chức kiểm soát, nhất là trong xã hội như Việt Nam hiện nay,hành động, đời sống đều được giám định dưới lăng kính của chủ nghĩa; trong ràng buộc đó, lòng tham con người tìm cách thoát khỏi cơ chế để vun quén cho riêng tư, thi vấn đề tiêu cực là điều kiện ắt có phải phát sanh. Một xã hội tự do phóng khoáng thì tính tiêu cực lại ít phát triển, hoặc phát triển một cách vừa phải, hợp lý, đó là quy luật tương phản. Cái gì càng cấm đoán, càng o ép thì càng bùng phát. Tâm lý chúng sanh là thế. Tuy nhiên, một khi  ai đó tự nguyện trong cuộc sống an thân thủ phận hoặc tự thân khép mình vào quy tắc tôn giáo, theo một lý tưởng nhất định, phủ nhận mọi cám dỗ  Danh-Lợi-Tình, may ra những tiêu cực khó mà phát sanh. Những bậc chân tu lại càng không để hạt giống tiêu cực Danh-Lợi-Tình phát triển ngoài tầm kiểm soát của Giới-Định-Tuệ.

    Kẻ có quyền lực thì tiêu cực phát sanh trong tầm tay quyền lực, kẻ không có quyền lực thì tiêu cực phát sanh trong môi trường đang sống. Không có quyền lực địa vị thi vun quén bằng những thủ đoạn khác, cho dù đem đến tổn hại sức khỏe, sinh mạng kẻ khác, miễn mình có thu nhập đầy túi tham, cứ làm.Khởi đầu hành động từ thiện là hướng đến  sự khổ đau nghèo đói của kẻ khác, nhưng sau đó, hạt giống tham lam len lõi vào, khiến hành động từ thiện che đậy ý đồ xấu bắt đầu phát sanh. Mọi lãnh vực trong xã hội đều như thế nếu không tự kiểm soát thường xuyên ý tưởng, hành động của mình. Người tu theo nhà Phật được hướng dẫn tự quán chiếu để hạn chế đưa đến triệt tiêu Tham - sân -si mà con đường giải thoát tự chọn.

    Thế nhưng, trong một xã hội trăm hoa đua nở, đôi khi người tu quên mình đang trang phục chiếc áo, đang thọ nhận sự cúng dường của bá tánh, quên mình là hành giả đang đi trên đạo lộ giải thoát, từ những bước chân đầu tiên nhúng chàm, lần lần lún sâu vào con đường thế tục, chiếc áo trở thành một phương tiện hữu hiệu che đây lòng tham trần tục. Những vị tướng giải thoát mà tâm phàm tục như thế, chư tổ gọi là "cư sĩ trọc đầu". Những tu sĩ giả sống nhờ chiếc áo, những tu sĩ từ thiền môn cũng sống nhờ chiếc áo mà tâm thoát khỏi thiền môn, đều giống nhau, nhưng khác nhau là được bá tánh trọng vọng và hợp thức hóa trong một tổ chức Giáo hội.

    Rất may, những tiêu cực trong Thiền môn chỉ là thiểu số, nhưng là thiểu số đáng ngại khi họ là những chức sắc ăn trên ngồi trước, quyền cao chức trọng, nắm sinh mạng hàng vạn tu sĩ và tự viện trong cả nước. Có người bảo - như thế đã là sao nào? Một tu sĩ từ nước ngoài về thăm một Thiền sư chân tu, - bạch Hòa thượng, con vừa tốt nghiệp Tiến sĩ... Thiền sư hỏi - thầy học cao hiểu rộng, cho tôi biết đức Phật ngày xưa đã đậu bằng cấp nào vậy?

    Trong cuộc sống ngày nay, Phật giáo trở thành chiếc bóng nghiêng của xã hội. Bằng cấp Tiến sĩ trăm hoa đua nở từ quan chức nhà nước cho đến  chức sắc Phật giáo. Xã hội cần bằng cấp để tiến thân trên địa vị xã hội hầu nuôi vợ con, hoặc cung cấp cho chân dài, tu sĩ cần bằng cấp để làm gì khi mà địa vị chức quyền đã không còn chỗ để tiến, (nói theo ngôn ngữ bình dân gọi là đã đụng nóc), chức sắc trong Giáo hội không có lương bổng, lộc Phật hưởng thụ cũng đã đầy đủ, thì cái bằng Tiến sĩ như thế có thể thay giấy thông hành để vào Niết Bàn chăng?

    Một Tiến sĩ thực thụ, phải bao năm dồi mài kinh sử, thậm chí  thiết lập và bảo vệ luận án không có thời gian ăn uống ngủ nghỉ, thế thì, một chức sắc của Phật giáo hiện nay, càng cao thì công tác Phật sự càng nhiều, thời gian đi chứng trai, chứng minh cũng không đủ, công phu tu tập không thể miên mật thì làm sao có thể nghiên cứu, tham khảo sách vở, học ngoại ngữ, dồi mài kinh sử như những thí sinh thuần chủng. Phát biểu, ban đạo từ đôi khi cần thư ký soạn sẵn, hướng dẫn tỉ mĩ...ôi, bao nhiêu thứ lỉnh kỉnh vây quanh những loại tiến sĩ như thế thì luận án được bảo vệ thành công xuất sắc cũng là chuyện lạ trong những cái lạ của thế tục.

    Trước 1975, GHPGVNTN phần lớn, các vị lãnh đạo không có bằng cấp, chỉ trong 11 năm mà vừa tổ chức Giáo hội, vừa điều hành phật sự trong thời chiến, nhưng phật sự rất chu toàn và gây tiếng vang trên thế giới, tạo một tầm vóc và thế đứng vững chải. Nhìn lại như thế để thấy 35 năm giáo hội hiện nay được điều hành bởi những Tiến sĩ xuất sắc như thế, rồi mai đây, có lẽ không xa lắm, sẽ có hàng trăm Tiến sĩ không cần thông qua trường lớp, các trụ trì lớn nhỏ đều Tiến sĩ thì thế giới sẽ nghiêng mình bái phục  Phật giáo Việt Nam như bái phục một tập thể từ hành tinh xa lạ. Phật giáo như thế sẽ không cần giải thoát, không thiết Niết bàn, không cần giáo lý mà chỉ cần thế lý để vinh thân!!!

    Luật tương phản hiện rõ, người có khả năng thì không cần bằng cấp, người cần  bằng cấp lại không có khả năng. Bậc chân tu thì không cần chức quyền, người thích chức quyền thì đâu gọi là chân tu. Những hạt giống tiêu cực từ xã hội ăn luồng vào Phật giáo như loại vi khuẩn giết người, nó đã giết uy tín của Phật giáo, nó biến các chức sắc Phật giáo thành những quan chức thế tục không cần lợi dưỡng mà cần danh vọng. Đức Phật nếu biết hàng trưởng tử của Ngài đều là Tiến sĩ, có lẽ Ngài không cần phải khổ công bỏ ngai vàng và suốt 49 năm truyền giảng giáo lý xuất sĩ để ngày nay biến thành Tiến sĩ.

    Ai đó đang manh tâm bảo vệ luận án Tiến sĩ một cách xuất sắc, thì hãy dừng lại, vì tiền cúng dường của bá tánh để các ngài tu tập, hướng dẫn quần chúng giải thoát khổ đau phiền não, và giúp đỡ bao bệnh nhân nghèo khó, những trẻ cần ăn học, những tu sĩ  nơi vùng xa đang thiếu thốn. Tu tập tự thân và phát triển phật sự  quan trọng hơn bằng Tiến sĩ giấy. Bằng Tiến sĩ  vượt cấp càng nhiều thì Phật giáo càng bị thu hẹp, tín đồ càng bị mất, không xa lắm, Phật giáo Việt Nam chỉ còn lại trên trang giáo sử với danh xưng là Phật giáo Tiến sĩ hay là đạo Phật Tiến sĩ chứ không còn là đạo Phật giải thoát. Hãy để những vị Tiến sĩ thực học, thực tài lãnh đạo giáo hội thì may ra tránh khỏi cơn khủng hoảng virus Tiến sĩ hiện nay.

    MINH MẪN
    24/9/2016

     

    Source TVHS

    Read more »
  • Chùa Liên Trì: Vị Hòa thượng trở về chứng kiến cảnh Chùa đổ nát

     

    Chùa Liên Trì

    Vị Hòa thượng trở về chứng kiến cảnh Chùa đổ nát  

    Vị Hòa Thượng thắp 3 nén nhang khấn vái Đức Phật, nơi trước đây là bàn thờ Đức Phật Thích Ca

    Hòa Thượng cùng vị Đại Đức Thích Đồng Tấn đến ngôi Chùa của mình đã bị phá hủy sáng ngày 17.09

    Ngôi Chùa Thầy Thích Không Tánh gắn bó 50 năm nay thành một đống đổ nát hoang tàn

    Thầy Thích Không Tánh vẫn chưa hết bàng hoàng về những gì đã xảy ra cho Chùa chỉ trong một ngày 08.09

    Thẫn thờ dò từng bước trên đóng gạch đổ nát, Thầy Thích Không Tánh tìm lại dấu vết xưa của Chùa

    Vị Hòa Thượng đã qua tuổi “Thất thập cổ lai hy” đau xót chứng kiến cảnh ngôi Chùa mà mình đã sống 50 năm qua, nay thành một đống hoang tàn đổ nát. Cảnh tượng thương tâm đập vào mắt thầy Thích Không Tánh vào sáng ngày 17.09, khiến Thầy một lần nữa lên cơn đau tim và không thể nói được gì nhiều.

    Sau khi tìm cách ra khỏi bệnh viện, do lực lượng an ninh trấn áp Thầy vào đó, trở về tạm trú tại Chùa Giác Hoa, thì đây là lần đầu tiên Thầy trở về lại ngôi Chùa của mình để tái xác quyết sự đê tiện mà nhà cầm quyền cộng sản vô thần đã gây ra cho Chùa vào sáng ngày 08.09.

     Toàn cảnh ngôi Chùa giờ là một đống đổ nát, ngổn ngang gạch vụn. Những cây thiêng của nhà Chùa đã bị chặt phá tang hoang. Bụi tre già ghi dấu ấn bao năm, nằm hiền hòa bên những dãy phòng ngủ giờ ra tan tác.

    Bằng cảm nhận linh thiêng, Thầy lần trên những đống gạnh vụn, tìm tới nơi từng là chánh điện, ngay bàn thờ Phật Thích Ca, thắp lên 3 nén nhang tỏ lòng thành kính trước Đức Phật.

    Tượng Phật nay không còn, bàn thờ bị đập phá, quỳ trên đống đổ nát, Thầy thành tâm khấn vái tạ tội cho những con người vô thần đã xúc phạm Đức Phật. Những kẻ vô thần chỉ có thể phá được Chùa, đạp đổ bàn thờ Phật nhưng không thể giết được Phật trong lòng Thầy. Hai hàng nước mắt rưng rưng, Thầy khấn vái trước Đức Phật hiện hữu trong bao la Đất Trời và cầu siêu cho các vong linh đã bị những kẻ vô thần xúc phạm.

    Bằng giọng xúc động nghẹn ngào Thầy nói: “nhà cầm quyền này quá ác tâm! Không còn gì hết. Tất cả chỉ còn đống đổ nát. Bằng mọi cách Thầy phải trở về đây để kính Phật. Thầy đã ở ngôi Chùa này 50 năm rồi. Giờ chẳng còn gì!”

    Thẫn thờ dò từng bước đi trên đổ đống đổ nát, Thầy tìm lại với những dấu ấn kỷ niệm xưa. Vừa chỉ tay vào đổ đổ nát vừa nói: “đây là phòng khách, kia là phòng ngủ, kia là nhà bếp….” Phút chốc trong một ngày không còn lại gì. Tất cả chỉ còn là một đống đổ nát như bị dội bom.

    Bầy chim bồ câu bắt được bóng dáng của vị ân sư, vội vã ríu rít gọi nhau bay về. Không còn mái Chùa để đậu, cũng không còn chuồng để trú, chúng đậu tạm trên những sợi dây điện. Bầy chim bồ câu này trước đây lên đến 100 con. Chúng được Thầy cho ăn, có nơi cư trú, sau khi Chùa bị phá chúng cũng chịu chung cảnh tan tác lạc đàn.

     Thầy hướng tay vẫy gọi đàn chim bồ câu và nói: “mấy Phật tử kể lại sau khi Chùa bị phá, những con chim bồ câu này bị chúng nó bắn, giết làm thịt. Giờ chỉ còn nhiêu đây!”

    Những con chim bồ câu mang biểu tượng của hòa bình đã bị bắn – giết…

     

    Pv. GNsP

    Read more »
  • THỰC HÀNH TỊNH HÓA - THAN TAM

    BÀI GIẢNG NGẮN VỀ THỰC HÀNH TỊNH HÓA
    Khenpo Sodargye giảng trong Pháp hội Kim Cương Tát Đỏa 2007
    Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ

    Lễ tán Đức Từ Phụ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật:

    Với tình thương lớn trong cõi trược, ác đấu,
    Phát năm trăm lời thệ nguyện thật rộng sâu
    Như sen trắng đẹp, nghe danh không thối chuyển
    Chí thành đỉnh lễ Đấng Từ Phụ Bổn Sư.[1]

    Thọ nhận ân phước gia trì nhanh chóng nhờ Đạo Sư Du Già:

    Từ thánh tích Ngũ Đài Sơn,
    Ân phước Diệu Cát Tường tan hòa vào tâm,
    Chí thành đỉnh lễ Đức Jigme Phuntsok,
    Xin ban tâm truyền và ân phước.

    Kyabje Jigme Phuntsok RinpocheLý do tôi thuyết giảng hôm nay là bởi, trong số những người tham dự Pháp hội Kim Cương Tát Đỏa và đang nỗ lực thực hành tịnh hóa, phần lớn chưa biết đến Pháp tu căn bản về tịnh hóa ác nghiệp và tính cấp thiết của nó. Nếu đúng như vậy, dù cho các bạn có lặp lại nhiều lần các Mật chú, kết quả cũng không phát huy tác dụng. Vì thế, tôi sẽ giới thiệu ngắn gọn về Pháp tu tịnh hóa Kim Cương Tát Đỏa.

    I. TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC TỊNH HÓA ÁC NGHIỆP

    Kinh Đại Thừa Địa Tạng Thập Luân nói rằng, theo giáo lý của Đức Phật, có hai kiểu người không làm ác: kiểu đầu tiên là những người không bao giờ làm những ác hạnh, họ được gọi là những vị thiết lập ngọn cờ Phật giáo; kiểu thứ hai là những người sau khi phạm phải hành vi sai lầm, đã sám hối và tịnh hóa ác hạnh với sự hối hận, họ được gọi là những người phá hủy ngọn cờ của Ma vương. Họ đều có thể được gọi là những vị nắm giữ Phật giáo hay những bậc tịnh hóa sở hữu lòng dũng cảm.

     

    Đức Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche nhiều lần nói với chúng ta rằng, là một hành giả Phật giáo, tốt nhất là tránh mọi kiểu hành động xấu xa từ nhỏ. Trong thời đại mà Giáo Pháp đang suy giảm, thật khó để làm vậy. Trước và sau khi quy y, hành giả cư sĩ đã phạm phải các ác hạnh về thân – sát sinh, trộm cắp và tà dâm, các ác hạnh về khẩu – nói dối, nói lời ác nghiệt, nói lời vô nghĩa và gieo mối bất hòa và các ác hạnh về ý – tham lam, muốn làm hại người khác, hủy báng Phật giáo, phá hủy các đại diện vật lý của Tam Bảo, phạm nhiều Biệt giải thoát giới, Bồ Tát giới và Mật giới. Thậm chí chúng tôi, là những vị Tăng và Ni, cũng vô tình hay cố ý phạm nhiều giới luật bởi những cảm xúc phiền não và thói quen tập khí tích lũy từ vô thủy. Dù chúng ta có nhớ hay không, những ác hạnh mà chúng ta đã làm thì khá nhiều. Vì thế, thật khó để trở thành kiểu người đầu tiên. Bởi vậy, chúng ta cần mong muốn trở thành kiểu thứ hai – những người đã làm ác nhưng mong muốn sám hối và tịnh hóa nhờ Đức Kim Cương Tát Đỏa. Đây là tính cấp thiết của việc tịnh hóa ác nghiệp.

    Chúng ta có thực sự cần phải sám hối và tịnh hóa? Câu trả lời là chắc chắn! Đặc biệt, những người sống ở thành phố đã tích lũy nhiều ác nghiệp và nếu bây giờ họ không tịnh hóa, tác động của những hành động gây hại sẽ theo họ và rất có thể dẫn họ đến các đọa xứ, như địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh và sẽ chẳng có cơ hội nào để giải thoát khỏi khổ đau. Bởi thế, chúng ta đều phải sám hối và tịnh hóa và hiểu được tính cấp thiết của sự tịnh hóa.

    II. NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC HÀNH TỊNH HÓA

    Sự thật rằng chúng ta đã bước vào thực hành tịnh hóa Kim Cương Tát Đỏa trong chính cuộc đời này là bằng chứng cho thấy phước báu lớn lao. Những vị đã tìm hiểu về Kinh Bách NghiệpKinh Hiền Ngu sẽ biết rằng trong những Kinh này, mặc dù sự sám hối và tịnh hóa miên mật trong khắp các đời, những người đã làm các ác hạnh không thể tịnh hóa mọi ác nghiệp của họ và ác nghiệp sẽ vẫn chín muồi trong đời sau. Tại sao vậy ? Bởi họ chưa gặp được một đối tượng đặc biệt mạnh mẽ để chứng minh cho sự sám hối của họ.

    Nghi quỹ tịnh hóa Kim Cương Tát Đỏa là thực hành cực kỳ mạnh mẽ. Trong Mật Điển Sự Hợp Nhất Của Tâm Bí Mật có đoạn, “Về Mật chú sáu âm của Đức Kim Cương Tát Đỏa, tinh túy của chư Phật ba đời, những ai lắng nghe tên gọi của Mật chú cho thấy rằng họ đã thực hiện những thiện hạnh trước nhiều vị Phật khác nhau, và họ sẽ sinh về cõi giới của Đức Kim Cương Tát Đỏa. Họ sẽ thọ nhận ân phước của chư Phật và sẽ lĩnh hội được giáo lý Đại thừa, sở hữu những phẩm tính siêu phàm, bao gồm cái nhìn của trí tuệ hoàn hảo và họ sẽ trở thành trưởng tử của Phật”. Vì thế, biết đến thực hành thanh tịnh như vậy, chúng ta thực sự đã có phước báu lớn lao.

    Trong thực hành này, tôi hy vọng các bạn có thể đặt một bức tượng/hình Đức Kim Cương Tát Đỏa phía trước mặt và lặp lại Mật chú khi bạn quán tưởng. Sức mạnh của Mật chú Kim Cương Tát Đỏa là vô biên. Thậm chí nếu bạn không thể quán tưởng Đức Kim Cương Tát Đỏa, sức mạnh của sự trì tụng cũng tích lũy được vô lượng công đức. Nhưng nếu bạn có thể quán tưởng rõ ràng, sẽ lợi lạc hơn nhiều.

    Lúc này, tại đây – nơi thung lũng Larong, chúng ta có thể nghe thấy âm thanh của Mật chú Kim Cương Tát Đỏa khắp nơi. Đây cũng là ân phước của chư Phật và Bồ Tát cũng như Đức Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche. Nhiều người đang nhất tâm cầu nguyện đến Đức Kim Cương Tát Đỏa. Với cá nhân họ, điều này có thể tịnh hóa ác nghiệp từ vô thủy ; với cả thế giới, thực hành này có tác động lớn lao trong việc duy trì hòa bình thế giới. Các cảm xúc tiêu cực của hữu tình chúng sinh, xung đột giữa con người, chiến tranh giữa các quốc gia, tất cả đều có thể được tiêu trừ nhờ âm thanh của Mật chú này.

    III. TẠI SAO PHÁP TU TỊNH HÓA KIM CƯƠNG TÁT ĐỎA CÓ THỂ TỊNH HÓA ÁC NGHIỆP VÀ CHE CHƯỚNG?

    Tại sao Mật chú này có thể tịnh hóa ác nghiệp và che chướng của chúng ta ? Trong Mật Điển Chuyển Hóa Phẫn Nộ Ba Phần Của Kim Cương Tát Đỏa có nói, “Trì tụng Mật chú Kim Cương Tát Đỏa 100 000 lần thậm chí có thể tịnh hóa những Mật giới gốc bị hủy phạm”. Khi nói rõ điểm này, Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche nói rằng, “Nếu những người trong quá khứ trì tụng 100 000 lần Mật chú, trong thời đại suy đồi, chúng ta cần nhân lên bốn lần, nghĩa là cần trì tụng 400 000 lần”. Trong Mật thừa Phật giáo, lỗi lầm nghiêm trọng nhất là sự vi phạm các Mật giới. Nếu lỗi lầm như vậy có thể được tịnh hóa thì tất cả những ác hạnh khác đều có thể được tịnh hóa. Như Kinh điển thường nói, “Những lỗi lầm nghiêm trọng nhất được tạo ra trong suốt một nghìn kiếp có thể được tịnh hóa trong một thời khóa thực hành tịnh hóa, khi mà hành giả hết sức nỗ lực”.

    Vài người có thể nói rằng, “Tôi đã phạm phải ác hạnh ghê gớm khi còn là ngoại đạo – sát sinh, cãi cọ, nói xấu Phật Pháp, tà kiến hay tương tự. Liệu có còn cơ hội tịnh hóa chúng?”. Với sự xác quyết, chắc chắn có thể tịnh hóa chúng. Động cơ là điều quan trọng. Không chỉ Phật giáo tuyên bố như vậy, nhiều nhà tâm lý và nhà khoa học về y khoa cũng tin tưởng điều này là đúng. Ví dụ, khi nhiều người cùng nhau trì tụng những đoạn kệ cát tường, nó có ảnh hưởng đến sự phát triển của mọi vật trên thế gian. Một nhà khoa học Hoa Kỳ phát hiện sau nhiều năm nghiên cứu rằng, với cùng một đối tượng, chẳng hạn một bông hoa,  nếu một người nói những lời lăng mạ, chẳng mấy chốc nó sẽ héo rũ, trong khi nếu người đó nói những lời yêu thương, nó sẽ bền lâu hơn. Người Nhật cũng khám phá ra rằng, với cùng kiểu nước, nếu ai đó tán dương nó liên tục, sự kết tinh của nó sẽ mang hình tướng một bông sen, trong khi nếu ai đó nói lời cay nghiệt, sự kết tinh sẽ mang hình tướng xấu. Vì thế, nếu chúng ta trì tụng Mật chú với sự hối hận mạnh mẽ, bất cứ ác nghiệp nào cũng có thể được tiêu trừ. Đây không nên là một vấn đề.

    Có một lý do khác. Kim Cương Tát Đỏa là một vị Phật. Khi còn là một Bồ Tát, ngài phát đại nguyện rằng, “Nguyện cầu con hiện diện trước mọi chúng sinh, những kẻ đã tích lũy ác nghiệp nặng nề và nếu ai trì tụng Mật chú của con mà không thể tịnh hóa ác nghiệp, con nguyện chẳng thành Phật”. Sau đấy, đại nguyện của ngài trở thành thật và ngài đạt giác ngộ và trụ trong cõi Tịnh độ.

    Từ đó, chúng ta có thể thấy rằng, Mật chú Kim Cương Tát Đỏa khác với danh hiệu của các vị Phật khác. Mặc dù hồng danh của Phật A Di Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật Dược Sư đều tuyệt diệu, [chúng có tác dụng khác nhau bởi] những đại nguyện khác biệt của từng vị Phật. Điều đó giống với những cử nhân đại học có những lĩnh vực chuyên môn khác nhau. Vị Phật hữu hiệu nhất trong việc giúp đỡ chúng ta tịnh hóa che chướng và ác nghiệp là Kim Cương Tát Đỏa. Đó cũng là lý do khiến chúng ta cần cầu nguyện đến ngài.

    Vì thế, chúng ta có thể biết rằng, trì tụng 400 000 lần Mật chú Kim Cương Tát Đỏa có thể tịnh hóa ác hạnh được tích lũy trong quá khứ. Đức Kim Cương Tát Đỏa cũng phát nguyện về điều này và nhờ sức mạnh của những đại nguyện đó, ác nghiệp của chúng ta dứt khoát sẽ được tịnh hóa, giống như sức mạnh của đại nguyện của Phật A Di Đà có thể giúp chúng ta vãng sinh Cực Lạc nhờ trì tụng hồng danh của ngài. Bởi vậy, chúng ta cần lưu tâm đến đại nguyện tuyệt vời này của Đức Kim Cương Tát Đỏa.

    IV. PHƯƠNG PHÁP TỊNH HÓA

    Chúng ta thực hành tịnh hóa bằng cách áp dụng bốn phương pháp đối trị. Kinh Tứ Pháp Huấn nói rằng, “Khi một vị Bồ Tát áp dụng bốn sức mạnh đối trị, mọi ác hạnh tích lũy đều có thể được tịnh hóa. Bốn sức mạnh đối trị này là gì? Chúng là sức mạnh của sự hối hận đã làm sai, sức mạnh của hành động như là phương thuốc, sức mạnh của sự quyết tâm và sức mạnh của sự hỗ trợ”. Điều này được Tổ Longchenpa nhắc đến trong An Trú Rời Xa Hư Huyễn, vì thế tôi sẽ không đi sâu vào chi tiết về bốn sức mạnh này. Để tìm hiểu thêm về chủ đề này, các bạn có thể tham khảo Lời Vàng Của Thầy TôiBình Giảng Về Lời Cầu Nguyện Cực Lạc, trong đó, các bạn sẽ tìm được giáo lý chi tiết.

    Nương tựa vào sức mạnh của ân phước từ Đức Kim Cương Tát Đỏa và sự sám hối và tịnh hóa của chính chúng ta, chúng ta chú tâm vào việc trì tụng Mật chú trong vài ngày này. Nhiều người đến đây tham dự Pháp hội. Mặc dù chúng tôi không thông báo chính thức về Pháp hội, các bạn đã vân tập về đây bởi lòng quyết tâm của bản thân. Điều này có ý nghĩa lớn lao. Tại sao? Bởi cuộc đời là vô thường, và không tham gia Pháp hội Kim Cương Tát Đỏa này, chúng ta có thể sẽ chết mà chưa tịnh hóa những ác nghiệp, thứ tiếp tục ở trong dòng tâm thức. Khi chúng chín muồi, chúng ta sẽ chẳng bao giờ giải thoát khỏi luân hồi và điều này thực sự đáng sợ. Thứ xuất hiện chỉ là một Pháp hội cầu nguyện, thực sự, là cơ hội để mỗi người chúng ta tịnh hóa ác nghiệp. Giống như một ngọn lửa thiêu cháy hạt giống, với sự áp dụng bốn sức mạnh đối trị, ác nghiệp trong quá khứ đều sẽ bị thiêu rụi và dòng tâm thức sẽ được tịnh hóa.

    Vậy làm sao chúng ta thực hành tịnh hóa? Đầu tiên, chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta đã sai. Dù điều này nghĩa là chúng ta đã sát sinh trong quá khứ hay chúng ta đã phạm giới, ta vẫn cần cảm thấy một sự hối hận mạnh mẽ, giống như khi ta cảm thấy sau khi uống thuốc độc (sức mạnh của việc hối hận đã làm sai). Từ thời khắc này trở đi, dù tính mạng nguy hiểm, chúng ta sẽ không bao giờ tái phạm nữa. Nếu chúng ta có được kiểu quyết tâm này, ác nghiệp sẽ được tẩy trừ. Nếu thực sự không thể làm vậy, chúng ta cần cố gắng hết sức bỏ ác và làm lành (sức mạnh của sự quyết tâm). Sau đó, nương tựa sức mạnh của Đức Kim Cương Tát Đỏa, chúng ta cần sám hối và tịnh hóa một cách thành tâm (sức mạnh của sự hỗ trợ). Khi chúng ta thực hành tịnh hóa, tốt nhất là đặt một bức tượng/hình của Đức Kim Cương Tát Đỏa phía trước và quán tưởng Đức Kim Cương Tát Đỏa phía trước khi sám hối và tịnh hóa: “Con (nói tên mình) đã phạm phải những ác hạnh như vậy vào thời điểm như vậy …”. Các bạn cần sám hối các ác hạnh mà bạn đã phạm phải, lần lượt từng điều, và nương nhờ ân phước gia trì của Đức Kim Cương Tát Đỏa, mọi ác hạnh sẽ được tiêu trừ (sức mạnh của hành động như là thuốc chữa trị).

     

    V. QUÁN TƯỞNG

     

    Một sự giảng giải chi tiết về từng bước quán tưởng có thể được tìm thấy trong Lời Vàng Của Thầy Tôi: hãy quán tưởng Đức Kim Cương Tát Đỏa thân trắng trên thân tướng bình phàm của chúng ta. Khi chúng ta trì tụng Mật chú trăm âm, cơn mưa cam lồ rơi xuống và tịnh hóa dòng tâm thức của chúng ta. Sau đấy, hãy quán tưởng Đức Kim Cương Tát Đỏa tan vào chúng ta và thân thể chúng ta phóng ánh sáng cúng dường và tịnh hóa. Cuối cùng, toàn thể vũ trụ tan hòa vào chúng sinh bên trong – Đức Kim Cương Tát Đỏa của năm gia đình. Sau đấy, lần lượt, các vị tan thành ánh sáng và tan vào chúng ta và kế đó, hãy quán tưởng chúng ta tan vào Pháp giới. Hãy an trú trong trạng thái này một lúc. Khi những ý niệm khởi lên, hãy thấy rõ ràng rằng toàn thể vũ trụ và chúng sinh bên trong là sự hiển bày tuyệt vời của Đức Kim Cương Tát Đỏa.

    Hôm nay, tôi sẽ giới thiệu sơ qua về Nghi Quỹ Thực Hành Tịnh Hóa Kim Cương Tát Đỏa – Như Ý Bảo Châu của Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche. Pháp tu này khá đơn giản. Với những người chưa bao giờ thực hành giai đoạn phát triển và thành tựu, quán tưởng một vị Phật hợp nhất cùng vị phối ngẫu trong các pháp tu sâu xa với ý nghĩ bất tịnh là điều khá có cơ sở. Theo các bước trong thực hành Mật thừa, chúng ta cần bắt đầu từ Ngoại Mật, và quán tưởng một vị Phật đơn; khi chúng ta trở nên thiện xảo hơn trong sự quán tưởng, chúng ta cần bắt đầu thực hành giai đoạn phát triển và hoàn thiện một cách dần dần, trước khi bước vào các thực hành cao cấp hơn.

    Xét đến sự thật rằng phần lớn các bạn là người mới, tốt nhất là quán tưởng như sau:

    Trong khoảng không phía trước chúng ta, với những đám mây trắng bồng bềnh trôi, hãy quán tưởng một bông sen trắng, trên đó là đĩa mặt trăng. Ngự bên trên là Đức Kim Cương Tát Đỏa đơn: thân ngài màu trắng, ngài ngồi trong tư thế kim cương, cầm chuông và chày, toàn thân được điểm tô bằng mười ba trang sức của Báo thân Phật. Như thế, Đức Kim Cương Tát Đỏa, trong hình tướng cao quý, phóng ánh sáng trắng.

    Dĩ nhiên, trong vài pháp tu, cần phải quán tưởng Đức Kim Cương Tát Đỏa trên đỉnh đầu. Trong pháp tu này, chúng ta quán tưởng ngài phía trước mặt. Thông thường, khi trì tụng hồng danh Phật A Di Đà, chúng ta quán tưởng ngài phía trước mặt, nhưng theo một số nghi quỹ Mahayoga và Anuyoga trong Mật thừa, cần phải quán tưởng trên đỉnh đầu. Điều này đúng với một số pháp tu Vô Lượng Quang Phật.

    Là người mới, chúng ta cần quán tưởng Đức Kim Cương Tát Đỏa ngự phía trước mặt, mỉm cười từ ái hướng về chúng ta, nhìn chúng ta với lòng bi mẫn, đôi mắt trí tuệ của ngài đang dõi theo những chúng sinh đáng thương trong một tỷ vũ trụ. Sau khi quán tưởng như vậy, hãy cầu nguyện với niềm tin trước sự chứng minh của ngài, và trì tụng Mật chú của ngài. Có nhiều cách trì tụng Mật chú: ví dụ, bạn có thể trì tụng khi quán tưởng câu chú quay tròn hay phóng ánh sáng. Bạn có thể tụng chú như một cách thức cầu nguyện. Bạn cũng thể niệm hồng danh của ngài. Không nhiều người biết cách [quán tưởng] thần chú phóng ánh sáng hay quay tròn. Đây không phải vấn đề lớn. Cứ nhất tâm tụng “Om Vajra Sattva Hum, Om Vajra Sattva Hum” trước ngài, trong khi nhớ và sám hối từng lỗi lầm mà bạn đã phạm. Sau đó, Đức Kim Cương Tát Đỏa phóng ánh sáng – cúng dường và tịnh hóa. Tiếp đấy, ánh sáng và Đức Kim Cương Tát Đỏa tan vào chúng ta và các ác hạnh được tích lũy từ vô thủy của chúng ta được tịnh hóa. Cuối cùng, hãy hồi hướng và trì tụng những lời cầu nguyện cát tường.

    Có vài người nghĩ rằng Pháp tu Kim Cương Tát Đỏa cũng phức tạp và họ chẳng quán tưởng được. Hôm nay, tôi sẽ trao cho các bạn một thực hành đơn giản – Như Ý Bảo Châu do Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche soạn. Đầu tiên, các bạn cần quy y và phát Bồ đề tâm; sau đó, hãy quán tưởng Đức Kim Cương Tát Đỏa phía trước mặt, phóng ánh sáng khắp mười phương, rồi mọi thứ tan vào bạn, và mọi chúng sinh đều biến thành Đức Kim Cương Tát Đỏa. Duy trì trong trạng thái này sau khi bạn hồi hướng công đức.

    Thực sự, Pháp tu này khá đơn giản. Với những người không có nền tảng vững chắc trong các thực hành sâu xa của Mật thừa, quán tưởng Kim Cương Tát Đỏa [theo nghi quỹ này] là đủ. Một bản văn Terma mà Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche phát lộ trong Hồ Sen Ngọc nói rằng, Pháp tu Kim Cương Tát Đỏa này sẽ đem lại vô số lợi lạc cho chúng sinh. Bởi các bạn đều đã đến đây, hãy khắc ghi điều này trong khi trì tụng Mật chú Kim Cương Tát Đỏa. Đây cũng là một trong những giáo lý mà Kyabje Jigme Phuntsok Rinpoche để lại cho chúng ta.

    Thời nay, chẳng cần thực hành các nghi quỹ khác. Mipham Rinpoche dạy rằng, “Chakrasamvara [Thượng Lạc Kim Cương], Hevajra [Kim Cương Hỷ], Guhyasamaja [Mật Tập Kim Cương], Kalachakra [Thời Luân Kim Cương], Heruka, Vajrakilaya [Phổ Ba Kim Cương] … tất cả đều là sự hiển bày của Đức Kim Cương Tát Đỏa, sự hợp nhất của chư Phật ba đời và mười phương, và mọi Mật chú bí mật và công truyền đều nằm trọn trong Mật chú sáu âm”. Vì vậy, trì tụng Mật chú Kim Cương Tát Đỏa giống như trì tụng Mật chú của Đức Vô Lượng Quang, Phật Thích Ca Mâu Ni và các vị Phật khác. Trì tụng Mật chú của ngài thực sự là trì tụng mọi Mật chú. Vài giáo lý cũng nói rằng, tốt nhất là trì tụng Mật chú trăm âm. Nếu bạn thực sự chẳng thể trì tụng như vậy, bạn có thể thay thế bằng Mật chú sáu âm của ngài.

    Vì thế, đây là cơ hội rất quý giá. Tôi hy vọng tất cả có thể nhất tâm tụng niệm. Bạn cần giữ sự trì tụng tiếp tục khi quay trở về. Mặc dù bạn bè và người thân của bạn không tham dự Pháp hội lần này, nếu họ có thể hoàn thành túc số 400 000 tại nhà, điều đó cũng giúp họ tích lũy công đức giống như thực sự tham dự Pháp hội. Về những tình nguyện viên đang làm việc ở đây, các bạn không nên từ bỏ công việc tình nguyện của mình, nhưng với những người khác, chẳng có điều gì quan trọng hơn. Chúng ta cần sám hối và tịnh hóa một cách thành tâm. Kẻ phàm phu tích lũy ác nghiệp nhiều như Núi Tu Di. Họ không thể không có bất cứ ác nghiệp nào. Chỉ nhờ tịnh hóa nhờ Mật chú Kim Cương Tát Đỏa, chúng ta mới có thể giải thoát. Nếu không, điều xảy đến sau khi chết sẽ rất đáng sợ.

    Bây giờ, tôi sẽ trao truyền cho các bạn Mật chú trăm âm và Mật chú sáu âm của Đức Kim Cương Tát Đỏa:

    Mật chú trăm âm

    OM VAJRASATTVA SAMAYA MANUPALAYA VAJRASATTVA TENOPA TISHTHA DRIDHO ME BHAWA SUTOKHAYO ME BHAWA SUPOKHAYO ME BHAWA ANURAKTO ME BHAWA SARWA SIDDHI ME PRAYACCHA SARWA KARMA SU TSA ME TSITTAM SHREYANG KURU HUNG HA HA HA HA HO BHAGAWAN SARWA TATHAGATA VAJRA MA ME MUNCA VAJRI BHAWA MAHA SAMAYASATTVA AH.

    Mật chú sáu âm

    OM VAJRA SATTVA HUM, OM VAJRA SATTVA HUM…

    Ok. Bây giờ cũng đã muộn và Pháp hội ngày mai bắt đầu khá sớm, tôi sẽ kết thúc ở đây. Hãy cùng hồi hướng công đức!

    Nguyên tác Anh ngữ: Brief Discourse in Purification Practice (http://www.khenposodargye.org/2013/03/brief-discourse-in-purification-practice-2/)
    Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.
    Mọi sai sót là lỗi của người dịch. Xin thành tâm sám hối trước Tam Bảo, Tam Gốc.
    Mọi công đức có được, dù nhỏ bé, xin hồi hướng cho tất thảy bà mẹ chúng sinh đang trôi lăn trong biển khổ luân hồi.

    SOURCE: TVHS

    Read more »
  • Tiểu Tăng Đang Cần Sửa.

    Chùa hiện nay có trên hờn 20 em nhõ, không cha không mẹ, chúng sanh, Sanh đẽ đem đên cổng chùa treo ở đó. Công việc cũng rất hoan hỹ cho các NI ở đây trong các em nhõ. CHÙA RẤT CẦN PHƯƠNG TIỆN. KÍNH MONG QUÝ PHẬT TỬ GẦN XA HOAN HỸ, nghĩ đến những chúng sanh, không cha mẹ, sau nay lớn lên tiếp tục con đướng HOÀNG PHÁP LỢI SANH.

    -----------------------------------o0o----------------------------------------

     

    LIÊN LẠC

     

    NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

     

    Chùa Tọa Lạc: Mỹ Hóa-Cát Hanh-Phù Cát, Bình Định ĐT: 0979175457 . Sư Cô Minh Tâm

     

    E-mail:info@niemphatduong.com

     

     

    ------------------------------------o0o----------------------------------------

    Read more »
  • Bốn Pháp Ấn

     

    Bốn Pháp Ấn

     

    Bốn pháp ấn đề cập ở trên có nhiều hàm ý sâu xa cho một hành giả Phật giáo. Pháp ấn đầu tiên tuyên bố rằng tất cả mọi hiện tượng cấu hợp là vô thường. Câu hỏi về vô thường trình bày chi tiết một cách trọn vẹn nhất trong Kinh Lượng Bộ[1], trong ấy giải thích rằng tất cả mọi hiện tượng cấu hợp là vô thường một cách bản chất, trong ý nghĩa rằng do sự sinh khởi từ một nguyên nhân thì một hiện tượng là không bền vững và đang [tiếp tục] bị phân rã. Nếu sự vật nào đấy được sinh khởi từ một nguyên nhân, thì không đòi hỏi có thêm nguyên nhân thứ cấp nào để cho nó tan rã. Ngay tại thời khắc mà nó được sản sinh từ một nguyên nhân, thì tiến trình tan rã đã bắt đầu rồi. Do thế, sự hoại diệt của nó không đòi hỏi một nguyên nhân nào thêm. Đây là ý nghĩa vi tế của vô thýờng rằng bất cứ thứ gì được sản sinh bởi các nguyên nhân đều là do ‘năng lực khác’ [y tha], trong ý nghĩa rằng nó lệ thuộc vào các nhân và duyên và do vậy phải chịu thay đổi và hoại diệt.

    Điều này rất gần với sự giải thích của vật lý học về tự nhiên, tính tạm thời chóng vánh của các hiện tượng.

    Pháp ấn thứ hai tuyên bố rằng tất cả mọi hiện tượng ô nhiễm đều có bản chất khổ đau. Ở đây những hiện tượng ô nhiễm là loại pháp mà được sản sinh bởi những hành vi ô nhiễm hay những cảm xúc xáo trộn. Như được giải thích ở trên, sự vật nào đó được phát sinh bởi ‘y tha’ trong ý nghĩa là nó tùy thuộc vào các nguyên nhân. Trong trường hợp này, các nguyên nhân là vô minh và những cảm xúc xáo trộn. Những hành vi ô nhiễm và vô minh cấu trúc thành một hiện tượng tiêu cực, một nhận thức sai lạc về thực tại, và chừng nào một sự vật nào đó còn chịu một tác động tiêu cực như vậy, nó sẽ có bản tính khổ đau. Ở đây, khổ đau không chỉ bao hàm đau khổ thể chất rõ ràng, mà cũng có thể được hiểu như bản tính của sự không toại ý.

    Bằng việc quán chiếu hai pháp ấn này vốn quan tâm đến vô thường và bản tính khổ đau của những hiện tượng ô nhiễm, chúng ta có thể phát triển một ý tưởng chân thành về việc từ bỏ thế tục, sự quyết tâm để giải thoát khỏi khổ đau [viễn ly chúng khổ quy viên tịch]. Thế rồi câu hỏi phát sinh, chúng ta có thể đạt đến một thể trạng giải thoát như thế không? Đây là chỗ mà pháp ấn thứ ba đề cập, rằng tất cả mọi pháp là Không và vô ngã [chư pháp vô ngã].

    Những trải nghiệm đau khổ đến do nhân duyên, vốn là những hành vi ô nhiễm và vô minh dẫn xuất nên chúng. Vô minh này là nhận thức sai lầm. Nó không có sự hỗ trợ hiệu lực, và bởi vì nó nắm bắt các pháp trong phương thức trái với cung cách mà chúng thực sự là, nó bị bóp méo, sai lạc và mâu thuẩn với thực tại. Bây giờ, nếu chúng ta có thể xua tan nhận thức sai lạc, sự chấm dứt (khổ đau) trở nên có thể đạt được. Nếu chúng ta thấu suốt được bản chất của thực tại, thì điều ấy cũng khả dĩ đạt được sự đoạn diệt này nội trong tâm thức chúng ta và như pháp ấn thứ tư tuyên bố, một sự diệt tận hay giải thoát như thế là an hòa chân thật.

    Khi chúng ta xem xét đến những giải thích dị biệt của nhiều trường phái khác nhau trong Phật giáo, kể cả các trường phái đại thừa, điều cần thiết là việc phân biệt kinh điển nào liễu nghĩa và kinh điển nào đòi hỏi những sự diễn giải sâu xa hơn [bất liễu nghĩa]. Nếu chúng ta tiến hành những sự phân biệt này trên căn bản của những kinh điển đơn thuần, chúng ta sẽ phải kiểm định kinh điển mà chúng ta sử dụng cho việc xác minh một điều nào đấy là bất liễu nghĩa hay là liễu nghĩa trong một kinh điển khác, và bởi vì điều này có thể tiếp tục trong một sự truy cứu ngược vô hạn, nên nó sẽ không là một phương pháp đáng tin cậy. Do thế, chúng ta phải quyết định một kinh điển là liễu nghĩa hay bất liễu nghĩa trên căn bản của luận lý học [logic]. Vậy, khi chúng ta nói về các trường phái triết lý đại thừa, lập luận là quan trọng hơn kinh điển.

    Làm thế nào chúng ta có thể xác định điều gì đấy là bất liễu nghĩa hay không? Có nhiều loại kinh điển thuộc loại bất liễu nghĩa, thí dụ, những kinh điển cụ thể đề cập rằng cha mẹ một người nào đó nên bị giết đi. Bây giờ, vì những kinh điển này không thể được hiểu theo nghĩa đen, theo giá trị bề mặt, chúng đòi hỏi một sự diễn giải xa hơn. Sự tham chiếu ở đây đến cha mẹ là những hành vi ô nhiễm và dính mắc mà chúng sẽ mang đến sự tái sinh trong tương lai.

    Tương tự như thế, trong mật điển như Bí Mật Tập Hội[2], đức Phật nói rằng Như Lai hay Phật là nên bị giết và rằng nếu quý vị giết Phật, quý vị sẽ đạt đến giác ngộ tối thượng. Rõ ràng các kinh điển này đòi hỏi những sự diễn giải xa hơn. Tuy thế, những kinh điển khác không mấy hiển nhiên là bất liễu nghĩa. Bản kinh giải thích các trạng thái của thập nhị nhân duyên khởi lên do bởi nguyên nhân mà các thành quả xảy ra sau đó. Một thí dụ là do bởi vô minh nội tại, những hành vi ô nhiễm xảy đến. Mặc dù nội dung của những kinh điển loại này là chân thật trên một trình độ, nó lại được phân loại như bất liễu nghĩa, bởi vì khi vô minh được nói là gây ra hành vi ô nhiễm, thì nó không chỉ ra quan điểm tối hậu. Nó chỉ thuộc về mức độ quy ước của thế gian rằng một điều gì đấy có thể sản sinh một điều gì khác hơn. Từ quan điểm tối hậu, bản chất của nó là Không. Do thế, bởi vì có một cấp độ xa hơn, sâu hơn không được chỉ ra trong những kinh điển này, chúng được gọi là bất liễu nghĩa.

    Những kinh điển liễu nghĩa, như Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh, là các kinh mà trong đấy đức Phật nói về bản tính tối hậu của các pháp, đấy là sắc chính là Không và Không chính là sắc; xa rời sắc, thì chẳng có Không. Bởi vì những kinh điển như thế nói về bản tính tối hậu của các pháp, về cơ chế tối hậu của sự tồn tại, về tính Không, nên chúng được gọi là liễu nghĩa. Tuy nhiên, chúng ta cũng nên chú ý rằng có nhiều cách phân biệt giữa những kinh điển liễu nghĩa và bất liễu nghĩa trong những trường phái tư tưởng khác nhau của Phật giáo.

    tongquan-07
    Tổ Long Thọ

    Tóm lại, những luận điển của trường phái Trung Quán Cụ Duyên[3], đặc biệt những tác phẩm của Long Thọ và hậu duệ là Nguyệt Xứng, là liễu nghĩa và giải nghĩa chi tiết khái niệm tính Không của đức Phật đã dạy đến phạm vi tròn đủ nhất. Khái niệm về tính Không được giải thích trong những luận điển này không mâu thuẩn với luận lý học, mà đúng hơn là được hỗ trợ bởi nó.

    Trong các kinh điển liễu nghĩa cũng bao gồm những kinh điển giáo thuyết thuộc lần chuyền pháp luân thứ ba, một cách đặc biệt Kinh Như Lai Tạng thật sự là cội nguồn nền tảng của các giáo pháp Trung Đạo như là Tối Thượng Luận  Tán Dương Tập[4] của Long Thọ. Cũng bao gồm trong lần chuyển pháp luân thứ ba là những kinh điển khác như kinh Giải Thâm Mật, theo một số đạo sư Tây Tạng cũng thuộc loại liễu nghĩa.

    Những học giả này (như những học giả trường phái Jonangpa[5]) duy trì một quan điểm riêng biệt về tính Không, điều ấy được gọi một cách kỹ thuật là “tính Không của cái khác” [tha Không tính], và họ nói về những loại tính Không khác nhau phẩm định trên các pháp khác nhau. Họ cho rằng những hiện tượng quy ước [thế gian pháp] là tự chúng là Không và các hiện tượng tối hậu [xuất thế gian pháp] là thiếu vắng những hiện tượng quy ước.

    Quý vị có thể diễn dịch lời giải thích này về tính Không rằng những hiện tượng quy ước tự chúng là thiếu vắng chính mình, có nghĩa rằng bởi vì những hiện tượng quy ước không phải là bản chất tối hậu của các hiện tượng đó, nên chúng là tự thiếu vắng chính chúng. Tuy nhiên, những nhà học giả Tây Tạng này không diễn giải trong một phương thức như vậy; họ cho rằng bởi vì các hiện tượng là tự chính chúng là thiếu vắng chính mình, nên chúng không không tồn tại.

     

    tongquan-08
    Tổ Thánh Thiên

    Như chúng ta biết qua lịch sử rằng nhiều đạo sư thuộc nhóm các học giả này thật sự đạt đến những thực chứng cao siêu của các tầng bậc phát khởi và các tầng bậc hoàn tất của Mật thừa, nên họ phải có một sự thông hiểu thậm thâm về sự diễn giải đặc thù của họ đối với tính Không. Nhưng nếu chúng ta diễn dịch tính Không như những sự vật tự thiếu vắng chính mình theo kiểu cách như thế nên chúng hoàn toàn không hiện hữu, điều đó sẽ giống như nói rằng không có gì tồn tại cả.

    Bởi vì họ xác nhận rằng những pháp thế gian không hiện hữu, tự chúng là thiếu vắng chính mình, họ cho rằng bản chất tối hậu của chúng là một hiện tượng tồn tại thật sự mà vốn tồn tại theo cách riêng của nó, là sự tồn tại tự tính. Và khi họ nói về tính Không của chân lý tối hậu [chân đế] này này, họ chỉ đến tính Không của nó trong hiện trạng của một pháp thế gian.

    Pháp Thắng[6], con trai của Yumo Mingyur Dorje[7], một trong những người đề xướng quan điểm này, khẳng định trong một bài văn, tôi đã có lần đọc qua rằng quan điểm của Long Thọ về tính Không là một khái niệm hư vô luận.

    Do thế, những hệ thống tư tưởng này bảo vệ rằng vì pháp thế gian là tự trống rỗng, nên một thứ duy nhất tồn tại là chân lý tối hậu và rằng chân lý tối hậu tồn tại một cách chân thật và tự tính.

    Rõ ràng rằng sự trung thành với một quan điểm triết lý như vậy trực tiếp mâu thuẩn khái niệm về tính Không được giải thích trong Kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa, trong ấy đức Phật đã tuyên bố một cách dứt khoát và rõ ràng rằng đối với bản chất Không, không có sự phân biệt giữa những hiện tượng quy ước [tục đế] và hiện tượng tối hậu [chân đế]. Ngài đã giải thích tính Không của các hiện tượng tối hậu bằng việc sử dụng những đồng nghĩa khác nhau cho chân lý tối hậu, chỉ ra rằng từ sắc cho đến toàn giác, tất cả các pháp là Không một cách đồng đẳng.

    Mặc dù những nhà Trung Quán Cụ Duyên, là những người đề xuất lý thuyết triết lý Phật giáo cao nhất, nói về trạng thái Không và việc có một bản chất Không, điều này không nói lên rằng các hiện tượng hoàn toàn không tồn tại chi cả. Đúng hơn, các pháp đó không hiện hữu trong hay tự chính chúng, trong cách thật của chúng, hay một cách tự tính. Sự thật là các pháp đó có những đặc tính của sự tồn tại, chẳng hạn như sinh khởi trong sự lệ thuộc trên các nhân tố khác hay các duyên sinh. Do thế, với việc thiếu vắng bản tính độc lập, các hiện tượng là phụ thuộc. Chính sự thực rằng chúng do bản chất phụ thuộc vào những nhân tố khác là một chỉ dấu cho sự thiếu vắng một bản tính độc lập. Do vậy, khi những nhà Trung Quán Cụ Duyên nói về tính Không, họ nói về bản tính lệ thuộc của các pháp trong khuôn khổ duyên khởi. Thế nên, một sự thấu hiểu về tính Không không mâu thuẩn thực tại quy ước của các hiện tượng.

    Bởi vì các pháp phát sinh trong sự lệ thuộc vào những nhân tố khác, các điều kiện nhân quả và v.v…, những nhà Trung Quán Cụ Duyên dùng bản tính lệ thuộc như một nền tảng rốt ráo cho sự thiết lập bản chất Không của họ. Thiếu vắng một bản tính độc lập, chúng thiếu đi sự tồn tại tự tính. Lập luận về duyên khởi vô cùng mạnh mẽ, không chỉ vì nó xua tan nhận thức sai lầm rằng mọi thứ tồn tại một cách tự tính, mà bởi vì cùng lúc nó bảo vệ người ta khỏi rơi vào cực đoan hư vô.

    Trong các trước tác của Long Thọ, chúng ta thấy rằng tính Không phải được hiểu trong phạm vi duyên khởi. Trong Đại Trí Độ Luận, Long Thọ nói, “Vì không có một hiện tượng nào mà không là [hiện tượng] duyên khởi, nên không có một hiện tượng nào mà không trống rỗng.”

    Rõ ràng rằng quan điểm của Long Thọ về tính Không phải được hiểu trong phạm vi của duyên khởi, không chỉ từ những tác phẩm của ngài, mà cũng từ những luận sư sau này như Phật Hộ[8], rất súc tích nhưng rõ ràng, và Nguyệt Xứng với các tác phẩm chú giải tác phẩm [Căn Bản Trung Quán Luận] của Long Thọ là Căn Bản Trung Quán Luận Thích, Minh Cú Luận, tác phẩm tự chú bổ xung Nhập Trung Luận Thích, và tác phẩm chú giải về tác phẩm [Tứ Bách Luận] của Thánh Thiên[9]  Tứ Bách Luận Thích.[10] Nếu quý vị so sánh tất cả các tác phẩm này, nó sẽ trở nên rất rõ ràng rằng quan điểm về tính Không như được giải thích bởi Long Thọ phải được hiểu trong khuôn khổ của duyên khởi. Và khi quý vị đọc những luận giải này, quý vị bắt đầu cảm thấy vô cůng cảm kích Long Thọ.

    Đây là một giải thích cô đọng hệ thống kinh điển trong Đạo Phật.

    tongquan-09
    Giác Thể Kalachakra

    (Xem chú thích về thuật ngữ ‘giác thể’ trong phần kế tiếp)

     


    [1] Kinh Lượng Bộ (sautrāntika), là một nhánh của Tiểu thừa xuất phát từ Thuyết nhất thiết hữu bộ (sarvāstivādin) khoảng 150 năm trước Công nguyên. Như tên gọi cho thấy (sautrāntika xuất phát từ sūtrānta, có nghĩa là Kinh phần, chỉ Kinh tạng của Tam tạng), bộ này chỉ đặt nền tảng trên Kinh tạng (sūtrapiṭaka) và phản bác Luận tạng (abhidharmapiṭaka) cũng như quan điểm “nhất thiết hữu” (tất cả đều hiện hữu, đều có) của Thuyết nhất thiết hữu bộ.

    “Sautrantika”. Wikipedia. Truy cập 17/02/2009. <http://en.wikipedia.org/wiki/Sautrantika>.

    [2] Mật Điển Guhyasamāja [Mật điển về tập hợp bí mật] là kinh điển quan trọng của mật điển thời sơ khai Du-già Tối Thượng [early Anuttarayoga] bao gồm 18 chương có chứa phần các giáo huấn đươc tìm thấy trong Kinh Như Lai Tạng (Sarva-tathāgata-tattva-saṃgraha); tuy nhiên nó bao gồm thêm những cách tân nổi bật như là các ý tưởng tượng trưng và tu tập tính dục một cách công khai. Đây cũng là một trong các mật điển được dịch sang Tạng ngữ trước nhất.

    "Guhyasamāja tantra". <http://en.wikipedia.org/wiki/Guhyasam%C4%81ja_tantra>. Truy cập 29/08/2010.

    [3] Tên Phạn ngữ là Prasaṅgika. Đây là một phân bộ của Trung Quán Tông mà các quan điểm chính đến từ đại sư Nguyệt Xứng (600–c. 650) dựa trên các luận giải của Phật Hộ (470–550) về Long Thọ. Điểm đặc trưng của phái này là sử dụng phương pháp suy luận phản chứng -- tức là dùng các luận điểm của đối phương làm tiền đề từ đó rút ra các kết quả sai hay mâu thuẫn để phản bác tiền đề đó -- từ đó xác lập chân đế (qua nội dung của học thuyết nhị đế) [còn gọi là Quy Mậu Biện Chứng hay Cụ Duyên]. Dù sao, không có các bằng chứng lịch sử triết học Ấn-độ nào cho thấy các nhà Trung Quán Cụ Duyên tư định nghĩa mình qua thuật ngữ Prasaṅgika theo mô tả trên.

    "Prasaṅgika". <http://en.wikipedia.org/wiki/Prasa%E1%B9%85gika>. Truy cập 29/08/2010.

    [4] Bộ Tán Dương Tập này được xem là một trong những trước tác quan trọng của ngài Long Thọ Trước khi từ giả cuộc sống, được sự khuyến khích của các tara [đa-la], Ngài trở về miền Nam Ấn tại núi "Hoành Tráng Sơn" [Mount splender] Ngài đã giáo huấn các giáo pháp mở rộng trong cả kinh điển và mật điển và soạn thảo nhiều bản luận được gộp chung thành Tán Dương Tập bao gồm các tiểu luận: Xưng Tán Pháp Giới (Dharmadhātustava) nói về Phật tánh, Xưng Tán Thế Tôn (Lokātītastava) ca ngợi đức Phật, Xưng Tán Bất Khả Tư Lường (Acintyastava) nói đến điều không thể nghĩ tưởng, và Xưng Tán Tối Hậu (Paramārthastava) nói về thực tại tối hậu.

    “Collection of Prasie”. <http://www.rigpawiki.org/index.php?title=Collection_of_Praises>. Truy cập 29/08/2010.

    [5] Là cách gọi các tu sĩ thuộc trường phái Jonang xuất hiện trong trào lưu tân dịch ra đời vào thế kỷ thứ 11 do ngài Yumo Mikyö Dorje (1027 - ?) sáng lập.

    “Jonang”. <http://www.rigpawiki.org/index.php?title=Jonang>. Truy cập 29/08/2010.

    [6] Tên đầy đủ của ngài Pháp Thắng là Lochen Dharmaśrī hay còn gọi là Ngawang Chöpal Gyatso (1654-1717) — là một trong các học giả vỹ đại nhất của trường phái Cổ Mật. Tập hợp các bài luận của ngài có đến 20 quyển trong đó có các chú giải về Mật Điển Bí Mật Tập Hội. Ngài được xem là hóa thân của Yudra Nyingpo (một trong 25 đồ đệ xuất sắc của tổ Liên Hoa sanh).

    "Lochen Dharmashri". <http://www.rigpawiki.org/index.php?title=Lochen_Dharmashri>. Truy cập 29/08/2010.

    Ngoài ra, trong lịch sử Phật giáo còn có một đại sư cùng tên người Ấn vốn là tác giả của hai bộ luận danh tiếng Vi diệu Pháp Tâm Luận và Đại-tì-bà-sa Luận.

    (Xem thêm http://vi.wikipedia.org/wiki/Huy%E1%BB%81n_Trang).

    [7] Theo như dữ liệu từ trang Rigpa Shedra thì người sáng lập (đề xướng) tư tưởng của phái Jonangpa là ngài Yumo Mikyö Dorje (1027 - ??). Ngoài tài liệu này ra, chúng tôi không tìm thấy bất kỳ tài liệu nào khác nói về tên “Yumo Mingyur Dorje” nên chúng tôi cho rằng có thể chỉ là do khác biệt về cách viết phiên âm (giữa chữ Mikyö và chữ Mingyur).

    "Yumo Mikyö Dorje". <http://www.rigpawiki.org/index.php?title=Yumo_Miky%C3%B6_Dorje>. Truy cập 29/08/2010.

    [8] Phật Hộ (Buddhapālita) là một học gỉa Ấn vỹ đại người được xem là sáng lập nên trường phái Trung Quán Cụ Duyên. Bản luận nổi tiếng nhất của ngài Căn Bản Trung Quán Luận Thích hay còn gọi là Phật Hộ Chú Giải.

    "Buddhapalita". <http://www.rigpawiki.org/index.php?title=Buddhapalita>.

    [9] Thánh Thiên (Āryadeva, Tibetan: Pakpa) (thế kỷ 2-3) — Được xem là một trong 6 Bảo Trang của Đại thừa. Ngài là học trò của Long Thọ và cống hiến cuộc đời để tiếp tục các công trình của thầy. Ngài cũng được tính trong Tám Mươi Hai Đại Thành Tựu Giả (caturaśītisiddha).

    "Aryadeva". <http://www.rigpawiki.org/index.php?title=Aryadeva>. Truy cập 2/09/2010.

    [10] Đoạn văn trên có thể phần Anh ngữ đã không ghi lại rõ tác phẩm chính của ngài Phật Hộ là Phật Hộ Căn Bản Trung Quán Luận Thích.

    source: tvhs

    Read more »
RSS