Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Most Popular Articles


  • ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ, TÂY PHƯƠNG TAM THÁNH CÓ TIẾP DẪN NGƯỜI TU KHÔNG?

    ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ, 
    TÂY PHƯƠNG TAM THÁNH 
    CÓ TIẾP DẪN NGƯỜI TU KHÔNG?

    Thích Giác Chinh

    Nhân việc nhiều người hỏi:


    - Đức Phật A Di Đà, Tây phương Tam thánh có tiếp dẫn người tu không?

    Đáp:

    - Câu trả lời là Không, không thể có chuyện đợi đến lúc trút hơi thở cuối cùng ra đi rồi tiếp dẫn đón về thế giới Tây phương, vì như vậy là sai ngược với giáo pháp Nhân quả, ngược với Chân lý Tứ diệu đế.

    Vì vậy, hãy từ bỏ cách niệm Phật mê tín, nó sẽ không dẫn đến con đường giác ngộ chân lý tối hậu, người tu có trí và tuệ giác giác ngộ không ai chọn tịnh độ mê lầm, thiếu chánh kiến.

    Hỏi: Vậy lâu nay, Tôi (con) đã niệm Phật tiếp dẫn thì bây giờ có phải đã quá muộn rồi không?

    Đáp:

    - Pháp giác ngộ tĩnh thức không bao giờ muộn khi một người trí quay đầu và bắt đầu thực hành giáo pháp. Đó là giáo pháp Bát chánh, con đường đưa đến an vui, tĩnh thức, tịch tịnh, giác ngộ, chứng đạt chân lý. Đó là pháp hành của người tu có chánh tri kiến.

    Hỏi:

    - Nhưng như vậy, lâu nay và đến lúc này Tôi (con) đã biết, có phải rằng là đã quá hoang mang, con không thể ngồi thiền thì làm sao?

    Đáp:

    - Đâu phải ngồi thiền mới giác ngộ!

    Phật giáo đề cập đến đặc tính Vô thường, Vô ngã là bản chất của tất cả sự vật hiện tượng dù thuộc vật lý hay thuộc tâm lý. Như vậy, một thế giới Tây phương và một Phật Di Đà tiếp dẫn (hoặc Tây phương Tam thánh tiếp dẫn về tịnh độ) được xác định như thế nào khi mà tất cả đều luôn thay đổi, biến chuyển, không có một tự tính tự tồn nhất định?

    Với nguyên lý hệ thuộc (điều kiện, nhân duyên), và tất cả đều luôn thay đổi, biến chuyển, không có một tự tính tự tồn nhất định, chính là bản chất của Phật giáo và là pháp môn - pháp hành của người Phật tử. Niệm Phật cầu nguyện để về Tây phương nó không đưa đến giác ngộ, nó làm ra con đường đẹp và cụt, nó đưa đến cuối chân tường không lối thoát và rồi nó trở thành nguy hại cho Giác ngộ giáo pháp Tứ đế do Đức Phật Thích Ca khám phá ra (khám phá chứ không sáng tạo ra).

    Niệm Phật A Di Đà Tiếp dẫn và cứ mù quáng thực hành cầu, nguyện, và tin sẽ được vãng sanh về một thế giới đó là chấp ngã, nếu không muốn nói là Tà chấp, điều này trái ngược hoàn toàn với giáo pháp Bát chánh đạo trong Phật giáo.

    Mong rằng, bằng cách thể hiện giáo pháp, ít ra con và đối với những ai có chút nhân duyên về Phật giáo hãy nên nhanh chóng giác ngộ điều này; nói ra để thấy pháp với tinh thần chia sẽ và từ bi chứ không phải vì phân biệt hay chỉ trích hoặc với thái độ vạch lá tìm sâu, một hành giả thực hành giáo pháp không ai làm điều đó.

    Như vậy, giác ngộ hay không do chính mình lựa chọn và thực hành. An lạc và giác ngộ không thể nào ép buộc mà thành, giác ngộ và trí tuệ đến do buông bỏ mà thành chứ không phải do tiếp dẫn và cầu nguyện để được về mới được.

    Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và Phật giáo chỉ rõ mọi hiện tượng tâm lý và vật lý tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác. Chúng không có tự ngã, lại càng không có cơ sở tự tồn hoặc cở sở tồn tại do Thượng đế ban cho. Nếu nói rằng Phật A Di Đà có tiếp dẫn thì A Di Đà không phải vị Phật và là không khác gì một vị Thượng đế có quyền năng ban cho năng lực để có thể về Tây phương, điều này không thể và không phải là giáo pháp Vô ngã của Phật giáo.

    Bản chất của sự tồn tại thế giới và sự sống chính là một dòng chuyển biến liên tục (vô thường), không do một thần linh hay Thượng đế nào sáng tạo ra, và chúng không tồn tại vĩnh hằng. Mọi sự vật hiện tượng đều vận động theo một quá trình của sự hệ thuộc vào sự sinh ra, tụ lại, biến đổi và cuối cùng là hoại diệt theo một quy luật Nhân quả nhất định. Mỗi tác động dưới một điều kiện nhất định thì sẽ tạo thành một kết quả tương ứng. Khi nhận thức rõ bản chất này, còn người sẽ hình thành nên một nhận thức tích cực trong đời sống. 
     
    Đó chính là nhận thức của sự chấm dứt hành động bất thiện, chấm dứt một ý niệm xấu hoặc một hành động xấu và ác; và từ đó, đối với hành động thực hành pháp Bát chánh đạo của hành giả mới bắt đầu có mặt, không cầu, không nguyện và không có tiếp dẫn trong một Đạo Phật giác ngộ.
     
    source: TVHS

     

    Read more »
  • LỜI KHUYÊN CHO MỘT HÀNH GIẢ ĐANG HẤP HỐI

     

    LỜI KHUYÊN CHO MỘT HÀNH GIẢ ĐANG HẤP HỐI
    Dodrupchen Jigme Tenpe Nyima[1] soạn
    Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ

    Bạn cần tiến hành những chuẩn bị trước thời điểm cái chết xảy đến. Có nhiều khía cạnh liên quan đến điều này, nhưng ở đây, tôi sẽ không đi vào chi tiết quá nhiều. Nói ngắn gọn thì đây là điều mà bạn cần làm khi bạn tiến gần đến thời điểm chết.

    Hãy tự nhủ nhiều lần rằng: “Dù cái chết xảy đến sớm hay muộn, rốt ráo thì không có lựa chọn nào khác ngoài từ bỏ thân này cùng tất cả tài sản của tôi. Toàn bộ thế giới đều như vậy”. Suy nghĩ theo những dòng trên, hãy cắt đứt hoàn toàn gông cùm của ham muốn và tham luyến. Hãy sám hối mọi hành động gây hại mà bạn đã phạm phải trong đời này và mọi đời khác của bạn, cũng như bất kỳ sa sút hay vi phạm giới luật nào mà bạn có thể đã gây ra, vô tình hay cố ý và lặp đi lặp lại việc thề không bao giờ hành xử theo cách như vậy trong tương lai.

    Đừng bao giờ lo âu hay sợ hãi về cái chết. Thay vào đó, hãy cố gắng cải thiện tâm trạng và trưởng dưỡng một nhận thức hoan hỷ rõ ràng, nhớ về mọi điều tích cực, thiện lành mà bạn đã làm trong quá khứ. Không cảm thấy bất kỳ dấu vết nào của kiêu căng ngạo mạn, hãy tôn vinh những thành tựu của bạn nhiều lần. Hãy hồi hướng tất cả công đức của bạn và phát nguyện nhiều lần, để trong mọi đời tương lai, bạn có thể thấu triệt toàn bộ con đường của tối thượng thừa, với sự dẫn dắt của một thiện tri thức tâm linh thiện lành và với những phẩm tính như niềm tintinh tấntrí tuệ và tận tâm – nói cách khác, tất cả những hoàn cảnh hoàn hảo nhất, cả trong lẫn ngoài.

    Các bản văn Luật Tạng Vinaya giải thích rằng một trong những nguyên nhân căn bản để có một hình tướng tái sinh thù thắng, ví dụ là một vị sống đời kỷ luật trước sự hiện diện của Đức Phật, là phát những lời cầu nguyện và mong ước vào lúc chết. Đó là lý do người ta nói rằng ‘bất cứ điều gì gần nhất và bất cứ điều gì quen thuộc nhất’ sẽ có sức mạnh lớn lao[2].

    Bất kỳ mong ước nào mà bạn phát khởi đều cần có một sự thúc đẩy bổ sung bằng cách quyết tâm thề như thế này: “Trong mọi đời của tôi, tôi sẽ làm tất cả những gì có thể để rèn luyện trên con đường của tính Không với lòng bi mẫn chính là tinh túy!”. Để trân trọng tầm quan trọng của điều này, hãy xem xét mức độ hiệu quả hơn khi mạnh mẽ nói với bản thân, “Tôi sẽ thức dậy vào sáng sớm!” thay vì chỉ đơn giản phát nguyện “Mong tôi có thể dậy sớm!”.

     

    Để hoàn thành một cách dễ dàng hơn bất cứ lời cầu nguyện nào mà bạn đã phát khởi hay những ý định mà bạn đã hình thành, sẽ vô cùng lợi lạc nếu nương tựa một hiện thân của sức mạnh tâm linh. Vì thế, hãy nhớ về vị mà bạn có lòng sùng mộ lớn lao nhất hay người mà bạn cảm thấy kết nối sâu sắc nhất nhờ sự hành trì, dù đó là đạo sư vinh quang và vĩ đại xứ Oddiyana – Guru Rinpoche hay Thánh Quán Thế Âm – Thế Gian Tự Tại và với sự xác quyết tin tưởng rằng Ngài chính là hiện thân của tất cả cội nguồn quy y quý báunhất tâm cầu nguyện vì sự viên thành của những mong ước.

    Vào thời điểm cái chết thực sự xảy ra, sẽ thật khó để gom góp đủ sức mạnh của tâm để thiền định về thứ gì đó mới mẻ hay xa lạ – đấy là lý do bạn phải lựa chọn một thiền định thích hợp trước và rèn luyện cho đến khi quen thuộc. Sau đấy, khi bạn qua đời, bạn cần dồn hết những ý nghĩ của bạn cho thiền định đó, càng nhiều càng tốt, dù đó là nhớ về Đức Phật, tập trung vào cảm xúc bi mẫn, trưởng dưỡng tri kiến tính Không hay nhớ Giáo Pháp hoặc Tăng đoàn. Để điều này xảy ra thành công, điều cũng rất quan trọng là bạn rèn luyện bản thân trước để nghĩ rằng, “Từ nay trở đi, khi tôi trải qua thời khắc then chốt của cái chết, tôi sẽ không cho phép bất kỳ ý nghĩ tiêu cực nào thâm nhập vào tâm”.

    Chư Thánh quá khứ có câu nói rằng, “Chỉ một ngày làm thiện với sự sáng suốt tinh thần thì tốt hơn so với rất nhiều hoạt động thiện lành được tiến hành với tâm mê mờ và che chướng”. Như điều này chỉ ra, nếu bạn thực hành tất cả những điều này khi mà trước tiên đã nỗ lực hết sức để phát triển nhận thức hứng khởi và hoan hỷ, sẽ hữu hiệu hơn rất nhiều.

    Mặc dù thật khó để người như tôi làm lợi lạc chúng sinh khác, tôi sẽ trì tụng những đoạn kệ quy y và cầu nguyện rằng trong mọi đời tương lai, các bạn có thể đi theo giáo lý Đại thừa.

    Được viết bởi vị gọi là Vô Úy (Jigme).

    Trích TVHS

     

    Nguồn Anh ngữ: Advice for a Dying Practitioner (https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/dodrupchen-III/advice-dying-practitioner).

    Adam Pearcey chuyển dịch Tạng-Anh năm 2006 nhằm tưởng nhớ Ian Maxwell.

    Pema Jyana chuyển dịch Việt ngữ.



    [1] Theo Rigpawiki, Dodrupchen Jigme Tenpe Nyima, vị Dodrupchen Rinpoche thứ ba (1865-1926) – một trong những đạo sư Tây Tạng xuất sắc nhất thời ấy và là đạo sư của nhiều đạo sư vĩ đại, bao gồm Đức Jamyang Khyentse Chokyi Lodro. Ngài được Đức Dalai Lama vô cùng kính trọng, vị gọi Ngài là “học giả vĩ đại và Yogi xuất chúng”. Các trước tác của Ngài là một trong những cội nguồn chính yếu được Đức Dalai Lama sử dụng trong các nghiên cứu cá nhân về Đại Viên Mãn Dzogchen và Đức Dalai Lama thường xuyên trích dẫn Ngài trong lúc giảng dạy.

    [2] Nói cách khác, những ý nghĩ mà chúng ta có vào thời khắc gần cái chết nhất và những gì mà chúng ta đã quen thuộc nhất trong đời sẽ có ảnh hưởng lớn nhất trong việc quyết định sự tái sinh của chúng ta.

    Read more »
  • Thần Chú Mật Tông.

    THẦN CHÚ HOÀ BÌNH

    Nam mô Tam Mãn Đa, Một Đà Nẩm, A Bát Ra Đế, Yết Đa Chiết, Chiết Nại Di, Án Kê Di, kế Di, dát tháp các tháp Nẩm, Mạt ngoã sơn đính, Bát ra đế, Ô Đát Ma Đát ma dát tháp, cát tháp nẩm mạt ngoã hồng phấn toá ha ( 21 lần).

    *Niệm nhiều phúc báu nhiều thì mau được thanh bình
    *Bài chú này có oai lực hàng ma, trừ tai nạn.
    *Nếu ta chú tâm tụng chú này ma quân khi nghe được rất kinh sợ, sẽ mất lòng chiến đấu giáo gươm rơi rớt.
    *Nếu đi sông biển tụng chú này được chư thần ủng hộ, đi đến nơi về đến chốn.
    *Binh sĩ tụng chú này, lúc lâm trận sẽ không bao giờ chết oan.
    *Nếu con nít khóc lóc cả đêm, tụng chú này trong nước thuốc, cho uống thì hết khóc.

    CHÚ HÀNG MA

    Ma Lệ, tỳ ma lệ, niết Ma Lệ, mông già lệ, hê ma la nhả kiệp bệ, tam mạn na, Bạt đề lệ, ta bà la dà, ta đàn ni Ba la ma tha ta đàn ni, ma na tư, a chuyết đề, tỳ la kỳ, am ma lại, đàn bà táp ma, tá lệ phú la nê, phú la na, ma nô lại đệ.
    *Đà La Ni này có thể chuyển thân nữ.

    *Tự biết túc mạng đời trước của mình.

    *Nếu thọ trì 5 điều: Phạm hạnh, không ăn cá thịt, không uống rượu, không ác tâm, thích ở vắng lặng. Rồi chí tâm tín thọ, đọc tụng, biên chép Đà La Ni này người ấy sẽ thoát khỏi 77 ức thân tệ ác
    Hàng phục các chúng ma quân

    BÀI CHÚ MA VƯƠNG CÚNG PHẬT

    Sá chỉ, trá trá la. Sá chỉ lô ha lệ, ma ha, lô Ha lệ, a lá, giá ra đa la toá ha. Bài Chú này có thể làm cho người điên cuồng, người kinh sợ, người thuyết pháp, người chẳng dứt Chánh Pháp điều được yên ổn.

    Nếu người nào thọ trì chú này mỗi ngày 100 biến, thì không còn sợ voi dữ làm hại; hoặc đi đến rừng hoang, đầm trống, những nơi nguy hiểm chẳng kinh sợ. Cũng không gập những sự tai hại nạn nước, lửa, đao binh, cọp, sói quân ác

    Thần chú của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (SAKYAMUNI Buddha):

    TAYATA: OM MUNI MUNI MAHA MUNIYE SOAHA.

    Câu chú này có khả năng tiêu diệt tội chướng.

    Hành giả khi trì tụng thì nếu có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong lúc trì tụng nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng.

    2.Thần chú của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na (MAHAVAIROCANA Buddha):

    OM AVIRA HUM KHAM VAJRA DHATU VAM

    OM NAMO BHAGAVATE SARVA DURGATE VAR SUDHANA ADZAYA TATHAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA TADYATHA OM SHUDHANE SHUDHANA SARVA PAPAM BOUSHUDHANE SHOUDE BOUSHUDE SARVA GHARMAVARANA BASHUDHANAYE SVAHA

    Câu chú của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na có khả năng giúp khiến các hương linh, súc sanh, ngã quỷ, chúng sanh trong địa ngục để giúp các chúng sanh đó được thoát kiếp và được i sanh trong các cảnh giới lành.

    Khi trì tụng thì hành giả phải phát tâm từ bi nhất tâm cầu nguyện cho các lchu1ng sanh đó được thoát khỏi kiếp khổ để đợc tái sanh trong các cảnh giới lành.

    1) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí chó các loài súc sanh và ngã quỷ.

    2) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất v.v để rải trên hòm hay mồ mả của người chết.

    3) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chổ có nước như là ao hồ để giúp đỡ cho loài chúng sanh ở trong nước khi chết rồi được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.

    3.Thần chú của Đức Phật A DI ĐÀ (AMITABHA Buddha):

    OM AMITABHA HRI

    Câu chú này có khả năng tiêu tội chướng, trì tụng câu chú này cũng giống như là niệm Nam Mô A Di Đà Phật.

    Hành giả khi trì tụng thì nếu có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật A Di Đà trong lúc trì tụng nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng và hành giả phải phát nguện cầu vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.

    Hành giả phải luôn luôn trì tụng nếu muốn được vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.

    Hành giả có thể tụng chú này để cầu siêu cho người chết được vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.

    4.Thần chú của Đức Phật Vô Lượng Thọ (AMITAYUS Buddha);

    OM NAMO BHAGAVATE APARIMITA AYUR JNYANA SUVINI CITTA TETSO RADZAYA TATHAGATAYA ARAHATE SAMYAK SAMBUDDHAYA TADHYATA OM PUNYE PUNYE MAHAPUNYE APARAMITA PUNNYE APARAMITA JNANA SOMBHARO PATSITE OM SARVA SAMSKARA PARISHUDDHA DHARMATE GAGANA SAMUDGATE SVABHAVA VISHUDDHE MAHANAYA PARIVARE SOHA.

    OM AMARANI JIWANTIYE SVAHA

    Hai câu chú trên dùng để cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.
    Khi trì tụng thì hành giả phải nhất tâm. Hành giả phải tụng càng nhiều càng tốt.

    5.Thần chú của Đức Phật Bất Động (ASHOBYA Buddha);

    NAMO RATNA TRAYAYA OM KHAM KHANI KHAM KANI ROTSANI ROTSANI TOTANI TOTANI TRASANI TRASANI PRATIHANA PRATIHANA SARWA KARMA PARAMPARA MINAY SARWA SATO NAYTSA SOHA

    Câu chú này dùng để bố thí cho nước và thức ăn cho súc sanh và chúng ngã quỷ. Các loại súc sanh và chúng ngã quỷ sau khi thọ nhận thức ăn và nước uống thì sau khi chết sẽ được tái sanh trong các cảnh giới lành.

    Hành giả phải nhất tâm trì tụng ít nhất là 7 lần rồi thổi vào trong nước và thức ăn để bố thí cho súc sanh và chúng ngã quỷ.

    6.Thần chú của Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang (BHAISAJYAGURU VAIDURYAPRABHARAJA Buddha):

    TAYATA: OM BEKANDZE BEKANDZE MAHABEKANDZE RANDZA SAMUDGATE SOHA

    Câu chú này có nhiều công năng:

    1) Sám hối tội chướng và giải nghiệp.

    2) Cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.

    3) Dùng để bố thí cho nước và thức ăn cho súc sanh và chúng ngã quỷ. Các loại súc sanh và chúng ngã quỷ sau khi thọ nhận thức ăn và nước uống thì sau khi chết sẽ được tái sanh trong các cảnh giới lành.

    4) Cầu giải oan kết đời trước, phá các thứ tà ma, bùa chú trấn yểm của các loài quỷ thần, tinh mỵ.

    Khi trì tụng thì hành giả phải nhất tâm. Hành giả phải tụng càng nhiều càng tốt.

    7.Thần chú của Đức Phật Kim Cang (VAJRASATTVA Buddha):

    OM VAJRASATTVA SAMAYA MANUPALAYA VAJRASATTVA DENOPA TITHA DIDO ME BHAVA SUTO KAYO ME BHAVA SUPO KAYO ME BHAVA ANURAKTO ME BHAVA SARVA SIDDHI ME PRAYATSA SARVA KARMA SU ZAME CHITTAM SHRIYAM KURU HUM HA HA HA HA HO BHAGAVAN SARVA TATHAGATA VAJRA MAME MUNZA VAJRA BHAVA MAHA SAMAYA SATTVA AH HUM PHET

    *Câu chú này có nhiều công năng:

    1) Sám hối tội chướng và giải nghiệp.

    2) Cầu giả oan kết đời trước.

    Hành giả khi trì tụng thì nếu ở có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật Kim Cang trong lúc trì tụng nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng. Hành giả phải nhất tâm trì tụng càng nhiều càng tốt.

    8.Thần chú của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (MANJUSHRI Bodhisattva):

    OM AH RA PA TSA NA DHIH

    Câu chú này dùng để phát sanh trí tuệ.

    9.Thần chú của Bồ Tát Đại Thế Chí (MAHASTHAMAPRAPTA Bodhisattva):

    ( VAJRAPANI Bodhisattva tên của Ngài Đại Thế Chí theo Mật Tông)

    OM VAJRAPANI HUM.

    Câu chú này dùng để hàng phục các thứ tà ma, quỷ quái.

    10.Thần chú của Bồ Tát Quán Thế Âm Chuẩn Đề (AVAKOKITESVARA CUNDI Bodhisattva):

    NAMO SAPTANAM SAMYAKSAMBUDDHA KOTINAM, TADYATHA: OM CALE CULE CUNDI SOHA

    Câu chú này dùng để hàng phục các thứ tà ma, quỷ quái, và mãn các sở nguyện

    11.Thần chú của Bồ Tát Hư Không Tạng (AKASAGARBHA Bodhisattva):

    AKASAGARBHAYA OM ARYA KAMARI MAULI SOHA.

    12.Thần chú của Bồ Tát Di Lặc (MAITREYA Bodhisattva):

    NAMO RATNA TRAYAYA NAMO BHAGAVATE SHAKYAMUNIYE TATHAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA. TADYATHA : OM AJITE AJITE APARAJITE AJITAÑCHAYA HA RA HA RA MAITRI AVALOKITE KARA KARA MAHA SAMAYA SIDDHI BHARA BHARA MAHA BODHI MANDA BIJA SMARA SMARA AHSMA KAM SAMAYA BODHI BODHI MAHA BODHI SOHA.

    Câu chú này có công năng giúp hành giả được tái sanh về cõi trời Đâu Xuất để gặp Đức Bồ Tát Di Lặc.

    13.Thần chú của Bồ Tát Phổ Hiền (SAMANTABHADRA Bodhisattva):

    ADANDE DANDA PATI DANDA VARTE DANDA KUSHALE DANDA SUDHARE SUDHARE SUDHA RAPATI BUDDHA PASHYANE SARVA DHARANI AVARTANI SARVAN DHASHYA VARTANI SU AVARTANI SAMGHA PARIKSHANI SAMGHA NARGHATANI ASAMGE SAMGA PAGATE TRI ADHVASAMGATULYA ARATE PRAPTY SAVA SAMGASAMA TIKRANTE SARVADHARMA SUPARIKE SARVASATTVA RUTA KAUSHALY ANUGATE SIMHAVIKRIDITE

    Câu chú này để giúp hành giả không bị các thứ chướng ngại trên sự tu tập. Hành giả phải nhất tâm trì tụng càng nhiều càng tốt.

    14.Thần chú của Bồ Tát Dược Vương (BHAISAJYA RADJA Bodisattva):

    ANYE MANYE MANE MAMANE CHITTE HARITE SHAME SHAMITAVI SHANTE MUKTE MUKTATAME SAME AVASHAME SAMA SAME KSHAYE AKSHAYE AKSHINE SHANTE SHAME DHARANI ALOKABHASHE PRATYAVEKSHANI NIVSHTE ABHYANTARANI VISHTE ATYANTAPARI SHUDDHI UKKULE MUKKULE ARADE PARADE SHUKAKASHI ASAMASAME BUDDHAVILOKITE DHARMAPARIKE SAMGHANIR GHOSHANI BHAYABHAYA SHODHANI MANTRE MANTRAK SHAYATE RUTE RUTA KAUSHALYE AKSHAYE AKSHAYAVA NATAYA ABALO AMANYA NATAYA.

    Câu chú trên dùng để cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.
    Hành giả phải nhất tâm trì tụng. Hành giả phải tụng càng nhiều càng tốt.

    15.Thần chú của Bồ Tát Địa Tạng (KSITIGARBHA Bodhisattva):

    NAMO RATNA TRAYAYA NAMO ARYA KSITIGARBHA BODHISATTVAYA MAHASATTVAYA TADYATH KSAM BHU KSAM BHU KSUD KSAM BHU AKASA KSAM BHU VAKRA KSAM BHU AMBARA KSAM BHU VIRA KSAM BHU VAJRA KSAM BHU ALOKA KSAM BHU DAMA KSAM BHU SATYAMA KSAM BHU SATYA NIRHARA KSAM BHU VYAVALOKA KSAN VA KSAM BHU UPASAMA KSAM BHU NAYANA KSAM BHU PRAJNA SAMBHUTI RANA KSAM BHU KSANA KSAM BHU VISILYA KSAM BHU SASTRAVAT KSAM BHU VYADA SU TAL MAHILE DAHILE DAME SAME CAKRASE CAKRA MASILE KSILE BHIRE HIRE GRAH SAMVARA VRATE HIRE PRABHE PRACALA VARTANE RATNA PALE CHA CHA CHA CHA HIRE MILE EKARTHA THA KHE THAKKURO THALE THALE MILE MATHE TADE KULE KU MILE SAMIRE ANGO CITTAVI ARI GIRI PRA-GIRI KUTTA SAMALE TUNGE TUNGE TUNGOLLE HURU HURU HURU KURU STU MILE MILITE SAM-M1LITALE BHANDANA HARA H1RE HURU HU RU RU BHAVA RAJA

    Câu chú này dùng để giúp cho các vong linh, chúng sanh trong súc sanh, ngã quỷ, địa ngục được siêu thoát và tái sanh trong các cảnh lành.

    16.Thần chú của Bồ Tát Quán Thế Âm (AVALOKITESVARA BODISATTVA):

    A) NAMO RATNA TRAYATA NAMO ARYA JANA SAGARA BEROTSANA BUHA RADZAYA TATAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA NAMO SARWA TATAGATEBHYE ARHATEBYE SAMYAKSAM BUDDHEBHYE NAMO ARYA AWALOKITE SHORAYA / BODHI SATOYA MAHA SATOYA MAHA ARUNIKAYA TAYATA/OM DARA DARA DIRI DIRI DURU DURU ITTE WATE TSALE TSALE PARTSALE PARTSALE KUSUME KUSUME WARE IHLI MILI TSITI DZOLA AHPANAYE SOHA.

    B) OM MANI PADME HUM.

    C) Thần chú của Bồ Tát Quán Thế Âm dùng để thí nước cho ngã quỉ:

    OM JNANA AVALOKITE SAMANTA PARANA RAMI BAWA SAMAYA MAHA MANI DURU DURU HRIH DAYA JALANI SOHA.

    *Các câu chú này có nhiều công năng:

    1) Sám hối tội chướng và giải nghiệp.

    2) Cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.

    3) Dùng để bố thí cho nước và thức ăn cho súc sanh và chúng ngã quỷ. Các loại súc sanh và chúng ngã quỷ sau khi thọ nhận thức ăn và nước uống thì sau khi chết sẽ được tái sanh trong các cảnh giới lành.

    4) Cầu giải oan kết đời trước, phá các thứ tà ma, bùa chú trấn yểm của các loài quỷ thần, tinh mỵ.

    5) Cầu cho các vong linh, chúng sanh trong súc sanh, ngã quỷ, địa ngục được siêu thoát và tái sanh trong các cảnh lành.

    *Cách thức thực hiện:

    1) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí cho các loài súc sanh và ngã quỷ.

    2) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất, bông hoa v.v để rải trên hòm hay trên mồ mả của người chết.

    3) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chổ có nước như là ao hồ, sông suối v.v để giúp đỡ cho loài chúng sanh ở trong nước khi chết rồi được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.

    17.Thần Chú Phật Đảnh Tôn Thắng (USHNISHAVIJAYA Buddha);

    OM NAMO BHAGAWATE / SARWA TAYLOKYA PARTI BISHIK TAYA/ BUDDHA YATAY NAMA / TAYATHA OM DRUM DRUM DRUM SHODAYA SHODAYA BISHODAYA BISHODAYA AHSAMA SAMENTA / AWABHASA PRANAGATI GAGANA SABAWA BISHUDAY / ABIKINTSEN TUMAM / SARWA TATHAGATA SUGATA BARABATSANA AMRITA AHBIKAYKARA MAHAMUDRA MENTRA PADAY / AHARA AHARA MAMA AHYU SAM DARANI / SHODAYA SHODAYA BISHODAYA BISHODAYA GAGANA SOBAWA BISHUDAY / UNIKA VIJAYA PARISHUDAY SAHASA / REMI SENTSO DITAY / SARWA TATHAGATA AHWALOKINI KATHA PARAMITA PARIPURANI / SARWA TATHAGATA MATAY DASHA BUMI PARTI TITAY / SARWA TATHAGATA HRIDAYA AHDITANA AHDITITAY / MUDRAY MUDRAY MAHA MUDRAY BENDZA KAYA SAMHATANA PARISHUDAY / SARWA KARMA AHWARANA BISHUDAY PARTINIWARTAYA MAMA AHYUR BISHUDAY / SARWA TATHAGATA SAMAYA AHDITANA AHDITITAY / OM MUNI MUNI MAHA MUNI / BIMUNI BIMUNI MAHA BIMUNI/ MATI MATI MAHA MATI / MAMATI SUMATI TATATA / BATAKOTI PARISHUDAY / BIPUTA BUDI SHUDAY / HAY HAY DZAYA DZAYA BIDZAYA BIDZAYA / MARA MARA PARA PARA PARAYA PARAYA SARWA BUDDHA AHDITANA AHDITITAY / SHUDAY SHUDAY BUDDAY BUDDAY BENDZAY BENDZAY MAHA BENDZAY / SUBENDZAY BENDZA GARBA DZAYA GARBAY BIDZAYA GARBAY / BENDZA DZOLA GARBAY / BENDZOEBAWAY BENDZA SAMBHAWAY / BENDZA BENDZERNI / BENDZA MABAWATU MAMA SHARIRAM / SARWA SATO NENTSA KAYA PARI SHUDIR BAWATU / ME SADA SARWA GATI PARISHUDI TSA / SARWA TATHAGATA TSA / MAM SAMA SHASAYENTU / BUDDHAYA BUDDHAYA SIDDHAYA SIDDHAYA BODAYA BODAYA BIBODAYA BIBODAYA / MOTSAYA MOTSAYA BIMOTSAYA BIMOTSAYA / SHODAYA SHODAYA BISHODAYA BISHODAYA / SAMENTANA MOTSAYA MOTSAYA / SAMENTA RAMIPARI SHUDAY / SARWA TATHAGATA HRIDAYA AHDITANA AHDITITAY / MUDAY MUDAY MAHA MUDAY / MAHAMUDRA MENTA PADAY SOHA.

    1) Câu chú này có khả năng giúp các hương linh, súc sanh, ngã quỷ, chúng sanh trong địa ngục được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.

    2) Câu chú này còn có công năng sám hối và dứt trừ nghiệp chướng.

    1) Hành giả tụng chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí cho các loài súc sanh và ngã quỷ.

    2) Hành giả tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất v.v để rải trên hòm hay mồ mả của người chết.

    3) Hành giả tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chổ có nước như là ao hồ để giúp đỡ cho loài chúng sanh ở trong nước khi chết rồi được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.

    18.Thần chú trong Bát Nhã Tâm Kinh (Maha Prajna Paramita Hridaya);

    TAYATA: OM GATE GATE PARAGATE PARASAMGATE BODHI SOHA.

    Công năng của câu chú này giúp phát triển trí tuệ, Hành giả trì tụng càng nhiều càng tốt.

    CỬU HUYỀN TINH TẤN BỐ THÍ CÔNG LỰC

    OM RA RÍT MA NÁ CHẮC CA RA CHẮC CA RA HÙM ( 3 lần ).

    ĐUỔI MA NGỦ

    Phù lụ tu, a tra ni tri phù lu tu, hầu hầu hầu hầu nã phù lu tu, tô ma tê phù lu tu, hô hô hô hô tra, phù lu tu soá ha ( 108 lần )

    ( Đây là bài Chú Đuổi Ma Ngủ, chúng nó không cho bạn tu tập, bất kì khi bạn cầm đến quyển kinh hay đọc chú, chúng ám làm cho chúng ta không tỉnh táo chỉ có ngủ thôi, chúng muốn nhập tâm thể và chiếm lấy thân xác không cho chúng ta tu tập gì hết. Lúc này, bạn cần nên trì bài chú này thì sẽ giải quyết vấn đề mà bạn đang gặp phải. Nguyên do bài chú này, là do Thượng Toạ trụ trì Linh Quang Tịnh Xá, Q4, TP. HCM truyền lại cho chúng đệ tử thân cận để dễ bề tu tập .)

    6.THẦN CHÚ CHENREZIG ( QUÁN TỰ TẠI )

    OM MANI PADME HUM

    Thần Chú này dùng để phát triển lòng Từ và Bi.

    7.LỤC ĐỘ MẪU TARA CĂN BẢN CHÚ

    *Phạn Ngữ: OM TARE TUTTARE TURE SVAHA.

    *Phạn âm: Om Ta Rê Tút Ta Rê Tô Rê Soa Ha.

    *Hán Việt: Úm Đá Lị Đốt Đa Lị Đô Lị Sa Ha.

    Thần Chú này ngăn ngừa sự sợ hãi và nguy hiểm, được xem là một chơn ngôn thành tựu nhiều thần thông và là một chơn ngôn thành công chắc chắn.

    8.THẦN CHÚ VAJRASATTVA ( Kim Cang Tát Đoả ):

    OM VAJRASATTVA HUM.

    Thần Chú này dùng để tịnh hoá.

    9.THẦN CHÚ TRƯỜNG THỌ

    OM AMARANI JIWENTIYE SVAHA.

    Thần Chú này trì niệm để cầu mong sự trường thọ.

    10.THẦN CHÚ SANGYE MENLA ( Dược Sư ):

    TEYATA OM BENKANZE BEKANZE MAHA BAKANZE RAJA SAMUNGATE SVAHA.

    Thần Chú này dùng để ngăn ngừa bệnh tật.

    11.THẦN CHÚ MANJUSHRI ( Văn Thù )

    OM ARA PA CHA NA DHI DHI DHI DHI DHI.

    Thần Chú này dùng để phát triền sự thấu hiểu thông thường và tâm linh.
    Read more »
RSS