Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Most Popular Articles


  • Thần chú Vajra Guru và thần chú Om mani Padme Hum

    Hai thần chú nổi tiếng nhất của Tây Tạng là thần chú của ngài Liên Hoa Sanh (Padmasambhava), gọi là thần chú Kim cang Thượng sư (Vajra Guru Mantra) OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM, và thần chú của Quán Thế Âm, vị Phật của lòng bi mẫn: OM MANI PADME HUM. Hai thần chú này cũng như phần đông thần chú, đều bằng Phạn ngữ, cổ ngữ thiêng liêng của Ấn Độ.

     

    Download thêm: Ý nghĩa thần chú Kim Cang Thượng Sư

     

    Thần chú Kim cang Thượng sư

    OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM

     

    Thần chú này được giải thích căn cứ lời giảng dạy của hai ngài Dudjom RinpocheDilgo Khyentse Rinpoche.

     

    OM AH HUM

    Những âm OM AH HUM có nghĩa ngoài, nghĩa trong và nghĩa mật. Nhưng ở mỗi tầng như vậy, OM đều tiêu biểu cho thân. AH là lời và HUM là ý. Cả ba âm tiêu biểu năng lực ân sủng của chư Phật để chuyển hóa thân, lời, ý.
    Theo nghĩa ngoài, OM tịnh hóa mọi ác nghiệp của thân, AH của lời, và HUM của ý. Nhờ tịnh hóa thân, lời, ý, OM AH HUM đem lại ân sủng của thân, lời, ý chư Phật. OM cũng là tinh túy của hình sắc, AH của âm thanh, HUM của ý. Khi đọc thần chú này, là ta tịnh hóa hoàn cảnh cũng như bản thân và những người ở trong đó. OM tịnh hóa tất cả nhận thức, AH tất cả âm thanh, và HUM tất cả tâm, ý nghĩ và cảm xúc.
    Theo nghĩa trong, OM tịnh hóa những huyệt đạo vi tế, AH tịnh hóa nội phong hay khí lực, và HUM tịnh hóa tinh chất sáng tạo.
    Ở tầng mức sâu hơn, OM AH HUM biểu trưng ba thân của Liên Hoa bộ: OM là Pháp thân, Phật A Di Đà, đức Phật của Ánh sáng vô lượng, AH là Báo thân, Quán Thế Âm, vị Phật của tâm đại bi, và HUM là Ứng hóa thân, Liên Hoa Sanh. Điều này có nghĩa, trong trường hợp   của thần chú này, cả ba thân đều thể hiện trong một vị là Padmasambhava, Liên Hoa Sanh.
    VAJRA GURU PADMA
    VAJRA được ví như kim cương, đá quý nhất và cứng nhất. Cũng như kim cương có thể cắt bất cứ gì, mà chính nó thì không có gì phá hủy được, cũng thế trí tuệ bất nhị bất biến của chư Phật không bao giờ bị hại hay bị phá hủy bởi vô minh, và có thể cắt đứt mọi vọng tưởng chướng ngại. Những đức tính và hoạt động thân, lời, ý của chư Phật có thể làm lợi lạc hữu tình với năng lực sắc bén vô ngại như kim cường. Và cũng như kim cương không tỳ vết, năng lực sáng chói của nó tuôn phát từ sự chứng ngộ bản chất Pháp thân của thực tại, bản chất của Phật A Di Đà.
    GURU có nghĩ là "sức nặng", chỉ một người tràn đầy đức tính kỳ diệu, thể hiện trí tuệ, hiểu biết, từ bi và phương tiện thiện xảo. Cũng như vàng ròng là kim loại nặng nhất, quý nhất, cũng thế, những đức không lỗi, không thể nghĩ bàn của bậc thầy làm cho vị ấy không ai vượt qua được, thù thắng hơn tất cả. GURU tương đương với Báo thân, và với Quán Thế Âm, vị Phật của tâm đại bi. Lại nữa, vị Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) giảng dạy con đường Mật tông, biểu tượng là Kim cương, và nhờ thực hành Mật tông mà ngài đạt giác ngộ tối thượng, cho nên ngài được biết dưới danh hiệu là Kim cang thượng sư.
    PADMA, hoa sen, có nghĩa là Liên hoa bộ trong ngũ bộ, và nhất là khía cạnh Ngôn ngữ giác ngộ của chư Phật ấy. Liên hoa bộ là dòng họ Phật mà con người thuộc vào. Vì Padmasambhava là ứng thân trực tiếp của Phật A Di Đà, vị Phật nguyên ủy của Liên hoa bộ, nên ngài được gọi là "PADMA", hoa sen. Danh hiệu Liên Hoa Sanh của ngài kỳ thực ám chỉ câu chuyện ngài sinh ra trên một đóa sen nở.
    Khi những âm VAJRA GURU PADMA đi liền nhau, thì cũng có nghĩa là tinh tuy và ân sủng của Kiến, Thiền và Hành. VAJRA nghĩa là tinh chất của chân lý bất khả hoại, bất biến, cứng chắc như kim cương, mà chúng ta cầu mong thực hiện được trong Kiến của chúng ta. GURU tiêu biểu tính chất ánh sáng và sự cao quý của giác ngộ, mà ta cầu cho kiện toàn trong thiền định của mình. PADMA tiêu biểu Bi mẫn, mà chúng ta cầu thể hiện được trong Hành động của chúng ta.
    Vậy, nhờ tụng đọc thần chú này mà ta nhận được ân sủng của tâm giác ngộ, những đức cao quý và lòng bi mẫn của Padmasambhva và tất cả chư Phật.
    SIDDHI HUM
    SIDDHI là thành tựu, đạt đến, ân sủng và chứng ngộ. Có hai thứ thành tựu: tương đối và tuyệt đối. Nhờ nhận được ân sủng tương đối, tất cả chướng ngại trong đời như bệnh tật được tiêu trừ, mọi ước nguyện tốt được thành tựu, những lợi lạc như sống lâu, tiền của tăng và mọi hoàn cảnh đều tốt lành, giúp cho tu tiến và chứng ngộ. Thành tựu, hay ân sủng tuyệt đối đem lại giác ngộ, trạng thái thực chứng hoàn toàn của đấng Liên Hoa Sanh để tự lợi và lợi tha. Bởi thế, nhờ nhớ đến và cầu nguyện với những năng lực thân, lời, ý của ngài mà chúng ta sẽ được những ân sủng tương đối và tuyệt đối.
    SIDDHI HUM được xem là thâu tóm vào tất cả ân sủng, như nam châm hút sắt.
    HUM tiêu biểu tâm giác ngộ của chư Phật, và là xúc tác thiêng liêng của thần chú. Giống như tuyên bố lên quyền năng và chân lý của thần chú: "Hãy là như vậy!" .
    Ý nghĩa cốt yếu của bài chú là: "Con triệu thỉnh ngài, đấng Kim cang thượng sư, với ân sủng của ngài, xin hãy ban cho con những thành tựu thế gian và xuất thế gian".
    Dilgo Khientse Rinpoche giải thích:
    Mười hai âm OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM mang tất cả ân sủng của mười hai bộ kinh giáo của Phật, tinh túy của tám muôn bốn ngàn pháp môn. Bởi thế, tụng một lần thần chú Kim cang thượng sư cũng có phước như là đã đọc mười hai bộ loại kinh điển và thực hành các pháp môn khác. Mười hai bộ loại kinh điển là phương thuốc giải cứu chúng ta khỏi mười hai nhân duyên giam giữ chúng ta trong vòng sinh tử. Vô minh, hành, thức, danh sắc, sáu nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, già chết ; mười hai móc xích này là guồng máy của luân hồi sinh tử, làm cho luân hồi tiếp nối. Nhờ tụng đọc mười hai âm này của thần chú Kim cang thượng sư, mười hai nhân duyên được tịnh hóa, tẩy sạch cấu uế của nghiệp cảm và giải thoát sinh tử.

     

    Mặc dù ta không thể trông thấy đức Liên Hoa Sanh, nhưng tâm giác ngộ của ngài đã thể hiện dưới hình thức thần chú này, thần chú này có được toàn thể ân sủng ngài. Bởi thế khi bạn kêu cầu ngài bằng cách tụng đọc mười hai âm thần chú này thì bạn sẽ được ân sủng và công đức vô lượng. Trong thời đại khó khăn này, không có chỗ nương nào bảo đảm hơn là đấng Liên Hoa Sanh, cũng như không có thần chú nào thích hợp hơn thần chú Kim cang thượng sư của ngài.

     

    Thần chú của đại bi tâm
    OM MANI PADME HUM

    Tạng ngữ đọc là Om Mani Pémé Hung. Thần chú này tiêu biểu tâm đại bi và ân sủng của tất cả chư Phật, Bồ-tát, nhất là ân sủng của Quán Tự Tại, vị Phật của lòng bi mẫn. Quán Tự Tại (hay Quán Thế Âm) là hiện thân của Phật trong hình thức Báo thân, và thần chú của ngài được xem là tinh túy của lòng bi mẫn của chư Phật đối với hữu tình. Nếu Liên Hoa Sanh là bậc thầy quan trọng nhất của người Tây Tạng, thì Quán Tự Tại là vị Phật quan trọng nhất của họ, là vị thần hộ mạng của dân tộc này. Có câu nói nổi tiếng là vị Phật của lòng bi mẫn đã ăn sâu vào tiềm thức Tây Tạng tới nỗi một hài nhi vừa biết nói tiếng "Mẹ" là đã biết đọc thần chú này, OM MANI PADME HUM.

     


    Tương truyền vô lượng kiếp về trước có một ngàn thái tử phát tâm Bồ-đề nguyện thành Phật. Một vị nguyện thành Phật Thích Ca mà ta đã biết ; nhưng Quán Tự Tại thì nguyện sẽ không đạt thành Chánh giác khi mà tất cả ngàn thái tử chưa thành. Với tâm đại bi vô biên, ngài còn nguyện giải thoát tất cả chúng sanh ra khỏi khổ sinh tử luân hồi trong lục đạo. Trước mười phương chư Phật, ngài phát nguyện: “Nguyện cho con cứu giúp được tất cả hữu tình, và nếu có khi nào con mệt mỏi trong công việc lớn lao này thì nguyện cho thân con tan thành một ngàn mảnh". Đầu tiên, ngài xuống cõi địa ngục, tiến lên dần đến cõi ngạ quỷ, cho đến các cõi trời. Từ đấy ngài tình cờ nhìn xuống và trông thấy than ôi, mặc dù ngài đã cứu vô số chúng sanh thoát khỏi địa ngục, vẫn còn có vô số khác đang sa vào. Điều này làm cho ngài đau buồn vô tận, trong một lúc ngài gần mất tất cả niềm tin vào lời nguyện vĩ đại mà ngài đã phát, và thân thể ngài liền nổ tung thành ngàn mảnh. Trong cơn tuyệt vọng, ngài kêu cứu tất cả chư Phật. Những vị này từ mười phương thế giới đều bay đến như mưa tuyết để tiếp cứu. Với thần lực nhiệm mầu, chư Phật làm cho ngài hiện toàn thân trở lại, và từ đấy Quán Tự Tại có mười một cái đầu, một ngàn cánh tay, trên mỗi lòng tay có một con mắt. Ý nghĩa rằng sự phối hợp giữa trí tuệ và phương tiện thiện xảo là dấu hiệu của đại bi chân thực. Trong hình thức này, ngài còn sáng chói rực rỡ, và có nhiều năng lực hơn trước để cứu giúp tất cả chúng sanh. Tâm đại bi của ngài khi ấy còn mãnh liệt hơn nữa, và ngài lại phát lời nguyện này trước chư Phật: "Con nguyện không thành chánh giác khi tất cả chúng sanh chưa thành".
    Tương truyền rằng vì đau buồn trước nỗi khổ luân hồi sinh tử, hai giọt nước nướt mắt đã rơi từ đôi mắt ngài, và chư Phật đã làm phép biến hai giọt nước mắt ấy thành hai nữ thần Tara. Một nữ thần có màu xanh lục, năng lực hoạt động của tâm đại bi, và một nữ thần có màu trắng, khía cạnh như mẹ hiền của tâm đại bi. Tara có nghĩa là người giải cứu, người chuyên chở chúng ta vượt qua biển sinh tử.
    Theo kinh điển đại thừa, chính Quán Tự Tại đã cho đức Phật câu thần chú, và đức Phật trở lại giao phó cho ngài công tác cao quý đặc biệt là cứu giúp tất cả chúng sanh tiến đến giác ngộ. Vào lúc ấy, chư thiên tung hoa xuống ca ngợi hai ngài, quả đất chấn động, và không trung vang lên âm thanh OM MANI PADME HUM HRIH.
    Có câu thơ về ngài ý nghĩa như sau:
    Quán Thế Âm như vầng trăng, với ánh sáng mát dịu, dập tắt những thiêu đốt của sinh tử. Trong ánh sáng ấy, đóa sen từ bi - lọai hoa nở về đêm - mở ra những cánh trắng tinh khôi".

     

     

    Giáo lý giải thích rằng mỗi âm trong sáu âm của thần chú OM MANI PADME HUM có một hiệu quả đặc biệt để mang lại sự chuyển hóa thuộc nhiều tầng lớp khác nhau của bản thể ta. Sáu âm này tịnh hóa tất cả sáu phiền não gốc, biểu hiện của vô minh khiến chúng ta làm những ác nghiệp của thân, lời, ý, tạo ra luân hồi sinh tử và những khổ đau của chúng ta, trong đó kiêu mạn, ganh tị , dục vọng, ngu si, thèm khát và giận dữ, nhờ thần chú mà được chuyển hóa trở về bản chất thực của chúng, trí giác của sáu bộ tộc Phật thể hiện trong tâm giác ngộ. (Chú thích: Giáo lý thường nói đến năm bộ tộc Phật, bộ tộc thứ sáu là tổng hợp của năm bộ tộc trên).
    Bởi thế, khi ta tụng thần chú OM MANI PADME HUM thì sáu phiền não nói trên được tịnh hóa, nhờ vậy ngăn ngừa được sự tái sinh vào sáu cõi, xua tan nỗi khổ ẩn tàng trong mỗi cõi. Đồng thời thần chú này cũng tịnh hóa các uẩn thuộc ngã chấp, hoàn thành sáu hạnh siêu việt của tâm giác ngộ (sáu ba la mật): bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Người ta cũng nói rằng thần chú OM MANI PADME HUM có năng lực hộ trì rất lớn, che chở ta khỏi những ảnh hưởng xấu và các thứ tật bệnh.
    Thường có chủng tự HRIH của Quán Thế Âm được thêm vào sau câu thần chú, làm thành OM MANI PADME HUM HRIH. HRIH là tinh yếu tâm đại bi của tất cả chư Phật, là chất xúc tác đã khởi động tâm đại bi chư Phật để chuyển hóa các phiền não của ta thành bản chất trí tuệ của các ngài.
    Kalu Rinpoche viết:
    Một cách khác để giải thích thần chú này là: OM là tính chất của thân giác ngộ, MANI PADME tiêu biểu ngữ giác ngộ, HUM tiêu biểu ý giác ngộ. Thân, ngữ, ý của tất cả chư Phật được tàng ẩn trong âm thanh của thần chú này. Thần chú này tịnh hóa những chướng ngại của thân, lời, ý, và đưa tất cả hữu tình đến trạng thái chứng ngộ. Khi tụng thần chú này, mà phối hợp với đức tin và tinh tấn thiền định thì năng lực chuyển hóa của thần chú sẽ phát sinh và tăng trưởng. Quả vậy, chúng ta có thể tịnh hóa bản thân bằng phương pháp ấy.
    Đối với những người đã quen thuộc với thần chú này, suốt đời tụng đọc với nhiệt thành và niềm tin, thì Tử Thư Tây Tạng nói, ở trong cõi Trung Ấm: "Khi âm thanh của pháp tánh gầm thét như ngàn muôn sấm sét, nguyện cho tất cả tiếng này trở thành âm thanh của thần chú sáu âm". Tương tự, kinh Lăng Nghiêm cũng nói:
    "Mầu nhiệm thay là âm thanh siêu việt của Quán Thế Âm. Đấy là âm thanh tối sơ của vũ trụ… Đó là tiếng thì thầm âm ỉ của thủy triều trầm lắng. Tiếng mầu nhiệm ấy đem lại giải thoát bình an cho tất cả hữu tình đang kêu cứu trong cơn đau khổ, và đem lại một sự an trú thanh tịnh cho tất cả những ai đang tìm sự thanh tịnh vô biên của niết bàn".

    Nguồn: Phụ lục 3,TẠNG THƯ SỐNG-CHẾT /TP

    Read more »
  • Ba điểm cần thiết tu tập Giác Ngộ

    Giới thiệu tổng quát

    Chúng ta đã có được kiếp sống lý tưởng, hỗ trợ cho các tự do và thuận lợi rất khó tìm. Ta đã gặp được giáo huấn quý báu vốn khó gặp của Đức Phật, đã tìm ra các vị thầy tâm linh khó tìm của Đại thừa. Ở một thời điểm như vậy, ta nên hành động khá hơn loài thú, bằng cách hành trì giáo pháp thanh tịnh. [Tuy nhiên], nếu như chỉ nỗ lực vì những sinh hoạt hiển nhiên trong cuộc đời này, chẳng hạn như để [có được] thực phẩm và y phục, ta sẽ không khác với loài thú bao nhiêu, vì ngay cả thú vật cũng có cách tránh được sự đói lạnh. Vì đã có được một thân người, ta nên hành động khác với loài thú. Ta sẽ khác với loài thú nếu có thể kiến tạo lợi lạc cho những kiếp sau, bằng cách hành trì Phật pháp. Khi thực hành Pháp, ta cũng có được lợi lạc trong kiếp này. Tuy nhiên, [119] bất cứ bạn bè, tài vật và sự giàu sang nào ta có được trong kiếp này chỉ có mặt với ta trong khoảng thời gian của cuộc đời này mà thôi. Bởi vì ta phải tiếp tục hành trình sang kiếp sau, chỉ có Pháp là điều duy nhất làm lợi lạc cho những kiếp tương lai, [cũng như trong kiếp này].

    Ta phải thấu hiểu giáo pháp để thực hành Pháp. Để hiểu được Pháp, ta phải tu học. Thêm vào đó, giáo pháp phải đầy đủ và không sai lạc. Nếu giáo pháp mà [ta nương tựa vào] sai lầm và không đầy đủ, sự nương tựa của ta sẽ không thích đáng.

    Tôi sẽ thuyết giảng Ba Điểm Tinh Yếu của Đường Tu Giác Ngộ mà Đức Văn Thù Sư Lợi đã trao truyền cho Je Rinpoche, người đã làm sáng tỏ giáo pháp này1.

    Ba [điểm] tinh yếu của đường tu giác ngộlà (i) tâm xả ly; (ii) bồ đề tâm; và (iii) tri kiến chứng ngộ tánh Không.

    Dù trên thực tế, Je Rinpoche chính là hiện thân của Đức Văn Thù Sư Lợi, nhưng về mặt phàm thân, ngài đã sanh ra ở Tsongkha, tại Amdo. Ngài khác hẳn với những đứa trẻ khác và đã dấn thân vào Phật pháp từlúc trẻ. Ngài đã đến miền Trung Tây Tạng để theo đuổi sự học và đã hoàn tất việc tu học tất cả các hệ thống kinh sách thuộc về Kinh điển và Mật điển. Sau khi tu tập những giáo pháp này, ngài đã có những linh kiến về Đức Văn Thù Sư Lợi và [120] lãnh giáo toàn bộn hững lời khuyên từ Đức Văn Thù Sư Lợi, giống như trực tiếp gặp gỡ một người. Ngài quảng bá giáo lý của Phật đà về mặt giảng giải và hành trì viên mãn. Đức Thế Tôn cũng đã tiên đoán [về Je Rinpoche]:

    XEM TIẾP: Choden Rinpoche - Ba Điểm Tinh Yếu của Đường Tu Giác Ngộ.

    Source: TVHS

    Read more »
  • BỬU SƠN KỲ HƯƠNG HUYỀN NGHĨA

    Bửu Sơn Kỳ Hương đã có mặt trên đất nước Việt Nam hơn một thế kỷ, giáo lý ngày nay vẫn còn được lưu giữ trên giấy mực, trong lòng người, giữa núi rừng, đền tháp thiêng liêng.

    Ngoài phần thi kệ và những câu chuyện sống động, thần bí xảy ra vào thời các vị giáo chủ còn tại thế được ghi chép, lưu truyền; bốn quyển Khuyên Người Đời Tu Niệm, Kệ Dân, Sám Giảng, và Giác Mê Tâm Kệ của Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (1939 -1947) là giáo lý phổ thông hiện nay trên đất Việt, đặc biệt đối với miền Nam nước Việt nam.

    Con đường hoằng hóa của chư Phật qua nhiều giai đoạn, nội dung giáo lý cũng tùy thuận căn tánh chúng sinh nên có cõi nước vị giáo chủ chỉ dạy giáo pháp Đại thừa cho hàng Bồ tát, có cõi dạy thập thiện, có cõi dạy nhân thừa, thiên thừa v.v… gọi là chánh giáo và quyền giáo.

    Quyền giáo là giáo lý phương tiện, sử dụng tạm thời tùy thuận theo căn cơ chưa đến được chỗ sâu sắc của đa số thính chúng. Pháp phương tiện này cuối cùng sẽ bị vượt qua để đi đến cái thấy chân thật là chánh giáo. Vì vậy, thời Đức Phật thuyết kinh Pháp Hoa là lúc phá quyền hiển chánh. Đức Phật dạy rõ vì sao Ngài phải tạm dùng pháp phương tiện để hướng dẫn trí tuệ chúng sinh:

    “Trí hèn kém biết đâu là bể khổ

    Nếu Như Lai dùng trí tuệ, thần thông

    Tán dương và khen ngợi pháp thậm thâm

    Mười trí lực cùng bốn vô sở úy

    Tâm chúng sinh biết đâu là Phật trí

    Bởi trong vòng bức não của thế gian

    Ta như người có sức mạnh vạn năng

    Chẳng dùng được, phải tìm lời khuyến dỗ”.[1]

    (Phẩm Thí Dụ)

    Chánh giáo là pháp viên mãn dạy chúng sinh thành Phật, chỉ cho Nhất Thừa tức Phật thừa:

    “Hai thừa còn không có, huống chi ba,

    Chín tạng pháp vì chúng sinh tạm nói.” [2]

    (Phẩm Phương Tiện)

    Như vậy, trong toàn bộ giáo lý của Bửu Sơn Kỳ Hương, còn gọi là Phật giáo Hòa Hão, thì dòng kệ nào là quyền giáo, dòng kệ nào là chánh giáo?.

    Chúng ta thấy năm 1939, tại miền Nam nước Việt Nam, Đức Huỳnh Giáo chủ viết rõ trong Giác Mê Tâm Kệ, và rãi rác trong ba tập sấm giảng khác:

    “Trong sấm giảng nếu ai không hiểu

    Tầm kệ này Ta chỉ nẻo đường”.

    Và:

     “Coi Tâm Kệ làm theo mới trúng”.

    “Kệ này” hoặc “Tâm kệ” chỉ cho Giác Mê Tâm Kệ. Vì sao Ngài lại dạy rằng nếu có ai đã học  ba tập Khuyên người đời tu niệm, Kệ dân, và Sám giảng mà vẫn không hiểu cái Ngài muốn họ hiểu thì hãy tìm những giáo lý trong quyển Giác Mê Tâm Kệ? Chúng ta mở ra liền thấy nhiều đoạn trong Giác Mê Tâm Kệ dạy về Tâm:

    “Tâm sáng suốt như đài nguyệt kiến,

    Tánh trong như nước biếc mùa thu”.

     “Vô pháp tướng mới là thật tướng”.

    Đức Huỳnh giáo chủ lại khuyên tín chúng:

    “Huyền cơ đạo hạnh hãy gắng tầm

    Đời cùng tiên Phật dụng nhân tâm”.

    “Cảnh Niết Bàn là nơi cứu cánh”.

    “Nay gặp gốc phải mau tìm gốc.”

    Gốc này chính là nguồn tâm vậy.

    Trong Giác Mê Tâm Kệ, Đức giáo chủ cũng xác định chỗ đứng của pháp phương tiện, mặc dù pháp phương tiện là một pháp cần thiết, nhưng sự cần thiết này chỉ có ý nghĩa tạm thời, đóng vai trò làm bậc thang đưa bước:

    “Tạo làm chi những trung với hiếu!

    Ấy là người bổn phận phải trau”.

    Chư Phật luôn nói lời chân thật nên dù là pháp phương tiện, chánh báo và y báo đều thành tựu như kết quả của việc tu hành.

    Kinh Pháp Hoa được nhìn là quyển kinh thuyết về Nhất Thừa Viên Giáo, chỉ rõ Phật tức Tâm. Trí Giả Đại Sư (538-597) dùng kinh này như quyển kinh nòng cốt cho Thiên Thai Tông, đại sư thuyết ý nghĩa thâm sâu trong kinh, môn đồ ghi lại thành một trong ba quyển luận quan trọng của tông phái, lấy tựa đề là Pháp Hoa Huyền Nghĩa. Vì vậy, người đời sau còn gọi là Thiên Thai Tông là Pháp Hoa Tông.

    Khi Đức Thích Ca thuyết kinh Pháp Hoa thì năm ngàn người trong thính chúng tự ý bỏ đi ra khỏi pháp hội.

    Vì muốn nương kinh để giải kinh, nương trí để thấy trí, tôi xin vẽ ra đồ biểu dưới đây, gọi tên là “Bảng đối chiếu Pháp Hoa Huyền Nghĩa và Bửu Sơn Kỳ Hương Huyền Nghĩa” để trình bày sự tương quan giữa hai đường lối hoằng pháp của Đức Phật Thích Ca và Đức Huỳnh Giáo Chủ, tức Bửu Sơn Kỳ Hương.

    Sau cùng, hai mặt giáo lý và thực hành được trình bày song song, áp dụng trực tiếp vào sinh hoạt hằng ngày của hành giả. Những câu kệ dùng văn tự đơn sơ (Kệ Dân, “Giả quê dốt khuyên người tỉnh ngộ” [3],) trong bốn tập sách này, nhắm vào đa số quần chúng là cư sĩ tại gia, thực sự chứa đựng kho tàng pháp bảo. Nội dung giáo lý của Bửu Sơn Kỳ Hương cũng như Phật giáo Hòa Hão hoàn toàn trung thực với Phật pháp, cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa, là ngọn đuốc được chư Phật Tổ thắp sáng xưa nay trên toàn thế giới, không khác gì với nội dung những bộ kinh luận đồ sộ của chư Phật và chư Tổ. Đường lối giảng dạy cũng không khác.[4] Tánh Không, Pháp Hoa Kinh An Lạc Hạnh Nghĩa, Tứ Tất Đàn, Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế, Lục Độ, pháp môn niệm Phật, minh tâm kiến tánh, tự độ, độ tha cho đến những tam muội thâm sâu như Niệm Phật Tam Muội,[5] Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội [6]. Nhẫn nhục ba la mật trong Giác Mê Tam Kệ đi qua lăng kính của một tác phẩm thâm thúy là Vô Tránh Tam Muội của vị Tổ thứ ba Thiên Thai Tông là tôn giả Nam Nhạc Tuệ Tư (tôn sư của người sáng lập nên Thiên Thai Tông là Trí Giả Đại Sư). Pháp môn đốn giác của Lục Tổ Tuệ Năng cũng được nói đến trong tập Giác Mê Tâm Kệ. Tôi chứng minh những điều trên trong từng con số chú giải theo với mỗi câu kệ.

    Không có chánh giáo thì không có Phật ra đời. Không có Phật ra đời thì không có chánh giáo. Nói cách khác, chánh giáo là giáo lý dạy chúng sinh biết mình vốn có Phật tánh, trực nhận Phật tánh này, cởi bỏ lớp áo nhuốm bụi đời bên ngoài để lộ nguyên chân tánh. Giáo pháp thậm thâm vi diệu phải là chánh giáo, đó cũng là bản hoài của chư Phật vì đại sự nhân duyên mà ứng hiện cõi này, khai tri kiến Phật vốn sẳn có nơi mỗi mỗi chúng sinh. “Người ngộ được tự tánh, tiến tu theo tự tánh mới gọi là chân tu”, [7] ngoài ra thì là duyên tu.

    Vì vậy mà nói rằng tự tánh tự độ.

     

    Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm

    Núi Bắc, tháng 5, 2015

     


    [1] Trích “Muôn Pháp Hội Trổ Một Hoa Vô Tướng” (thi hóa kinh Pháp Hoa), Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm, nxb Phương Đông, 2008.

    [2] Nếu có phương pháp nào khác, cũng do Đức Thế Tôn chỉ dạy, thì đều là những phương tiện để hỗ trợ, dẫn phát chân ngôn mà thôi.  (Bồ Đề Đạt Ma: Ngộ Tánh Luận. HT Thích Trí Tịnh giảng giải).

    [3] Thầy Ba Đạo xướng bài thơ hỏi đạo, Đức Huỳnh giáo chủ họa:

    “Bốn chữ xuống phàm chớ ở đâu?”.

    [4] Đọc Đường Phật Đi (Phật Tổ Đạo Ảnh), và 379 bài kệ của HT Tuyên Hóa, BS Trần văn Nghĩa và Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm dịch, Thư Viện Hoa Sen, 2014.

    [5] Niệm Phật Tam Muội: (念佛三昧) Tam muội quán niệm đức của Phật hoặc xưng niệm danh hiệu Phật, tức là loại thiền định lấy niệm Phật làm nội dung quán tưởng. Niệm Phật tam muội được chia làm 2 loại: 1. Nhân hành niệm Phật tam muội: Nhất tâm quán tưởng tướng hảo của Phật, hoặc nhất tâm quán tưởng thực tướng của Pháp thân Phật, cả 2 đều là quán tưởng niệm Phật. Trái lại, nhất tâm xưng niệm danh hiệu của Phật thì gọi là Xưng danh niệm Phật. 2. Quả thành niệm Phật tam muội: Ba loại nhân hành nói trên được thành tựu, như trong thiền định được thấy thân Phật hiện tiền. Nhân hành niệm Phật tam muội là tu, Quả thành niệm Phật tam muội là phát được. Tự Điển Phật Quang.

    Giác Mê Tâm Kệ, Đức Huỳnh giáo chủ:

    “Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối

    Ghi vào lòng sáu chữ Di Đà”.

    “Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà

    Phật chẳng chấp, chẳng nài thời khắc”.

    [6] Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội: (普現色身三昧)

    Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội. Cũng gọi Hiện nhất thiết sắc thân tam muội, Phổ hiện tam muội. Tam muội mà chư Phật, Bồ tát thể nhập khi cần thị hiện các sắc thân. Phẩm Diệu âm bồ tát kinh Pháp hoa (Đại 9, 56 trung) ghi: Bồ Tát Hoa Đức bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Bồ tát Diệu Âm trụ trong tam muội nào mà có thể hiển hiện độ thoát chúng sinh như vậy? Phật bảo Bồ tát Hoa Đức: Thiện nam tử! Tam muội này gọi là Hiện nhất thiết sắc thân, bồ tát Diệu Âm trụ trong Tam muội này nên mới có năng lực lợi ích vô lượng chúng sinh như thế. Tự Điển Phật Quang.

    Kệ Dân, Đức Huỳnh Giáo Chủ:

    “Dạy chánh đạo vì thương Nam Việt

    Ở Cao Miên vì mến Tần Hoàng

    Trở về Nam đặng có sửa sang

    Cho thiện tín được rành chân lý”.

    “Ta là kẻ vô hình, hữu ảnh

    Ẩn xác phàm gìn đạo Thích Ca”.

     “Giả quê dốt khuyên người tỉnh ngộ”.

    Pháp Hoa Kinh An Lạc Hạnh Nghĩa, Nam Nhạc Tuệ Tư Đại Thiền Sư (Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm biên dịch, nxb Phương Đông 2012, p. 629, Thư Viện Hoa Sen):

    “Giữa lòng đêm hiu hắt

    Mưa ướt lạnh hai vai

    Ai biết thân đơn bạc

    Là Phật thân cõi này”.

    SOURCE TVHS

    Read more »
  • 4 Oai Nghi Người Xuât Gia Phải Thực Hành NGHIÊM CHỈNH

    TỨ OAI NGHI CỦA HÀNH GIẢ XUẤT GIA

    Khi vừa vào xuất gia, con đã học và tâm đắc bài “Quy Sơn Cảnh Sách” nhất là đoạn : “Người xuất gia là cất bước thì muốn vượt tới phương trời cao rộng, tâm tính và hình dung khác hẳn thế tục, tiếp nối một cách rạng rỡ dòng giống của Phật, làm cho quân đội của ma phải rúng động khuất phục, với mục đích báo đáp bốn ân, cứu vớt ba cõi.” Sau đó con luôn luôn được Sư Phụ chỉnh sửa từng chút về dáng đi, kiểu ngồi,…để có được “đường đường Tăng tướng”. Con cũng muốn mình trở thành một bậc mô phạm trong Thiền môn thế nhưng có biết bao nhiêu lần con bị “trật đường rầy” và phải liên tục chỉnh sửa lại. Cho nên, con rất tâm đắc với đề tài : “Tứ Oai Nghi của hành giả Xuất Gia”. Đây là một cơ hội nữa để con nhìn lại chính mình, nêu lên những suy tư và quyết tâm thể hiện và thâm nhập nếp sống Đạo của hạnh xuất gia mà mình đã chọn.

    Oai nghi là hình thức bề ngoài của người tu. Người xưa nói: “có oai khá sợ, có nghi khá kính”. Trong thiền môn, rất chú trọng đến bốn oai nghi: đi, đứng, nằm, ngồi. Bởi người xuất gia, ngoài việc hành trì giới luật nghiêm minh, còn phải giữ gìn oai nghi tế hạnh. Đó là những phép tắc cao đẹp của người xuất gia. Người có oai nghi, ai trông thấy cũng kính trọng, mến phục. Người thiếu oai nghi, tất nhiên là thiếu cung cách phẩm hạnh cao đẹp của một người tu. Vì thế, một tu sinh dự tu, theo phẩm hạnh cung cách của người xuất gia, thì phải giữ gìn oai nghi tế hạnh thật cẩn thận. Đó là vừa khắc phục chính mình mà cũng vừa cảm hóa kẻ khác. Từ cách đi, đứng, nằm, ngồi, ăn uống, nói năng, làm việc v.v… tất cả đều phải giữ gìn đúng theo phong thái nghiêm trang, nhẹ nhàng của một tu sỹ. Những cử chỉ, hành vi thô tháo ngoài đời, tu sỹ cần phải khắc phục sửa đổi lại. Có thế, thì việc tu hành của chúng ta trong khóa tu mới được lợi lạc rất lớn. Bằng ngược lại, thì rất là có lỗi vậy.

    “Tứ Oai Nghi” bao gồm : đi đứng ngồi nằm của người xuất gia phải theo khuôn phép và đạt những tiêu chuẩn nhất định. Trong Luật Tạng và 24 Thiên Oai Nghi của Sa Di có rất nhiều điều liên quan đến 4 oai nghi này. Là người tu phải khéo chế phục, điều ngự nơi thân và tâm của mình sao cho không thô tháo, buông lung, giãi đãi, trạo cử, làm mất đi niềm tin của tín thí và thế nhân, đó phải là biểu tượng của Chân – Thiện – Mỹ. Ông bà chúng ta có câu : “Học ăn, học nói, học gói, học mở” học mọi thao tác nhỏ nhất trong cuộc sống thế thì trong Thiền môn, hàng tu sỹ phải khéo làm chủ và biểu hiện nơi mọi cử chỉ cho dù là nhỏ nhất của mình hàm chứa trong đó nội dung Phật Pháp.

    Khi học về “Tỳ ni nhật dụng thiết yếu”, chúng con đã học về cách rửa mặt, đánh răng, uống nước, mặc y áo,…Như vậy có phải là phức tạp hóa hay rườm rà hình thức về nếp sống hàng ngày của người tu hay không? Thưa Không ! Đó là cách để thực tập chánh niệm tỉnh giác, đem tuệ giác chiếu soi nơi mọi việc làm hàng ngày và Thiền trong cuộc sống đời thường. nếu như nói chuyện oang oang, đi đứng ầm ĩ làm rúng động sự yên tĩnh người khác, ăn uống vung vãi, quần áo đồ đạc ngổn ngang bừa bãi vậy thì làm sao có thể tạo được một “Thiền môn nghiêm tịnh, hải chúng an hòa”, như lời cảnh giác của “Tổ Quy Sơn” :

    Lời to, tiếng lớn, nói năng vô phép. Không kính thượng tọa, trung tọa, hạ tọa, ngồi với nhau không khác gì sự tụ họp của các đạo sĩ Bà la môn. Khua bát ra tiếng, ăn rồi dậy trước. Đi ở trái phép nên bản chất tăng sĩ mất hẳn, đứng ngồi quàng hoảng nên làm động tâm niệm của kẻ khác. Phép tắc ít nhất cũng không giữ, uy nghi nhỏ nhất cũng không còn, thì đưa cái gì ra để kềm thúc hậu bối, nên kẻ sơ học không biết do đâu mà mô phỏng?”

    Khi còn làm Sa Di Ni, con lại nghĩ mình “kém phước” nên “bị” làm thị giả cho Sư Phụ, gần gũi trực tiếp với Sư Phụ trong khi bao nhiêu người tu trẻ khác cùng lứa tuổi của mình không làm thị giả, được tự do hơn, giải trí và học tập được nhiều hơn. Bao nhiêu lần “bị la”, bị chỉnh khiến con tự ái, tự thương thân mặc cảm, ngậm ngùi. Thế nhưng sau này con mới ngộ ra rằng : chính cái thời gian làm thị giả “hầu Thầy” ấy, chính vì bị “sửa lưng” nhiều như vậy, con mới học được, thực tập được nhiều thứ mà ở ngoài thế gian không sao học được, tôi luyện mình cho phù hợp với Thiền môn và “thấm tương chao”. Đó là diễm phúc lớn, là nền tảng vững chắc cho cả đời tu tập và sinh hoạt Phật sự của mình. Nếu không biết làm thị giả tốt thì làm sao có thể trờ thành vị Thầy tốt và nuôi dạy chúng tốt?

    Mọi người tu, ai cũng nghĩ mình phải thấy (ngộ) được đạo, và nghĩ rằng đạo là cái gì cao siêu ở ngoài mình. Triệu Châu cũng có tâm niệm như chúng ta, khi được Ngài Nam Tuyền trả lời “tâm bình thường là đạo”, sư chưa đủ sức tin. Vậy, tâm bình thường là tâm nào? Tâm bình thường là tâm lặng lẽ sáng suốt, thấy biết rõ ràng, như mặt nước phẳng lặng không gợn sóng trong mọi việc đang xảy ra hiện tại. Ngài Sùng Tín hầu hạ luôn bên thầy 3 năm, một hôm sư thưa:
    – Từ ngày con vào đây đến nay, chưa được thầy chỉ dạy tâm yếu.
    Đạo Ngộ bảo:
    – Từ ngày ngươi vào đây, ta chưa từng chẳng chỉ dạy tâm yếu cho ngươi.
    Sùng Tín hỏi:
    – Thầy chỉ dạy ở chỗ nào?
    Đạo Ngộ bảo:
    – Ngươi dâng trà lên ta vì ngươi mà tiếp, ngươi bưng cơm đến ta vì ngươi mà nhận, ngươi xá lui ra thì ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?

    Đó, Đạo ở đâu xa, Đạo bàng bạc quanh ta, Đạo ngay nơi ăn cơm, uống nước, từng việc làm hàng ngày của người thị giả. Tu không phải là đợi lên chánh điện tụng kinh, ngồi thiền, bái sám,… mới gọi là tu mà tu ở khắp nơi : ngoài sân, trong bếp, phòng khách, trai đường, trong mọi việc làm mà lặng lẽ chiếu soi, thân đâu tâm đó, chánh quán, không khởi vọng niệm, đó là tu, đó là động thiền.

    Trong Tăng Già thời Đức Phật, chính cái phong thái đĩnh đạc, ung dung giải thoát của Đức Phật đã cảm hóa được năm anh em Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển mặc dù ban đầu họ có thành kiến với Ngài và bàn bạc với nhau là không đón tiếp Ngài. Câu chuyên Ngài Xá Lợi Phất được cảm hóa theo Đạo Phật được ghi : “ Xá Lợi Phất bỗng nhìn thấy thầy A Thị Thuyết (Assaji, là một trong năm vị tì kheo đầu tiên xuất gia làm đệ tử Phật) trên một đường phố trong kinh thành Vương Xá …Dáng vẻ của thầy A Thị Thuyết trông trang nghiêm làm sao! Mỗi cử chỉ đi, đứng của vị tì kheo ấy đều tỏ rỏ oai ghi tế hạnh. Thoạt nhìn thấy, Xá Lợi Phất bỗng cảm thấy tâm hồn rúng động. Thật kinh ngạc, thật kì lạ, không thể tả được! Không dằn được thắc mắc Xá Lợi Phất liền bước đến trước mặt A Thị Thuyết, chào hỏi một cách cung kính”. Thế cho nên, Ngay nơi oai nghi cử chỉ lại có sức cảm hóa người khác mạnh hơn cả lời nói. Giáo hóa độ sanh trong Phật Giáo có 3 phương diện : Thân Giáo – Khẩu Giáo – Ý Giáo. Không phải Giảng sư chỉ dùng ngôn ngữ để thuyết pháp mà tất cả nụ cười, ánh mắt, ngón tay, dáng ngồi im lặng đều là những bài pháp không lời. Giảng sư không phải giống như một ca sỹ hoặc một nghệ sỹ cải lương đóng xong tấn tuồng vai trò mình trên sân khấu rồi cởi bỏ râu mũ muốn làm gì thì làm mà phải thể hiện đạo lý trong nếp sống hàng ngày của mình, tránh tình trạng “năng thuyết bất năng hành” (nói hay nhưng làm không hay) hoặc lý thuyết suông, sáo rỗng.

    Không giữ đúng oai nghi sẽ mang đến những hậu quả xấu xa, tai hại. Trong “Sơ Đẳng Phật Học Giáo Khoa Thư” có dạy một người vào điện Phật lễ Phật mà để cây gậy dựa vào tường, chính cái sơ ý thất thố này mà khiến cho việc Lễ Phật đã không tăng thêm mà lại mất phước. Nếu chúng ta rửa khua chén bát vào ban đêm khiến cho ngạ quỷ đói khát rướn cổ và đứt cổ. Một việc mất oai nghi trong rửa chén lại đưa đến thương tổn và đau khổ như vậy. Nếu lên chánh điện mà đánh chuông đánh mõ không đúng nhịp thì có thể làm rối loạn và phiền não thời công phu. Nếu hô canh mà không đúng cách khiến đại chúng khó nhiếp niệm vào Thiền. Nếu trong phòng thi hay trong lớp học mà không biết im lặng trật tự thì khiến bao người xung quanh động niệm, không tập trung được và khó chịu. Xoa đầu vuốt ve trẻ vị thành niên khác giới có thể bị kiện ra tòa. Nếu đi với dáng vẻ lấc xấc, nếu vừa chống nạnh vừa nghe điện thoại, hút thuốc lá phì phèo tự do, nếu lái xe honda chạy quá nhanh bạt mạng thì khiến dân chúng coi thường tu sỹ. Nếu Ban Kinh Sư trong tiến linh hoặc Chẩn Tế Cô Hồn mà oai nghi không đúng sẽ phản tác dụng, phiền não và đọa lạc… Như vậy có thể nào khinh suất mà không học hỏi, thực tập và biểu hiện cho đúng khuôn phép hay sao?

    Thân và Tâm có mối liên hệ chặt chẽ với nhau : “Tướng tùy tâm sanh, tướng tùy tâm hiện”. Một con người lười biếng giãi đãi, hay bỡn cợt, không có ý thức cao, tinh chuyên tu tập thì làm sao có thể kiểm thúc được nơi thân? Trong Thiền Tứ Niệm Xứ có 4 yếu tố : Thân, Thọ, Tâm, Pháp, hay khi ngồi thiền có các giai đoạn : điều thân, điều tức, điều tâm. Hình có ngay thì bóng mới thẳng. Con mắt là cửa sổ của tâm hồn. Con người tham nhiễm sắc dục thì làm sao mà mắt không liếc ngó lơ láo quàng xiên được? Tu là cả quá trình tu sửa, trong đó có việc sửa thói hư tật xấu nơi Thân, Khẩu, Ý của mình, có cả tu tâm và tu tướng. Có được như vậy thì mới có thể hướng đến việc làm : “Thầy khắp cả Trời Người”, Sứ Giả Như Lai. Pháp Bảo Đàn Kinh ghi : vị Tăng Pháp Đạt ở Hồng Châu thường tụng kinh Pháp Hoa, đến lễ Lục tổ Huệ Năng mà đầu không sát đất. Tổ quở: “Lễ mà đầu không sát đất, chi bằng đừng lễ. Trong tâm ông ắt có một vật, “chất chứa việc gì?” Pháp Đạt thưa: “Đã tụng được ba ngàn bộ kinh Pháp Hoa.” Tổ bảo: “Ông nếu tụng đến muôn bộ, đạt được ý kinh mà chẳng lấy làm hơn thì cùng ta sánh vai. Nay ông mang sự nghiệp này trọn chẳng biết lỗi…” Tụng kinh nhiều mà thiếu tu tập thì biểu hiện ngạo mạn, thiếu đi 3 ngàn oai nghi, 8 muôn tế hạnh cũng chẳng ích gì!

    Tăng đoàn xưa thời Đức Phật chỉ cần thứ lớp khất thực lặng lẽ cũng gieo trồng phước điền, gây tạo niềm tin và cảm hóa quần chúng. Ngày nay những tu sỹ giả và khất thực giả dễ bị phát hiện là do cách đi đứng, ánh mắt, lời nói của họ thô tháo làm sao họ có thể tái hiện lại bước chân của những “Tượng Vương” đĩnh đạc uy nghi? Nếu một người khéo biết quán sát thì chỉ cần nhìn cách xá chào, câu thưa hỏi, dáng đi, cách ngồi, cách rót trà cũng có thể biết đối tượng đó tu bao lâu, có “thấm mùi tương chao” (thiền vị) hay chưa?

    Tăng đoàn đó là nếp sống của những người hòa hợp, tỉnh thức. Khách tham quan và thiện tín vào chùa có thể học hỏi rất nhiều điều từ sinh hoạt của người xuất gia chứ không phải là chỉ học được từ Pháp Thoại trên Pháp Tòa :người tu nấu ăn thế nào, hành đường ra sao, thọ trai cách gì, xỉa răng ra sao,…Tất cả đều được thể hiện sự vững chãi, thảnh thơi, đạo lực của người tu, chất liệu của giải thoát. Hình ảnh của Đức Phật ngồi trên tòa sen rất trang nghiêm, tôn quý, Ngài nhập niết bàn trong tư thế nằm tuyệt hảo. Như vậy người tu ngồi như Đức Phật ngồi trên tòa sen, đứng như cách Đức Phật A Di Đà sẵn sàng tiếp độ, đi như là đang thiền hành và nằm theo dáng Đức Phật nhập niết bàn, có vậy mới có thể tạo ra một hình ảnh siêu phàm thoát tục, biểu tượng quy ngưỡng cho hàng tại gia và thế nhân.

    Nay trong dịp kỷ niệm 35 năm ngày Thành Lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, nhiều cuộc Tọa Đàm, Hội Thảo diễn ra liên quan đến các Ban Ngành : Pháp chế, Tăng Sự, Nghi Lễ, Văn Hóa, Hoằng Pháp, Giáo Dục Tăng Ni, …nhằm nâng cao phẩm chất người tu và phát triển Phật Giáo Việt Nam. Trong đó, những vấn đề như Pháp phục cho người tu sỹ, việc khất thực, thực hành nghi lễ, giới luật cho hàng tu sỹ và xử trị đang được cân nhắc nghiêm túc để áp dụng cho hàng xuất gia trong giai đoạn sắp đến. Nếu trên 15 000 ngôi chùa và 55000 tu sỹ mà tu đúng, sinh hoạt đúng thì Phật Giáo hưng thịnh và truyền bá đến khắp hang cùng ngõ hẻm cuộc sống, trong đó biểu hiện oai nghi đóng vai trò rất quan trọng trong biểu tượng Thế Gian Trụ Trì Tam Bảo để mọi người quy hướng và tu tập trên lộ trình giải thoát.

    Nay con được phước duyên làm người xuất gia vào phương trời cao rộng. Con đã có hình tưởng Tăng Bảo “đầu tròn, áo vuông” nhưng “chiếc áo không làm nên thầy tu” mà là tất cả phẩm hạnh biểu hiện nơi Thân Khẩu Ý mới quyết định là một người xứng danh Tỳ Kheo hay không? Con nguyện khép mình trong Pháp và Luật của Như Lai, cẩn thận dè dặt tu tập với oai nghi tế hạnh để không làm thất thố oai nghi, tổn giảm niềm tin của tín thí, và dần dần trở thành một bậc mô phạm xứng đáng. Con biết những tập khí xấu xa vẫn còn trong con rất nhiều trải qua nhiều đời kiếp nhưng sẽ miệt mài tu sửa. Thi tuyển vào Trung Cấp Giảng Sư cũng là cơ hội để giao tiếp, để học hỏi kinh nghiệm từ chư Tôn Đức và Thiện Tri Thức để hoàn thiện chính mình trước khi có thể hoằng Pháp độ sanh. Hoàn thiện để phục vụ, phục vụ để hoàn thiện, con biết rất khó trở thành một Thiền Môn Long Tượng nhưng đó là động lực là hướng tu tập. Thân người khó được, Phật Pháp khó gặp, hãy sử dụng trọng đời này, thân này trong việc tu tập và xiển dương Giáo Pháp. Nhân Giới Sinh Định, nhân Định Phát Tuệ, giới định tuệ là căn bản cho tu tập và hoằng pháp lợi sanh. Giới Luật còn là Phật Pháp còn. Con xin trau sửa theo Giới Pháp Như Lai để hạnh phúc, an lạc, thăng hoa, giải thoát, “vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi tòa Như Lai, thuyết Pháp Như Lai”

    Source: NPD

    Read more »
  • Suy Gẩm Về Cuộc Sống.

    Đạo PHẬT vừa là triết học vừa là tôn giáo, đạo dạy ta sống hòa nhập với cuộc đời, mà cuộc sống là vô thường, sinh-lão-bệnh-tử không ai thoát khỏi. Sống tốt đẹp là  phải biết nhìn lại chính mình (Phản quang tự kỷ) xem mình có làm phiền ai không?, mình có phá vỡ mối liên hệ cộng đồng xã hội quanh ta hay không? Mình có làm điều gì ác hay không? Ta có vượt qua được chướng duyên và những nghiệp xấu hay không. Điều đầU tiên trong 14 LỜI đạo dạy "KẺ THÙ LỚN NHẤT CỦA ĐỜI NGƯỜI ĐÓ LÀ CHÍNH MÌNH"

    Đừng bao giờ trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn.

    Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc…

    Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm…

    Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học…Và… người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm.

    Đừng hứa khi đang… vui!

    Đừng trả lời khi đang… nóng giận!

    Đừng quyết đinh khi đang… buồn!

    Đừng cười khi người khác… không vui!

    Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.

    Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe.

    Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi.

    Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta.

    Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người).

    Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức.

    (trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t… ngơ ngác một mình với giờ phút dài thăm thẳm!)

    Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu. Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám.

    Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu.

    Đừng lo lăng nhiều qúa về con cái vì con cái có phần số của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống riêng. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng.

    Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn.

    Các con vô tình thì có thể sẽ tranh giành của cải của bạn ngay khi bạn còn sống, và còn muốn bạn chóng chết để chúng có thể thừa hưởng các bất động sản của bạn.

    Các con của bạn cho rằng chuyện chúng thừa hưởng tài sản của bạn là chuyện dĩ nhiên nhưng bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng.

    Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ. Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)?

    Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.

    Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi.

    Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng.

    Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng bạn hãy so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ… Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn…

    Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.

    Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”.

    Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.

    Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thừơng xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.

    Và nhất là biết trân qúy những điều tốt đẹp quanh mình và còn Bạn bè nữa… họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình… Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.

     

    Read more »
RSS