Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Most Popular Articles


  • Thần Chú Mật Tông.

    THẦN CHÚ HOÀ BÌNH

    Nam mô Tam Mãn Đa, Một Đà Nẩm, A Bát Ra Đế, Yết Đa Chiết, Chiết Nại Di, Án Kê Di, kế Di, dát tháp các tháp Nẩm, Mạt ngoã sơn đính, Bát ra đế, Ô Đát Ma Đát ma dát tháp, cát tháp nẩm mạt ngoã hồng phấn toá ha ( 21 lần).

    *Niệm nhiều phúc báu nhiều thì mau được thanh bình
    *Bài chú này có oai lực hàng ma, trừ tai nạn.
    *Nếu ta chú tâm tụng chú này ma quân khi nghe được rất kinh sợ, sẽ mất lòng chiến đấu giáo gươm rơi rớt.
    *Nếu đi sông biển tụng chú này được chư thần ủng hộ, đi đến nơi về đến chốn.
    *Binh sĩ tụng chú này, lúc lâm trận sẽ không bao giờ chết oan.
    *Nếu con nít khóc lóc cả đêm, tụng chú này trong nước thuốc, cho uống thì hết khóc.

    CHÚ HÀNG MA

    Ma Lệ, tỳ ma lệ, niết Ma Lệ, mông già lệ, hê ma la nhả kiệp bệ, tam mạn na, Bạt đề lệ, ta bà la dà, ta đàn ni Ba la ma tha ta đàn ni, ma na tư, a chuyết đề, tỳ la kỳ, am ma lại, đàn bà táp ma, tá lệ phú la nê, phú la na, ma nô lại đệ.
    *Đà La Ni này có thể chuyển thân nữ.

    *Tự biết túc mạng đời trước của mình.

    *Nếu thọ trì 5 điều: Phạm hạnh, không ăn cá thịt, không uống rượu, không ác tâm, thích ở vắng lặng. Rồi chí tâm tín thọ, đọc tụng, biên chép Đà La Ni này người ấy sẽ thoát khỏi 77 ức thân tệ ác
    Hàng phục các chúng ma quân

    BÀI CHÚ MA VƯƠNG CÚNG PHẬT

    Sá chỉ, trá trá la. Sá chỉ lô ha lệ, ma ha, lô Ha lệ, a lá, giá ra đa la toá ha. Bài Chú này có thể làm cho người điên cuồng, người kinh sợ, người thuyết pháp, người chẳng dứt Chánh Pháp điều được yên ổn.

    Nếu người nào thọ trì chú này mỗi ngày 100 biến, thì không còn sợ voi dữ làm hại; hoặc đi đến rừng hoang, đầm trống, những nơi nguy hiểm chẳng kinh sợ. Cũng không gập những sự tai hại nạn nước, lửa, đao binh, cọp, sói quân ác

    Thần chú của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (SAKYAMUNI Buddha):

    TAYATA: OM MUNI MUNI MAHA MUNIYE SOAHA.

    Câu chú này có khả năng tiêu diệt tội chướng.

    Hành giả khi trì tụng thì nếu có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong lúc trì tụng nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng.

    2.Thần chú của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na (MAHAVAIROCANA Buddha):

    OM AVIRA HUM KHAM VAJRA DHATU VAM

    OM NAMO BHAGAVATE SARVA DURGATE VAR SUDHANA ADZAYA TATHAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA TADYATHA OM SHUDHANE SHUDHANA SARVA PAPAM BOUSHUDHANE SHOUDE BOUSHUDE SARVA GHARMAVARANA BASHUDHANAYE SVAHA

    Câu chú của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na có khả năng giúp khiến các hương linh, súc sanh, ngã quỷ, chúng sanh trong địa ngục để giúp các chúng sanh đó được thoát kiếp và được i sanh trong các cảnh giới lành.

    Khi trì tụng thì hành giả phải phát tâm từ bi nhất tâm cầu nguyện cho các lchu1ng sanh đó được thoát khỏi kiếp khổ để đợc tái sanh trong các cảnh giới lành.

    1) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí chó các loài súc sanh và ngã quỷ.

    2) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất v.v để rải trên hòm hay mồ mả của người chết.

    3) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chổ có nước như là ao hồ để giúp đỡ cho loài chúng sanh ở trong nước khi chết rồi được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.

    3.Thần chú của Đức Phật A DI ĐÀ (AMITABHA Buddha):

    OM AMITABHA HRI

    Câu chú này có khả năng tiêu tội chướng, trì tụng câu chú này cũng giống như là niệm Nam Mô A Di Đà Phật.

    Hành giả khi trì tụng thì nếu có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật A Di Đà trong lúc trì tụng nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng và hành giả phải phát nguện cầu vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.

    Hành giả phải luôn luôn trì tụng nếu muốn được vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.

    Hành giả có thể tụng chú này để cầu siêu cho người chết được vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.

    4.Thần chú của Đức Phật Vô Lượng Thọ (AMITAYUS Buddha);

    OM NAMO BHAGAVATE APARIMITA AYUR JNYANA SUVINI CITTA TETSO RADZAYA TATHAGATAYA ARAHATE SAMYAK SAMBUDDHAYA TADHYATA OM PUNYE PUNYE MAHAPUNYE APARAMITA PUNNYE APARAMITA JNANA SOMBHARO PATSITE OM SARVA SAMSKARA PARISHUDDHA DHARMATE GAGANA SAMUDGATE SVABHAVA VISHUDDHE MAHANAYA PARIVARE SOHA.

    OM AMARANI JIWANTIYE SVAHA

    Hai câu chú trên dùng để cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.
    Khi trì tụng thì hành giả phải nhất tâm. Hành giả phải tụng càng nhiều càng tốt.

    5.Thần chú của Đức Phật Bất Động (ASHOBYA Buddha);

    NAMO RATNA TRAYAYA OM KHAM KHANI KHAM KANI ROTSANI ROTSANI TOTANI TOTANI TRASANI TRASANI PRATIHANA PRATIHANA SARWA KARMA PARAMPARA MINAY SARWA SATO NAYTSA SOHA

    Câu chú này dùng để bố thí cho nước và thức ăn cho súc sanh và chúng ngã quỷ. Các loại súc sanh và chúng ngã quỷ sau khi thọ nhận thức ăn và nước uống thì sau khi chết sẽ được tái sanh trong các cảnh giới lành.

    Hành giả phải nhất tâm trì tụng ít nhất là 7 lần rồi thổi vào trong nước và thức ăn để bố thí cho súc sanh và chúng ngã quỷ.

    6.Thần chú của Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang (BHAISAJYAGURU VAIDURYAPRABHARAJA Buddha):

    TAYATA: OM BEKANDZE BEKANDZE MAHABEKANDZE RANDZA SAMUDGATE SOHA

    Câu chú này có nhiều công năng:

    1) Sám hối tội chướng và giải nghiệp.

    2) Cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.

    3) Dùng để bố thí cho nước và thức ăn cho súc sanh và chúng ngã quỷ. Các loại súc sanh và chúng ngã quỷ sau khi thọ nhận thức ăn và nước uống thì sau khi chết sẽ được tái sanh trong các cảnh giới lành.

    4) Cầu giải oan kết đời trước, phá các thứ tà ma, bùa chú trấn yểm của các loài quỷ thần, tinh mỵ.

    Khi trì tụng thì hành giả phải nhất tâm. Hành giả phải tụng càng nhiều càng tốt.

    7.Thần chú của Đức Phật Kim Cang (VAJRASATTVA Buddha):

    OM VAJRASATTVA SAMAYA MANUPALAYA VAJRASATTVA DENOPA TITHA DIDO ME BHAVA SUTO KAYO ME BHAVA SUPO KAYO ME BHAVA ANURAKTO ME BHAVA SARVA SIDDHI ME PRAYATSA SARVA KARMA SU ZAME CHITTAM SHRIYAM KURU HUM HA HA HA HA HO BHAGAVAN SARVA TATHAGATA VAJRA MAME MUNZA VAJRA BHAVA MAHA SAMAYA SATTVA AH HUM PHET

    *Câu chú này có nhiều công năng:

    1) Sám hối tội chướng và giải nghiệp.

    2) Cầu giả oan kết đời trước.

    Hành giả khi trì tụng thì nếu ở có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật Kim Cang trong lúc trì tụng nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng. Hành giả phải nhất tâm trì tụng càng nhiều càng tốt.

    8.Thần chú của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (MANJUSHRI Bodhisattva):

    OM AH RA PA TSA NA DHIH

    Câu chú này dùng để phát sanh trí tuệ.

    9.Thần chú của Bồ Tát Đại Thế Chí (MAHASTHAMAPRAPTA Bodhisattva):

    ( VAJRAPANI Bodhisattva tên của Ngài Đại Thế Chí theo Mật Tông)

    OM VAJRAPANI HUM.

    Câu chú này dùng để hàng phục các thứ tà ma, quỷ quái.

    10.Thần chú của Bồ Tát Quán Thế Âm Chuẩn Đề (AVAKOKITESVARA CUNDI Bodhisattva):

    NAMO SAPTANAM SAMYAKSAMBUDDHA KOTINAM, TADYATHA: OM CALE CULE CUNDI SOHA

    Câu chú này dùng để hàng phục các thứ tà ma, quỷ quái, và mãn các sở nguyện

    11.Thần chú của Bồ Tát Hư Không Tạng (AKASAGARBHA Bodhisattva):

    AKASAGARBHAYA OM ARYA KAMARI MAULI SOHA.

    12.Thần chú của Bồ Tát Di Lặc (MAITREYA Bodhisattva):

    NAMO RATNA TRAYAYA NAMO BHAGAVATE SHAKYAMUNIYE TATHAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA. TADYATHA : OM AJITE AJITE APARAJITE AJITAÑCHAYA HA RA HA RA MAITRI AVALOKITE KARA KARA MAHA SAMAYA SIDDHI BHARA BHARA MAHA BODHI MANDA BIJA SMARA SMARA AHSMA KAM SAMAYA BODHI BODHI MAHA BODHI SOHA.

    Câu chú này có công năng giúp hành giả được tái sanh về cõi trời Đâu Xuất để gặp Đức Bồ Tát Di Lặc.

    13.Thần chú của Bồ Tát Phổ Hiền (SAMANTABHADRA Bodhisattva):

    ADANDE DANDA PATI DANDA VARTE DANDA KUSHALE DANDA SUDHARE SUDHARE SUDHA RAPATI BUDDHA PASHYANE SARVA DHARANI AVARTANI SARVAN DHASHYA VARTANI SU AVARTANI SAMGHA PARIKSHANI SAMGHA NARGHATANI ASAMGE SAMGA PAGATE TRI ADHVASAMGATULYA ARATE PRAPTY SAVA SAMGASAMA TIKRANTE SARVADHARMA SUPARIKE SARVASATTVA RUTA KAUSHALY ANUGATE SIMHAVIKRIDITE

    Câu chú này để giúp hành giả không bị các thứ chướng ngại trên sự tu tập. Hành giả phải nhất tâm trì tụng càng nhiều càng tốt.

    14.Thần chú của Bồ Tát Dược Vương (BHAISAJYA RADJA Bodisattva):

    ANYE MANYE MANE MAMANE CHITTE HARITE SHAME SHAMITAVI SHANTE MUKTE MUKTATAME SAME AVASHAME SAMA SAME KSHAYE AKSHAYE AKSHINE SHANTE SHAME DHARANI ALOKABHASHE PRATYAVEKSHANI NIVSHTE ABHYANTARANI VISHTE ATYANTAPARI SHUDDHI UKKULE MUKKULE ARADE PARADE SHUKAKASHI ASAMASAME BUDDHAVILOKITE DHARMAPARIKE SAMGHANIR GHOSHANI BHAYABHAYA SHODHANI MANTRE MANTRAK SHAYATE RUTE RUTA KAUSHALYE AKSHAYE AKSHAYAVA NATAYA ABALO AMANYA NATAYA.

    Câu chú trên dùng để cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.
    Hành giả phải nhất tâm trì tụng. Hành giả phải tụng càng nhiều càng tốt.

    15.Thần chú của Bồ Tát Địa Tạng (KSITIGARBHA Bodhisattva):

    NAMO RATNA TRAYAYA NAMO ARYA KSITIGARBHA BODHISATTVAYA MAHASATTVAYA TADYATH KSAM BHU KSAM BHU KSUD KSAM BHU AKASA KSAM BHU VAKRA KSAM BHU AMBARA KSAM BHU VIRA KSAM BHU VAJRA KSAM BHU ALOKA KSAM BHU DAMA KSAM BHU SATYAMA KSAM BHU SATYA NIRHARA KSAM BHU VYAVALOKA KSAN VA KSAM BHU UPASAMA KSAM BHU NAYANA KSAM BHU PRAJNA SAMBHUTI RANA KSAM BHU KSANA KSAM BHU VISILYA KSAM BHU SASTRAVAT KSAM BHU VYADA SU TAL MAHILE DAHILE DAME SAME CAKRASE CAKRA MASILE KSILE BHIRE HIRE GRAH SAMVARA VRATE HIRE PRABHE PRACALA VARTANE RATNA PALE CHA CHA CHA CHA HIRE MILE EKARTHA THA KHE THAKKURO THALE THALE MILE MATHE TADE KULE KU MILE SAMIRE ANGO CITTAVI ARI GIRI PRA-GIRI KUTTA SAMALE TUNGE TUNGE TUNGOLLE HURU HURU HURU KURU STU MILE MILITE SAM-M1LITALE BHANDANA HARA H1RE HURU HU RU RU BHAVA RAJA

    Câu chú này dùng để giúp cho các vong linh, chúng sanh trong súc sanh, ngã quỷ, địa ngục được siêu thoát và tái sanh trong các cảnh lành.

    16.Thần chú của Bồ Tát Quán Thế Âm (AVALOKITESVARA BODISATTVA):

    A) NAMO RATNA TRAYATA NAMO ARYA JANA SAGARA BEROTSANA BUHA RADZAYA TATAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA NAMO SARWA TATAGATEBHYE ARHATEBYE SAMYAKSAM BUDDHEBHYE NAMO ARYA AWALOKITE SHORAYA / BODHI SATOYA MAHA SATOYA MAHA ARUNIKAYA TAYATA/OM DARA DARA DIRI DIRI DURU DURU ITTE WATE TSALE TSALE PARTSALE PARTSALE KUSUME KUSUME WARE IHLI MILI TSITI DZOLA AHPANAYE SOHA.

    B) OM MANI PADME HUM.

    C) Thần chú của Bồ Tát Quán Thế Âm dùng để thí nước cho ngã quỉ:

    OM JNANA AVALOKITE SAMANTA PARANA RAMI BAWA SAMAYA MAHA MANI DURU DURU HRIH DAYA JALANI SOHA.

    *Các câu chú này có nhiều công năng:

    1) Sám hối tội chướng và giải nghiệp.

    2) Cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.

    3) Dùng để bố thí cho nước và thức ăn cho súc sanh và chúng ngã quỷ. Các loại súc sanh và chúng ngã quỷ sau khi thọ nhận thức ăn và nước uống thì sau khi chết sẽ được tái sanh trong các cảnh giới lành.

    4) Cầu giải oan kết đời trước, phá các thứ tà ma, bùa chú trấn yểm của các loài quỷ thần, tinh mỵ.

    5) Cầu cho các vong linh, chúng sanh trong súc sanh, ngã quỷ, địa ngục được siêu thoát và tái sanh trong các cảnh lành.

    *Cách thức thực hiện:

    1) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí cho các loài súc sanh và ngã quỷ.

    2) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất, bông hoa v.v để rải trên hòm hay trên mồ mả của người chết.

    3) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chổ có nước như là ao hồ, sông suối v.v để giúp đỡ cho loài chúng sanh ở trong nước khi chết rồi được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.

    17.Thần Chú Phật Đảnh Tôn Thắng (USHNISHAVIJAYA Buddha);

    OM NAMO BHAGAWATE / SARWA TAYLOKYA PARTI BISHIK TAYA/ BUDDHA YATAY NAMA / TAYATHA OM DRUM DRUM DRUM SHODAYA SHODAYA BISHODAYA BISHODAYA AHSAMA SAMENTA / AWABHASA PRANAGATI GAGANA SABAWA BISHUDAY / ABIKINTSEN TUMAM / SARWA TATHAGATA SUGATA BARABATSANA AMRITA AHBIKAYKARA MAHAMUDRA MENTRA PADAY / AHARA AHARA MAMA AHYU SAM DARANI / SHODAYA SHODAYA BISHODAYA BISHODAYA GAGANA SOBAWA BISHUDAY / UNIKA VIJAYA PARISHUDAY SAHASA / REMI SENTSO DITAY / SARWA TATHAGATA AHWALOKINI KATHA PARAMITA PARIPURANI / SARWA TATHAGATA MATAY DASHA BUMI PARTI TITAY / SARWA TATHAGATA HRIDAYA AHDITANA AHDITITAY / MUDRAY MUDRAY MAHA MUDRAY BENDZA KAYA SAMHATANA PARISHUDAY / SARWA KARMA AHWARANA BISHUDAY PARTINIWARTAYA MAMA AHYUR BISHUDAY / SARWA TATHAGATA SAMAYA AHDITANA AHDITITAY / OM MUNI MUNI MAHA MUNI / BIMUNI BIMUNI MAHA BIMUNI/ MATI MATI MAHA MATI / MAMATI SUMATI TATATA / BATAKOTI PARISHUDAY / BIPUTA BUDI SHUDAY / HAY HAY DZAYA DZAYA BIDZAYA BIDZAYA / MARA MARA PARA PARA PARAYA PARAYA SARWA BUDDHA AHDITANA AHDITITAY / SHUDAY SHUDAY BUDDAY BUDDAY BENDZAY BENDZAY MAHA BENDZAY / SUBENDZAY BENDZA GARBA DZAYA GARBAY BIDZAYA GARBAY / BENDZA DZOLA GARBAY / BENDZOEBAWAY BENDZA SAMBHAWAY / BENDZA BENDZERNI / BENDZA MABAWATU MAMA SHARIRAM / SARWA SATO NENTSA KAYA PARI SHUDIR BAWATU / ME SADA SARWA GATI PARISHUDI TSA / SARWA TATHAGATA TSA / MAM SAMA SHASAYENTU / BUDDHAYA BUDDHAYA SIDDHAYA SIDDHAYA BODAYA BODAYA BIBODAYA BIBODAYA / MOTSAYA MOTSAYA BIMOTSAYA BIMOTSAYA / SHODAYA SHODAYA BISHODAYA BISHODAYA / SAMENTANA MOTSAYA MOTSAYA / SAMENTA RAMIPARI SHUDAY / SARWA TATHAGATA HRIDAYA AHDITANA AHDITITAY / MUDAY MUDAY MAHA MUDAY / MAHAMUDRA MENTA PADAY SOHA.

    1) Câu chú này có khả năng giúp các hương linh, súc sanh, ngã quỷ, chúng sanh trong địa ngục được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.

    2) Câu chú này còn có công năng sám hối và dứt trừ nghiệp chướng.

    1) Hành giả tụng chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí cho các loài súc sanh và ngã quỷ.

    2) Hành giả tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất v.v để rải trên hòm hay mồ mả của người chết.

    3) Hành giả tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chổ có nước như là ao hồ để giúp đỡ cho loài chúng sanh ở trong nước khi chết rồi được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.

    18.Thần chú trong Bát Nhã Tâm Kinh (Maha Prajna Paramita Hridaya);

    TAYATA: OM GATE GATE PARAGATE PARASAMGATE BODHI SOHA.

    Công năng của câu chú này giúp phát triển trí tuệ, Hành giả trì tụng càng nhiều càng tốt.

    CỬU HUYỀN TINH TẤN BỐ THÍ CÔNG LỰC

    OM RA RÍT MA NÁ CHẮC CA RA CHẮC CA RA HÙM ( 3 lần ).

    ĐUỔI MA NGỦ

    Phù lụ tu, a tra ni tri phù lu tu, hầu hầu hầu hầu nã phù lu tu, tô ma tê phù lu tu, hô hô hô hô tra, phù lu tu soá ha ( 108 lần )

    ( Đây là bài Chú Đuổi Ma Ngủ, chúng nó không cho bạn tu tập, bất kì khi bạn cầm đến quyển kinh hay đọc chú, chúng ám làm cho chúng ta không tỉnh táo chỉ có ngủ thôi, chúng muốn nhập tâm thể và chiếm lấy thân xác không cho chúng ta tu tập gì hết. Lúc này, bạn cần nên trì bài chú này thì sẽ giải quyết vấn đề mà bạn đang gặp phải. Nguyên do bài chú này, là do Thượng Toạ trụ trì Linh Quang Tịnh Xá, Q4, TP. HCM truyền lại cho chúng đệ tử thân cận để dễ bề tu tập .)

    6.THẦN CHÚ CHENREZIG ( QUÁN TỰ TẠI )

    OM MANI PADME HUM

    Thần Chú này dùng để phát triển lòng Từ và Bi.

    7.LỤC ĐỘ MẪU TARA CĂN BẢN CHÚ

    *Phạn Ngữ: OM TARE TUTTARE TURE SVAHA.

    *Phạn âm: Om Ta Rê Tút Ta Rê Tô Rê Soa Ha.

    *Hán Việt: Úm Đá Lị Đốt Đa Lị Đô Lị Sa Ha.

    Thần Chú này ngăn ngừa sự sợ hãi và nguy hiểm, được xem là một chơn ngôn thành tựu nhiều thần thông và là một chơn ngôn thành công chắc chắn.

    8.THẦN CHÚ VAJRASATTVA ( Kim Cang Tát Đoả ):

    OM VAJRASATTVA HUM.

    Thần Chú này dùng để tịnh hoá.

    9.THẦN CHÚ TRƯỜNG THỌ

    OM AMARANI JIWENTIYE SVAHA.

    Thần Chú này trì niệm để cầu mong sự trường thọ.

    10.THẦN CHÚ SANGYE MENLA ( Dược Sư ):

    TEYATA OM BENKANZE BEKANZE MAHA BAKANZE RAJA SAMUNGATE SVAHA.

    Thần Chú này dùng để ngăn ngừa bệnh tật.

    11.THẦN CHÚ MANJUSHRI ( Văn Thù )

    OM ARA PA CHA NA DHI DHI DHI DHI DHI.

    Thần Chú này dùng để phát triền sự thấu hiểu thông thường và tâm linh.
    Read more »
  • BÙA PHÉP. Ích Lợi hoặc Hại như thế nào?

     

     

    BÙA CHÚ

     

    Bài viết này có giới hạn, chư Phật Tử trước khi dấn thân vào con đường LUYỆN BÙA CHÚ, phải suy gẩm về sư LỢI HẠI hiện tại chính bản thân mình và những người chung quanh, sự lợi ích như thế nào ?.

    Bùa chú cho dù luyện tới đâu KẾT QUẢ SẼ ĐỌA vào Địa Ngục, ngay trong kiếp sống còn hơi thở ra vào. Chết, con đường địa ngục sẽ mỡ rộng ra giống như Quốc Lộ 1A. Nguyên nhân hầu hết các loại Bùa Chú, căn bản là TÁNH ÁC…, ví dụ như Bùa Lổ Bang, Bùa 5 ông, Thiên Linh Cái v.v, thường người luyện bùa phép nói rất hay, nào là dùng bùa để trị bá bệnh, kêu hồn nhập xác, người bị nhập, người có xác, cả hai đều giảm phước đức, thiên hạ đâu ai hay biết. Thậm chí có mấy ông Thầy Pháp còn đọc Chú, để trục hồn hay Bắt Ma trừ Quỷ dử. Thật ra khi họ đọc những câu  Chú được truyền nhiều đời qua những vị thầy đều không hay biết tánh ác của tự câu chú. TẤT CẢ NHỮNG CÂU CHÚ THUỘC CẢNH GIỚI BÙA CHÚ LÀ KÊU QUỶ, MA, PHỤC VỤ LÀM VIỆC CHO HỌ, VÌ NẾU NHỮNG CHÚNG SANH QUỶ MA ĐÓ KHÔNG LÀM VIỆC CHO HỌ, SẼ BỊ HÌNH PHẠT KHỦNG KIẾP…TUY NHIÊN MẤY ÔNG THẦY PHÁP NÓI LÁO KHOÉT NÀO LÀ ĐƯA HỌ ĐI TU, HAY VỀ CẢNH GIỚI PHÂT CHÚA V.V….

    Hiện nay, tại VN rất nhiều nơi luyện BÙA CHÚ, đặc biệt là Bùa Lổ Bang, hoặc Bùa Con Khỉ ( Thầy Pháp gọi bùa này tên là LỤC TỀ ) v.v….Ngay cả nhiều nơi TÍN NGƯỠNG cũng có những vị tự xưng học Phật, học Chúa hay những tôn giáo khác cũng tư xưng nào là QUYỀN NĂNG BỀ TRÊN BAN CHO, đễ làm lợi lạc chúng sanh…THẬT ĐÁNG TIẾT sao mà VỌNG MÊ ÍT VẬY.

    Thời kỳ lẫn lộn thiện ác đều có đầy đủ, khi bước chân ra khỏi nhà. Quý Phật Tử cẩn thận THÂN KHẨU Ý, chớ làm mích lòng với mọi người chung quanh, bằng không sẽ gặp nhiều điều tai họa như THƯ ẾM v.v….Một khi, đã bị dính Bùa Chú vào thân, nhẹ thì bán nhà cữa ruộng đất để trị bệnh…Nặng thì sẽ theo ông bà, nên phải KHÉO PHƯƠNG TIỆN làm chúng sanh AN LẠC.( Bản thân mình và mọi người chung quanh.) NẾU ĐÃ DÍNH BÙA CHÚ, TRÙ ẾM phương pháp tốt nhất là nên tìm một vị CAO TĂNG có đức hạnh ( Bồ Đề Tâm ) hộ trì, TRÌ CHÚ, hay TỤNG KINH, CÚNG DƯỜNG BỐ THÍ may ra mới có thể tránh khỏi tánh mạng…CẨN THẬN !

    Phật Tử nên ĐOẠN TRỪ BÙA PHÉP hoặc  vẽ BÙA để được MAY MẮN, LÀM ĂN v.v....STOP...Phật Tử có thể tìm kinh Địa Tạng Vương HỌC và HIỂU thêm về Định Luật NHÂN QUẢ

    Thiền môn nhập phật soi đường
    Bùa cao chú nghiệp ác ma xa lìa
    Chư hồng phật tử suy tư
    Chân sau chân trước Hồng Danh Phật Đà
    Mạt thời Pháp Nhật Như Như
    Có không cao thấp kiếp trần thoáng qua
    A Di Đà Phật tưởng về
    Sen vàng nhị trắng, hành trì ba hơi

    ------------------------o0o------------------------------------------

    Phật Tử thành tâm NIỆM câu kinh dười đây CHẮC CHẰN sẽ thông suốt hiện tượng TỐT XẤU. Không cần phải HỌC BÙA CHÚ gì tùm lum....

    Úm tát phạ nhạ, Sát đát ra sam ma duệ thất lị duệ.
    Phiến để ca câu lô tát bà ha.

    LƯU Ý:

    DÙNG BÙA CHÚ HẠI NGƯỜI HAY GIÚP NGƯỜI SẼ BỊ ĐỌA VÀO VÔ GÁNG ĐỊA NGỤC, CỮU HUYỀN THẤT TỔ SẼ BỊ ẢNH HƯỞNG RẤT NẶNG TRÊN CON ĐƯỜNG VẢNG SANH VỀ CẢNH GIỚI HẠNH PHÚC.

    PHẬT TỬ NẾU BỊ BÙA CHÚ HẠI, THƯỜNG CÓ NHỮNG HIỆN TƯỢNG NHỨC ĐẦU, TỐI NGŨ GẶP NHIỀU ÁC MÔNG, HAY BỤNG PHÌNH LÊN, HOẶC NÓNG TRONG NGƯỜI, HAI CON MẮT ĐỎ QUÉT, CHIỀU ĐẾN BỊ LẠNH V.V.ĐI BÁC SĨ KHÁM KHÔNG RA BỆNH, ĐẾN CHÙA THÌ KHÔNG THÍCH HAY SƠ SỆT, THƯỜNG LÀM VIỆC ÁC..… GIA ĐÌNH BỊ TAI ƯƠNG, NHIỀU CHUYỆN XUI XẼO V.V..

    PHƯƠNG PHÁP HÓA GIẢI:

    ÚM BÊNH DA, SA TÔ HUM…THÀNH TÂM NIỆM CÂU CHÚ SẼ TỪ TỪ HÓA GIẢI, CHẮC CHẮN SẼ ĐƯỢC KHỎI BỆNH VÀ NHIỀU ĐIỀU TỐT LÀNH ĐẾN VỚI BẢN THÂN VÀ GIA ĐÌNH….

    KÍNH CHÚC QUÝ PHẬT TỬ NƯƠNG VÀO THIỆN CĂN CỦA MÌNH ĐANG CÓ CHUYỄN HÓA THÂN TÂM TRỞ VỀ CHƠN TÂM THƯỜNG TRÚ.

     

     

     

    Read more »
  • THỰC HÀNH TỪ THIỆN THEO MƯỜI ĐẠI NGUYỆN CỦA ĐỨC PHỔ HIỀN BỒ TÁT

     

    THỰC HÀNH TỪ THIỆN

    THEO MƯỜI ĐẠI NGUYỆN CỦA

    ĐỨC PHỔ HIỀN BỒ TÁT

    Pháp Hạnh

    “Phần hương nhứt niệm pháp không vương.

    Đại hạnh đồng tham biến kiết tường.

    Sát hải trần thân thi diệu lực.

    Trầm kha chướng nghiệp tổng an khương.”

     Cố Hòa Thượng Thích Trí Thủ

      Hội Từ Thiện Phật giáo Phổ Hiền (HTTPGPH) mang tên một vị Bồ Tát có “hành động lớn”.  Bồ Tát Phổ Hiền có 10 hạnh nguyện rộng lớn cứu độ và giác ngộ chúng sanh.  Ngài thực hành 10 hạnh nguyện này với vô số quyến thuộc để lợi ích cho đời.  Chúng ta cũng vậy, muốn lợi ích chúng sanh phải phát nguyện rộng lớn nơi tự tâm và có những người cùng tâm nguyện với mình trên bước đường từ thiện.  Đức Bồ Tát Phổ Hiền thị hiện với voi trắng 6 ngà an nhiên tự tại nhưng đầy uy nghiêm đi vào cuộc đời để lợi ích chúng sanh.  Lấy hình ảnh đầy bi, trí, dũng này, HTTPGPH được thành lập để nương nhờ thần lực của bồ tát Phổ Hiền mà tu học chuyển hóa và làm lợi ích cuộc đời.  Để làm được việc này, chúng ta cần phải áp dụng được 10 hạnh nguyện lớn của Ngài trong cuộc sống hằng ngày.  Hãy cùng nhau chiêm nghiệm và tìm ra phương cách áp dụng mười hạnh nguyện thù thắng này trong đời sống và trong sứ mạng từ thiện xã hội. 

              1.  Lễ kính chư Phật (Venerating all Buddhas): tức là thành tâm quy kính nương tựa nơi Phật bảo, là đấng phước trí vẹn toàn và tình thương không bờ bến.  Phật dạy mỗi chúng sanh đều có Phật tánh, tức là đều có hạt giống Phật trong tâm.  Vậy, lễ kính chư Phật còn có thể hiểu trong ngôn ngữ hiện đại là TÔN TRỌNG THA NHÂN.  Tôn trọng mỗi mỗi con người, tôn trọng mỗi mỗi mạng sống, và giúp người cơ hội phát huy Phật tánh sẳn có của mình.  Trong phạm vi gia đình không thôi, nếu con cái tôn trọng cha mẹ và ngược lại, cha mẹ tôn trọng con cái, thì mọi người đều được hạnh phúc và có nhịp cầu cảm thông.  Khi đi ủy lạo, thành viên của Hội Từ Tế (do Ni Sư Chứng Nghiêm lãnh đạo) chấp tay cung kính cúi chào người nhận.  Cử chỉ này giúp cho người nhận phát huy phẩm giá của mình mà nổ lực vượt qua khó khăn.  Vì vậy, Hội Từ Tế không những chi giúp người nghèo mà còn chuyển hóa họ trở thành những vị mạnh thường quân trong tương lai.  Chúng ta nên học theo phương pháp này của Hội Từ Tế trong công tác cứu trợ và từ thiện của mình.

    2.  Xưng tán Như Lai (Praising the Thus Come One-Tathagata): Như Lai là đấng Giác Ngộ.  Đấng đi vào thế giới khổ đau từ cảnh giới chân như thanh tịnh.  Ta xưng tán Như Lai là ngợi khen, tri ân, và cung đón sự đến của Ngài với chúng ta.  Nếu chúng ta ca ngợi đức Như Lai được, mà không ca ngợi được những đức tính tốt nơi tha nhân thì chúng ta chưa thành tựu được hạnh nguyện xưng tán Như Lai.  Trong các kinh, đức Phật thường hay khen ngợi “hay thay, hay thay” với đệ  tử của Ngài.  Ban tặng lời khen chân thành không giả dối xu nịnh cho tha nhân là giúp họ PHÁT TRIỂN LÒNG TỰ TIN.  Không có lòng tự tin thì làm sao một người dám bước lên hành trình chuyển hoá chính mình.  Cha mẹ mà khen ngợi con cái thì con cái sẽ tiếp tục làm những việc tốt.  Thầy Tổ mà khen ngợi đệ tử thì đệ tử sẽ nỗ lực tu học.  Lãnh đạo mà khen ngợi nhân viên là giúp cho nhân viên thấy được điểm mạnh của mình...Khen ngợi giúp cho người phát hiện được chân như Phật tánh tiềm ẩn trong họ.  Khen ngợi người cũng giúp ta bỏ tâm kiêu căng, coi mình là nhất.  Được khen ngợi, tha nhân có lòng tự tin hăng say làm việc Đạo. 

    3.  Quảng Tu Cúng Dường (Offering universally): là dâng cúng lên ngôi Tam Bảo.  Phật dạy cúng dường phải hội đủ 5 phần (ngũ phần hương): 1/ hương của giới (kỷ luật), 2/ định (an trụ), 3/ huệ (trí tuệ giác ngộ), 4/ giải thoát (vượt qua mọi chướng ngại), và 5/ giải thoát tri kiến (cái nhìn thoáng rộng, không phân biệt ta và người, không chấp trước).  Lại nữa, Phật dạy, phụng sự chúng sanh là cúng dường chư Phật; vì lẽ đó, chúng ta tu học theo Ngài Phổ Hiền là phụng sự chúng sanh theo tinh thần ngũ phần hương (làm việc trong tinh thần kỹ luật, tương kính, làm việc với tâm an trụ và vui vẻ, làm việc có tổ chức và khoa học, làm việc với tinh thần phục khó, và cuối cùng, làm việc với tinh thần không suy tính vụ lợi, không khởi tâm cao ngạo.  Chúng ta “quảng tu cúng dường” bằng cách PHỤNG SỰ THA NHÂN .

    4.  Sám Hối Nghiệp Chướng (Repenting unwholesome deeds): thân chúng ta đã gây ra nhiều nghiệp chẳng trọn lành (unwholesome), lời nói chúng ta đã gây nhiều đau khổ buồn giận cho người, ý chúng ta đã mưu đồ bao gian kế.  Những nghiệp chướng đó từ vô thủy cho đến nay chồng chất tạo ra thân mạng và hành động ngày hôm nay.  Chúng ta nhất tâm xin sám hối.  Sám hối bằng cách thân làm những việc thiện, miệng nói những lời an ủi đến tha nhân, và ý nghĩ suy những điều tốt đẹp, những phương chước giúp đời.  Sám hối nghiệp chướng là CHUYỂN HÓA NGHI ỆP XẤU.

    5.  Tùy Hỷ Công Đức (Rejoicing in the good deeds of others): Là vui với niềm vui của người, vui với việc thiện của người, và cùng nhau làm việc thiện đem an vui lợi lạc cho quần sanh.  Tùy hỉ công đức có thể diễn dịch theo ngôn ngữ hiện đại là biết HỢP TÁC CÙNG NHAU LÀM VIỆC THIỆN.  HTTPGPH kêu gọi các cá nhân và nhóm nhỏ đang làm công tác từ thiện cứu tế khắp nơi cùng làm việc với nhau.  Nếu làm việc chung, mỗi cá nhân, mỗi nhóm vẫn giữ nguyên tình trạng của mình, nhưng có chung những phương tiện và sự hỗ trợ cần thiết.  

    6.  Thỉnh Chuyển Pháp Luân (Petitioning the Dharma Wheel to be turned): khi đức Thế Tôn thuyết bài pháp đầu tiên, Ngài đã so sánh nó như là chuyển bánh xe.  Bánh xe đưa chiếc xe tình thương và trí tuệ chuyên chở chúng sanh đến nơi an toàn.  Bánh xe chánh pháp xoay chuyển mở ra không gian của tình thương rộng lơn .  Mời thỉnh chư Phật chuyển bánh xe chánh pháp là xin Phật khai triển Pháp giới cho chúng sanh nương trú.  Chúng ta cùng nhau mời gọi bao con tim mở rộng tình thương tạo nên một thế giới nhân bản và mẫn cảm hơn với nỗi đau của tha nhân. Thỉnh chuyển pháp luân là MỞ RỘNG VÒNG TAY TỪ ÁI.

    7.  Thỉnh Phật Trụ Thế (Pleading Buddha to remain in the world): tất cả những việc làm của chúng ta sẽ thiếu chân chánh nếu không có sự hướng đạo của Phật tánh.  Khi không nương theo Phật tánh thì mọi sự dù tốt trên hình thức cũng dễ dàng thành ma sự.  Chúng ta thỉnh Phật hiển hiện sáng ngời trong tâm ta và hướng dẫn ta trên con đường Bồ Tát Đạo.  Thỉnh Phật trụ thế cũng là thỉnh những vị Phật tương lai đến với chúng ta.  Những thiện nguyện viên, bảo trợ viên là những vị Bồ Tát cùng chung sức với Hội Từ Thiện Phổ Hiền xoa dịu nổi đau của tha nhân và giúp họ hành trang và công cụ Phật pháp để thành công trên đường đời.  Thỉnh Phật trụ thế vì vậy là LÀM VIỆC VỚI PHẬT TÂM HẰNG HỮU TRONG SÁNG.

    8.  Thường tùy Phật học (Persistent in pursuing the Path): Trên bước đường thực hành Bồ Tát Đạo, chúng ta luôn trao dồi giáo lý về Tình thương, Lòng vị tha, và Tâm giác ngộ.  Khi làm việc nhiều, chúng ta dễ sao lãng việc thực tập và dễ bị rơi vào tâm lý giãi đãi, lệ thuộc vào người khác.  Thường tùy Phật học là tự giác nổ lực VUN BỒI HẠT GIỐNG PHẬT.

    9.  Hằng thuận chúng sanh (Flexibly and skillfully helping all sentient beings): Bồ Tát hằng thuận chúng sanh bằng cách hóa hiện ra vô sô thân hình khác nhau cho phù hợp vơi hoàn cảnh và địa vị của họ để giáo hóa và cứu trợ chúng sanh.  Cũng như vậy, hành giả và thiện nguyện viên của Phổ Hiền trong mọi hình sắc và vai trò của mình, không phân biệt giàu nghèo, địa vị, đều có thể dấn thân làm lợi ích an vui cho người.  Hằng thuận chúng sanh là TRIỂN KHAI PHƯƠNG TIỆN THIỆN XẢO.

    10.  Phổ Giai Hồi Hướng (sharing merits universally): Hồi hướng là mang ra san sẻ phước báo của mình đến muôn loài. Trong Phật giáo, phước báo đóng vai trò quan trọng.  Phước báo có hữu lậu và vô lậu.  Chẳng hạn như làm việc thiện, bố thí cúng dường, thì sanh nhân giàu sang, nhưng được giàu sang rồi mà không lo tu thì cũng bị sa đọa .  Hồi hướng là chia sẽ phước báo đến người.  Khi chúng ta giàu mà xung quanh chỉ toàn những người nghèo, thì thử hỏi có vui gì? Khi đó, loạn tặc sẽ khắp nơi, ai ai cũng nơm nớp lo sợ, môi trường bị ô nhiễm, dù giàu mà vẫn phải hít bụi bặm và uống nước ô nhiễm thì đâu phải là hạnh phúc hoàn toàn .  Hồi hướng là đem công đức mà mình tạo được gieo duyên lành để tương lai có một cuộc sống an lành sung túc biết hướng thiện, làm lành, và luôn giữ được tâm Bồ Đề.  Hồi hướng còn là bỏ tâm tham chấp muốn giữ hết phước cho mình hay chấp thấy đo lường công quả hơn thua.  Hồi hướng là tạo ra pháp giới rộng lớn cho mình trong hiện tại và mai sau, là SỐNG VỚI TÂM RỘNG RÃI

              Tóm lại, 10 nguyện lớn của đức Phổ Hiền là kim chỉ nam hướng dẫn đời sống tu học và làm việc cho Hội Từ Thiện Phật Giáo Phổ Hiền.  Nó cũng là chìa khóa để đi đến hạnh phúc và giải thoát cho mình và cho người.  Chúng ta hãy thể nghiệm 10 hạnh nguyện này trong cuộc sống và Phật sự từ thiện xã hội để mang an vui lợi lạc đến cho mình và người.

    Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát

    Read more »
RSS