Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Latest Articles


  • Thần chú Vajra Guru và thần chú Om mani Padme Hum

    Hai thần chú nổi tiếng nhất của Tây Tạng là thần chú của ngài Liên Hoa Sanh (Padmasambhava), gọi là thần chú Kim cang Thượng sư (Vajra Guru Mantra) OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM, và thần chú của Quán Thế Âm, vị Phật của lòng bi mẫn: OM MANI PADME HUM. Hai thần chú này cũng như phần đông thần chú, đều bằng Phạn ngữ, cổ ngữ thiêng liêng của Ấn Độ.

     

    Download thêm: Ý nghĩa thần chú Kim Cang Thượng Sư

     

    Thần chú Kim cang Thượng sư

    OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM

     

    Thần chú này được giải thích căn cứ lời giảng dạy của hai ngài Dudjom RinpocheDilgo Khyentse Rinpoche.

     

    OM AH HUM

    Những âm OM AH HUM có nghĩa ngoài, nghĩa trong và nghĩa mật. Nhưng ở mỗi tầng như vậy, OM đều tiêu biểu cho thân. AH là lời và HUM là ý. Cả ba âm tiêu biểu năng lực ân sủng của chư Phật để chuyển hóa thân, lời, ý.
    Theo nghĩa ngoài, OM tịnh hóa mọi ác nghiệp của thân, AH của lời, và HUM của ý. Nhờ tịnh hóa thân, lời, ý, OM AH HUM đem lại ân sủng của thân, lời, ý chư Phật. OM cũng là tinh túy của hình sắc, AH của âm thanh, HUM của ý. Khi đọc thần chú này, là ta tịnh hóa hoàn cảnh cũng như bản thân và những người ở trong đó. OM tịnh hóa tất cả nhận thức, AH tất cả âm thanh, và HUM tất cả tâm, ý nghĩ và cảm xúc.
    Theo nghĩa trong, OM tịnh hóa những huyệt đạo vi tế, AH tịnh hóa nội phong hay khí lực, và HUM tịnh hóa tinh chất sáng tạo.
    Ở tầng mức sâu hơn, OM AH HUM biểu trưng ba thân của Liên Hoa bộ: OM là Pháp thân, Phật A Di Đà, đức Phật của Ánh sáng vô lượng, AH là Báo thân, Quán Thế Âm, vị Phật của tâm đại bi, và HUM là Ứng hóa thân, Liên Hoa Sanh. Điều này có nghĩa, trong trường hợp   của thần chú này, cả ba thân đều thể hiện trong một vị là Padmasambhava, Liên Hoa Sanh.
    VAJRA GURU PADMA
    VAJRA được ví như kim cương, đá quý nhất và cứng nhất. Cũng như kim cương có thể cắt bất cứ gì, mà chính nó thì không có gì phá hủy được, cũng thế trí tuệ bất nhị bất biến của chư Phật không bao giờ bị hại hay bị phá hủy bởi vô minh, và có thể cắt đứt mọi vọng tưởng chướng ngại. Những đức tính và hoạt động thân, lời, ý của chư Phật có thể làm lợi lạc hữu tình với năng lực sắc bén vô ngại như kim cường. Và cũng như kim cương không tỳ vết, năng lực sáng chói của nó tuôn phát từ sự chứng ngộ bản chất Pháp thân của thực tại, bản chất của Phật A Di Đà.
    GURU có nghĩ là "sức nặng", chỉ một người tràn đầy đức tính kỳ diệu, thể hiện trí tuệ, hiểu biết, từ bi và phương tiện thiện xảo. Cũng như vàng ròng là kim loại nặng nhất, quý nhất, cũng thế, những đức không lỗi, không thể nghĩ bàn của bậc thầy làm cho vị ấy không ai vượt qua được, thù thắng hơn tất cả. GURU tương đương với Báo thân, và với Quán Thế Âm, vị Phật của tâm đại bi. Lại nữa, vị Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) giảng dạy con đường Mật tông, biểu tượng là Kim cương, và nhờ thực hành Mật tông mà ngài đạt giác ngộ tối thượng, cho nên ngài được biết dưới danh hiệu là Kim cang thượng sư.
    PADMA, hoa sen, có nghĩa là Liên hoa bộ trong ngũ bộ, và nhất là khía cạnh Ngôn ngữ giác ngộ của chư Phật ấy. Liên hoa bộ là dòng họ Phật mà con người thuộc vào. Vì Padmasambhava là ứng thân trực tiếp của Phật A Di Đà, vị Phật nguyên ủy của Liên hoa bộ, nên ngài được gọi là "PADMA", hoa sen. Danh hiệu Liên Hoa Sanh của ngài kỳ thực ám chỉ câu chuyện ngài sinh ra trên một đóa sen nở.
    Khi những âm VAJRA GURU PADMA đi liền nhau, thì cũng có nghĩa là tinh tuy và ân sủng của Kiến, Thiền và Hành. VAJRA nghĩa là tinh chất của chân lý bất khả hoại, bất biến, cứng chắc như kim cương, mà chúng ta cầu mong thực hiện được trong Kiến của chúng ta. GURU tiêu biểu tính chất ánh sáng và sự cao quý của giác ngộ, mà ta cầu cho kiện toàn trong thiền định của mình. PADMA tiêu biểu Bi mẫn, mà chúng ta cầu thể hiện được trong Hành động của chúng ta.
    Vậy, nhờ tụng đọc thần chú này mà ta nhận được ân sủng của tâm giác ngộ, những đức cao quý và lòng bi mẫn của Padmasambhva và tất cả chư Phật.
    SIDDHI HUM
    SIDDHI là thành tựu, đạt đến, ân sủng và chứng ngộ. Có hai thứ thành tựu: tương đối và tuyệt đối. Nhờ nhận được ân sủng tương đối, tất cả chướng ngại trong đời như bệnh tật được tiêu trừ, mọi ước nguyện tốt được thành tựu, những lợi lạc như sống lâu, tiền của tăng và mọi hoàn cảnh đều tốt lành, giúp cho tu tiến và chứng ngộ. Thành tựu, hay ân sủng tuyệt đối đem lại giác ngộ, trạng thái thực chứng hoàn toàn của đấng Liên Hoa Sanh để tự lợi và lợi tha. Bởi thế, nhờ nhớ đến và cầu nguyện với những năng lực thân, lời, ý của ngài mà chúng ta sẽ được những ân sủng tương đối và tuyệt đối.
    SIDDHI HUM được xem là thâu tóm vào tất cả ân sủng, như nam châm hút sắt.
    HUM tiêu biểu tâm giác ngộ của chư Phật, và là xúc tác thiêng liêng của thần chú. Giống như tuyên bố lên quyền năng và chân lý của thần chú: "Hãy là như vậy!" .
    Ý nghĩa cốt yếu của bài chú là: "Con triệu thỉnh ngài, đấng Kim cang thượng sư, với ân sủng của ngài, xin hãy ban cho con những thành tựu thế gian và xuất thế gian".
    Dilgo Khientse Rinpoche giải thích:
    Mười hai âm OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM mang tất cả ân sủng của mười hai bộ kinh giáo của Phật, tinh túy của tám muôn bốn ngàn pháp môn. Bởi thế, tụng một lần thần chú Kim cang thượng sư cũng có phước như là đã đọc mười hai bộ loại kinh điển và thực hành các pháp môn khác. Mười hai bộ loại kinh điển là phương thuốc giải cứu chúng ta khỏi mười hai nhân duyên giam giữ chúng ta trong vòng sinh tử. Vô minh, hành, thức, danh sắc, sáu nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh, già chết ; mười hai móc xích này là guồng máy của luân hồi sinh tử, làm cho luân hồi tiếp nối. Nhờ tụng đọc mười hai âm này của thần chú Kim cang thượng sư, mười hai nhân duyên được tịnh hóa, tẩy sạch cấu uế của nghiệp cảm và giải thoát sinh tử.

     

    Mặc dù ta không thể trông thấy đức Liên Hoa Sanh, nhưng tâm giác ngộ của ngài đã thể hiện dưới hình thức thần chú này, thần chú này có được toàn thể ân sủng ngài. Bởi thế khi bạn kêu cầu ngài bằng cách tụng đọc mười hai âm thần chú này thì bạn sẽ được ân sủng và công đức vô lượng. Trong thời đại khó khăn này, không có chỗ nương nào bảo đảm hơn là đấng Liên Hoa Sanh, cũng như không có thần chú nào thích hợp hơn thần chú Kim cang thượng sư của ngài.

     

    Thần chú của đại bi tâm
    OM MANI PADME HUM

    Tạng ngữ đọc là Om Mani Pémé Hung. Thần chú này tiêu biểu tâm đại bi và ân sủng của tất cả chư Phật, Bồ-tát, nhất là ân sủng của Quán Tự Tại, vị Phật của lòng bi mẫn. Quán Tự Tại (hay Quán Thế Âm) là hiện thân của Phật trong hình thức Báo thân, và thần chú của ngài được xem là tinh túy của lòng bi mẫn của chư Phật đối với hữu tình. Nếu Liên Hoa Sanh là bậc thầy quan trọng nhất của người Tây Tạng, thì Quán Tự Tại là vị Phật quan trọng nhất của họ, là vị thần hộ mạng của dân tộc này. Có câu nói nổi tiếng là vị Phật của lòng bi mẫn đã ăn sâu vào tiềm thức Tây Tạng tới nỗi một hài nhi vừa biết nói tiếng "Mẹ" là đã biết đọc thần chú này, OM MANI PADME HUM.

     


    Tương truyền vô lượng kiếp về trước có một ngàn thái tử phát tâm Bồ-đề nguyện thành Phật. Một vị nguyện thành Phật Thích Ca mà ta đã biết ; nhưng Quán Tự Tại thì nguyện sẽ không đạt thành Chánh giác khi mà tất cả ngàn thái tử chưa thành. Với tâm đại bi vô biên, ngài còn nguyện giải thoát tất cả chúng sanh ra khỏi khổ sinh tử luân hồi trong lục đạo. Trước mười phương chư Phật, ngài phát nguyện: “Nguyện cho con cứu giúp được tất cả hữu tình, và nếu có khi nào con mệt mỏi trong công việc lớn lao này thì nguyện cho thân con tan thành một ngàn mảnh". Đầu tiên, ngài xuống cõi địa ngục, tiến lên dần đến cõi ngạ quỷ, cho đến các cõi trời. Từ đấy ngài tình cờ nhìn xuống và trông thấy than ôi, mặc dù ngài đã cứu vô số chúng sanh thoát khỏi địa ngục, vẫn còn có vô số khác đang sa vào. Điều này làm cho ngài đau buồn vô tận, trong một lúc ngài gần mất tất cả niềm tin vào lời nguyện vĩ đại mà ngài đã phát, và thân thể ngài liền nổ tung thành ngàn mảnh. Trong cơn tuyệt vọng, ngài kêu cứu tất cả chư Phật. Những vị này từ mười phương thế giới đều bay đến như mưa tuyết để tiếp cứu. Với thần lực nhiệm mầu, chư Phật làm cho ngài hiện toàn thân trở lại, và từ đấy Quán Tự Tại có mười một cái đầu, một ngàn cánh tay, trên mỗi lòng tay có một con mắt. Ý nghĩa rằng sự phối hợp giữa trí tuệ và phương tiện thiện xảo là dấu hiệu của đại bi chân thực. Trong hình thức này, ngài còn sáng chói rực rỡ, và có nhiều năng lực hơn trước để cứu giúp tất cả chúng sanh. Tâm đại bi của ngài khi ấy còn mãnh liệt hơn nữa, và ngài lại phát lời nguyện này trước chư Phật: "Con nguyện không thành chánh giác khi tất cả chúng sanh chưa thành".
    Tương truyền rằng vì đau buồn trước nỗi khổ luân hồi sinh tử, hai giọt nước nướt mắt đã rơi từ đôi mắt ngài, và chư Phật đã làm phép biến hai giọt nước mắt ấy thành hai nữ thần Tara. Một nữ thần có màu xanh lục, năng lực hoạt động của tâm đại bi, và một nữ thần có màu trắng, khía cạnh như mẹ hiền của tâm đại bi. Tara có nghĩa là người giải cứu, người chuyên chở chúng ta vượt qua biển sinh tử.
    Theo kinh điển đại thừa, chính Quán Tự Tại đã cho đức Phật câu thần chú, và đức Phật trở lại giao phó cho ngài công tác cao quý đặc biệt là cứu giúp tất cả chúng sanh tiến đến giác ngộ. Vào lúc ấy, chư thiên tung hoa xuống ca ngợi hai ngài, quả đất chấn động, và không trung vang lên âm thanh OM MANI PADME HUM HRIH.
    Có câu thơ về ngài ý nghĩa như sau:
    Quán Thế Âm như vầng trăng, với ánh sáng mát dịu, dập tắt những thiêu đốt của sinh tử. Trong ánh sáng ấy, đóa sen từ bi - lọai hoa nở về đêm - mở ra những cánh trắng tinh khôi".

     

     

    Giáo lý giải thích rằng mỗi âm trong sáu âm của thần chú OM MANI PADME HUM có một hiệu quả đặc biệt để mang lại sự chuyển hóa thuộc nhiều tầng lớp khác nhau của bản thể ta. Sáu âm này tịnh hóa tất cả sáu phiền não gốc, biểu hiện của vô minh khiến chúng ta làm những ác nghiệp của thân, lời, ý, tạo ra luân hồi sinh tử và những khổ đau của chúng ta, trong đó kiêu mạn, ganh tị , dục vọng, ngu si, thèm khát và giận dữ, nhờ thần chú mà được chuyển hóa trở về bản chất thực của chúng, trí giác của sáu bộ tộc Phật thể hiện trong tâm giác ngộ. (Chú thích: Giáo lý thường nói đến năm bộ tộc Phật, bộ tộc thứ sáu là tổng hợp của năm bộ tộc trên).
    Bởi thế, khi ta tụng thần chú OM MANI PADME HUM thì sáu phiền não nói trên được tịnh hóa, nhờ vậy ngăn ngừa được sự tái sinh vào sáu cõi, xua tan nỗi khổ ẩn tàng trong mỗi cõi. Đồng thời thần chú này cũng tịnh hóa các uẩn thuộc ngã chấp, hoàn thành sáu hạnh siêu việt của tâm giác ngộ (sáu ba la mật): bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ. Người ta cũng nói rằng thần chú OM MANI PADME HUM có năng lực hộ trì rất lớn, che chở ta khỏi những ảnh hưởng xấu và các thứ tật bệnh.
    Thường có chủng tự HRIH của Quán Thế Âm được thêm vào sau câu thần chú, làm thành OM MANI PADME HUM HRIH. HRIH là tinh yếu tâm đại bi của tất cả chư Phật, là chất xúc tác đã khởi động tâm đại bi chư Phật để chuyển hóa các phiền não của ta thành bản chất trí tuệ của các ngài.
    Kalu Rinpoche viết:
    Một cách khác để giải thích thần chú này là: OM là tính chất của thân giác ngộ, MANI PADME tiêu biểu ngữ giác ngộ, HUM tiêu biểu ý giác ngộ. Thân, ngữ, ý của tất cả chư Phật được tàng ẩn trong âm thanh của thần chú này. Thần chú này tịnh hóa những chướng ngại của thân, lời, ý, và đưa tất cả hữu tình đến trạng thái chứng ngộ. Khi tụng thần chú này, mà phối hợp với đức tin và tinh tấn thiền định thì năng lực chuyển hóa của thần chú sẽ phát sinh và tăng trưởng. Quả vậy, chúng ta có thể tịnh hóa bản thân bằng phương pháp ấy.
    Đối với những người đã quen thuộc với thần chú này, suốt đời tụng đọc với nhiệt thành và niềm tin, thì Tử Thư Tây Tạng nói, ở trong cõi Trung Ấm: "Khi âm thanh của pháp tánh gầm thét như ngàn muôn sấm sét, nguyện cho tất cả tiếng này trở thành âm thanh của thần chú sáu âm". Tương tự, kinh Lăng Nghiêm cũng nói:
    "Mầu nhiệm thay là âm thanh siêu việt của Quán Thế Âm. Đấy là âm thanh tối sơ của vũ trụ… Đó là tiếng thì thầm âm ỉ của thủy triều trầm lắng. Tiếng mầu nhiệm ấy đem lại giải thoát bình an cho tất cả hữu tình đang kêu cứu trong cơn đau khổ, và đem lại một sự an trú thanh tịnh cho tất cả những ai đang tìm sự thanh tịnh vô biên của niết bàn".

    Nguồn: Phụ lục 3,TẠNG THƯ SỐNG-CHẾT /TP

    Read more »
  • Phương thức ngừa bệnh Ung Thư

    Ung thư: Không còn đáng sợ nữa

    Ông Allan Taylor và những phương thuốc từ thảo dược đã giúp ông chiến đấu với căn bệnh ung thư.

    Cách chữa bệnh ung thư. Yên tâm không còn sợ nữa xin phổ biến rộng rãi.

    Kính thưa quý vị,
    Tôi viết những điều dưới đây hoàn toàn vô vị lợi, quý vị nào thấy cần thiết thì đọc và nghiên cứu thêm.
     
    Tôi may mắn được quen biết anh chị Từ Công Phụng (trước đó anh Phụng đã bị bệnh viện chê vì bị bệnh ung thư gan, họ nói anh ấy chỉ có thể sống được 3 tháng, nay anh ấy đã và đang sống khỏe mạnh trên 2 năm; tháng 6/2012, anh đã nói trước 2,000 khán thính gỉa, trong ngày 50 năm âm nhạc Từ Công Phụng tại rạp hát sang trọng tại miền Nam California); tôi cũng liên lạc được với nhà văn Văn Quang (ở Sàigòn) bà Loan, chị Kiều Ngô (ở California, Hoa Kỳ), quý vị này đã giúp thân nhân trị dứt bệnh ung thư. Cho nên tôi xin đúc kết cách chữa ung thư của quý vị này:

    1/ Phải ăn uống những thực phẩm mà những tế bào ung thư KHÔNG THÍCH, cho nên tụi nó sẽ chết dần dần, mình sẽ bài tiết chúng ra ngoài. Trong khi những tế bào cần thiết cho mình vẫn nẩy nở sung mãn.

    2/ Tăng cường sức khỏe, hệ miễn nhiễm của mình bằng cách ăn uống và tâm lúc nào cũng tĩnh, lạc quan yêu đời, tập thể dục, có cuộc sống hạnh phúc.
    Vận dụng nhiều loại thuốc men, ăn uống, để diệt những tế bào ung thư:


    I/ Thuốc men:

    Cứ điều trị theo tây y, nhưng tế bào ung thư và tế bào thường cũng đều bị chết, cho nên phải làm thế nào để tế bào ung thư chết hàng loạt, thì cơ hội sống còn của bệnh nhân sẽ rất cao.

    1/ Thuốc men như FUCOIDAN (vào Google, đánh máy FUCOIDAN) để mua thuốc. Uống đúng liều lượng cần thiết, tùy theo bệnh mới ung thư hay đã bị lâu năm.

    2/ Uống trà LÁ ĐU ĐỦ (lấy lá đu đủ, loại bỏ những cọng lớn), rửa sạch, cắt nhỏ - như lá trà - xấy khô, rồi pha như trà (đậm, lợt tùy bệnh nặng, nhẹ; tùy bệnh nhân có thể uống nhạt hay đậm).

    3/ Uống trà LÁ XẢ tươi, thái mỏng củ xả, pha như trà - tương tự như trên -

    4/ Nấu cháo với MĂNG TƯƠI là chính, nấm tốt, cá, xay nhuyễn cho bệnh nhân ăn.

    5/ Đông trùng hạ thảo, nhiều người không tin tưởng thuốc này, vì giả mạo rất nhiều, thành phần bổ dưỡng cũng không chắc ăn (tôi đã được 1 bác sỹ đông y thân tình, đàng hoàng cho ý kiến như vậy).

    6/ Yến, của loài chim yến, làm tổ ở trên cao: nước dãi, đờm - đầy máu - vàng khè - đầy lông tơ - phải dùng nhiều chất hóa học để tẩy cho trắng - (Tương tự như số 5 ở trên).

    7/ Uống Vitamin D, loại hơi đặc biệt, phải có toa thuốc của bác sĩ (xin xem bài viết của nhà văn Chu Tất Tiến, đính kèm).

    8/ Linh chi nguyên chất.

    9/ . . . Xin xem thêm những bài viết đính kèm.

    II/ Ăn uống:

    1/ Cai ngay thuốc lá.
    2/ Ăn nhiều cá, không nên ăn cá chiên, cá nướng cháy đen, hay thịt nướng cháy đen.
    3/ Giảm thiểu tối đa Thịt Đỏ, vì tế bào ung thư rất thích loại thịt này, nên sinh sôi, nẩy nở tối đa.
    4/ Giảm thiểu ăn đồ chiên, xào vì có dầu mỡ, nhất là loại mỡ động vật.
    5/ Có thể ăn gà (ức - lườn) mầu trắng.
    6/ Ăn tầu hũ.
    7/ Ăn nhiều trái cây, như mãng, dừa tươi, . . . các loại rau tươi.
    8/ Không ăn uống những đồ ăn có chất bảo quản trong hộp, trong chai.
    9/ Không hâm nóng đồ ăn bằng Microway, chỉ ăn đồ ăn nấu, hấp.
    10/ Uống nước củ dền đỏ tía + cà rốt + táo đỏ (apple).
    Cách làm: 1 củ dền đỏ + 2 củ cà rốt + 1 trái táo đỏ (bỏ hột); tất cả để nguyên vỏ, chà sạch; cho tất cả vào máy ép, uống nước (bỏ bã), uống sáng và tối. 2 lần thì phải là 2 củ dền + 4 củ cà rốt + 2 trái táo đỏ. Uống rất bổ, tăng cường sức khỏe nhiều.
    ** Tóm lại phải ăn uống đồ ăn lành, có cuộc sống vui, mạnh, hạnh phúc.
    Thân kính chúc quý vị luôn được vui, mạnh, hạnh phúc, vạn sự được như ý. Kính cầu mong mọi bệnh tật sẽ đưa nhau xuống đất, thân thể mình luôn ở trên mặt đất lâu dài.
    Trân trọng. Phạm Huy Hoàn đã viết và sưu tầm, nhưng chưa đầy đủ.
    Nước Cốt Màu Nhiệm
    Đây là một thức uống có thể ngăn cản các tế bào xấu thành hình trong cơ thể bạn hoặc sẽ giảm độ tăng trưởng của chúng! Ông Seto đã bị ung thư phổi. Ông đã được một người nổi tiếng về cây thuốc bên Trung quốc khuyên uống thức uống này. Uống chuyên cần uống trong 3 tháng và bây giờ sức khỏe của ông đã bình phục, và ông lại sẵn sàng làm một chuyến du lịch. Nhờ thức uống này đấy! Bạn có thử cũng chẳng hại gì.

    Đây giống như một Thức Uống Phép Lạ! Thật đơn giản. Bạn chỉ cần một củ dền (cải đường), hai củ cà rốt và một quả táo (phải bỏ hột) làm chung với nhau để thành NƯỚC CỐT! Rửa sạch các thứ trên, để nguyên vỏ mà cắt ra từng miếng, đưa vào dụng cụ ép và uống nước cốt ngay. Có thể cho thêm chút nước chanh cho có hương vị hấp dẫn hơn.

    Thức Uống Phép Lạ này sẽ có tác dụng đối với những chứng sau:

    1. Ngăn chặn các tế bào ung thư phát triển hoặc tăng trưởng.
    2. Ngăn ngừa các chứng bệnh về gan, thận, tuyến tuỵ và có thể chữa ung nhọt nữa.
    3. Tăng sức mạnh cho phổi, ngăn ngừa cơn đau tim và cao huyết áp.
    4. Tăng cường hệ miễn dịch.
    5. Tốt cho mắt, loại trừ chứng mắt đỏ và mỏi mắt hoặc khô mắt.
    6. Giúp loại trừ đau nhức do tập luyện thân thể, đau cơ.
    7. Giải độc, trợ giúp chuyển động của ruột, loại trừ chứng táo bón. Do đó, sẽ làm cho da được khỏe hơn và có nước sáng bóng hơn. Đây là món Thượng Đế gửi đến để giải quyết vấn đề mụn trứng cá.
    8. Cải thiện hơi thở không tốt do khó tiêu, nhiễm trùng cổ họng.
    9. Làm bớt đau nhức vào kỳ kinh nguyệt.
    10. Giúp người bị dị ứng mũi và cổ họng khỏi bị dị ứng tấn công.
    Tuyệt đối không có tác dụng phụ. Có sức bổ dưỡng cao và hấp thụ dễ dàng! Rất hiệu quả nếu bạn cần giảm cân. Bạn sẽ thấy là hệ miễn dịch của bạn sẽ được cải thiện sau 2 tuần uống đều. Xin lưu ý là uống trực tiếp từ dụng cụ ép nước cốt để đạt hiệu quả tốt nhất.

    KHI NÀO UỐNG?

    -HÃY UỐNG VÀO BUỔI SÁNG, LÚC BAO TỬ CÒN TRỐNG!
    -SAU MỘT GIỜ, BẠN CÓ THỂ ĂN ĐIỂM TÂM.
    ĐỂ CÓ KẾT QUẢ NHANH, HÃY UỐNG MỘT NGÀY 2 LẦN, VÀO BUỔI SÁNG VÀ TRƯỚC 5g CHIỀU.

    BẠN SẼ KHÔNG BAO GIỜ PHẢI HỐI TIẾC! KHÔNG TỐN TIỀN NHIỀU ĐÂU! XIN VUI LÒNG CHUYỂN CHO GIA ĐÌNH VÀ BẠN BÈ . MỘT HY VỌNG MỚI CHO NHỮNG NGƯỜI BỊ BỆNH UNG THƯ: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BẰNG SINH TỐ D. (Loại cần toa bác sĩ)
     
    Sinh tố D liên quan đến ánh nắng mặt trời. Vùng nào nhiều ánh nắng mặt trời thì ít ung thư. Vì thế những vùng càng xa xích đạo bao nhiêu thì càng thiếu sinh tố D, như vùng cực bắc âu thì thiếu sinh tố D rất nhiều, Người ta thấy có một liên hệ mật thiết giữa sinh tố D và bệnh ung thư, những người thiếu sinh tố D thì có tỷ lệ bị ung thư cao hơn Xin tiếp tay cầu cho những người thiếu may mắn . Biết đâu chính bạn ?

    Xin vui lòng gởi thông điệp nầy đi , cho dù chỉ đến với một người thôi .Thông điệp nầy là để tưởng nhớ đến những người mà bạn biết , hay là những nạn nhân của căn bịnh . Làm ơn , xin đừng dập tắt ngọn nến nầy !
     
    Y HOC: Uống nước cây sả tươi làm cho tế bào ung thư tự tiêu hủy (cell commits suicide)

    Tại Do Thái, ruộng rẩy trồng sả tươi là thánh địa cho bệnh nhân ung thư (cancer) Dùng một lìều lượng nhỏ chừng 1g cây sả tươi, chứa đủ chất dầu làm cho tế bào cancer tự hủy trong ống nghiệm. Các nhà nghiên cứu người Do Thái đã tìm ra đường lối làm cho tế bào cancer tự hủy diệt. Tại trường đại học Ben Gurion, Đầu tiên người ta thấy một nông dân tên là Benny Zabidov, người này đã trồng một loại cỏ trong trang trại Kfar Yedidya của mình thuộc vùng Sharon, ông này không hiểu sao có rất nhiều bệnh nhân cancer, họ đến từ khắp nơi trong nước, tập trung trước cửa nhà Zabidov hỏi xin cây sả tươi. Thì ra các bác sĩ bảo họ đến. Họ được khuyên phải uống mỗi ngày 8 lần cây sả tươi chụng với nước sôi trong những ngày họ đến chữa bằng radiation và chemotherapy.

    Tất cả bắt nguồn từ các nhà nghiên cứu tại trường đại học Ben Gurion thuộc vùng Negev , năm ngoái họ đã khám phá ra dầu thơm trong cây sả đã diệt được tế bào cancer trong ống nghiệm, trong khi tế bào lành vẫn sống bình thường. Dẫn đầu toán nghiên cứu là bác sĩ Rivka Okir và giáo sư Yakov Weinstein, giữ chức vụ của Albert Katz Chair, trong nghiên cứu sự khác biệt của tế bào và những bệnh ác tính. Từ các phân khoa vi sinh học và miễn nhiễm tại BGU. Chất dầu sả là chìa khóa cấu thành đã tạo mùi thơm chanh và mùi vị dược thảo như cây sả (Cymbopogon ctratus), melissa (melissa officinalis) and verbena (Verbena officinalis) Theo Ofir, sự học hỏi tìm ra chất dầu sả gây cho tế bào cancer tự hủy gọi là chương trình gây sự tử vong của tế bào (programmed cell death). Uống một liều lượng nhỏ 1g cây sả có đủ chất dầu thúc đẩy tế bào cancer tự hủy trong ống nghiệm! Các nhà thanh tra thuộc trường BGU thử lại sự ảnh hưởng của chất dầu sả trên tế bào cancer bằng cách cho thêm tế bào lành, đã được nuôi cấy, vào. Số lượng cho vào bằng với số lượng trà cây sả với 1g đã được ngâm nước sôi. Nhận thấy trong khi chất dầu sả diệt tế bào cancer thì tế bào lành vẫn sống bình thường. Sự khám phá được đăng trên báo khoa học Planta Medica, được nhấn mạnh về các sự thí nghiệm các phương thuốc chữa trị bằng dược thảo. Ngay sau đó, sự khám phá đã được đưa lên phổ biến bằng các phương tiện truyền thông công chúng. Tại sao dầu sả lại tác dụng như vậy? Không ai biết chắc chắn, nhưng các khoa học gia trường BGU đã đưa ra một giả thuyết: Trong mỗi tế bào của cơ thể chúng ta có một chương trình di truyền, nó đã gây ra một "chương trình tế bào chết". Khi có điều gì sai lạc, tế bào phân chia ra mà không kiểm soát được và trở thành tế bào cancer. Ở tế bào bình thường, khi tế bào khám phá ra hệ thống kiểm soát không điều hành đúng, thí dụ khi nó nhận thấy tế bào chứa đựng những di truyền sai lạc khi phân chia – nó sẽ kích hoạt cho tế bào chết đi, đó là sự giải thích của Weinstein. Sự nghiên cứu này đã cho thấy lợi ích của dược thảo trên về mặt y khoa. Sự thành công của họ đã đưa tới kết luận về cây sả, có chứa chất dầu, được coi như có khả năng chống lại tế bào cancer, như là họ đã từng nghiên cứu tại trường BGU và đã được phổ biến trên truyền thông, nhiều bác sĩ tại Do Thái đã bắt đầu tin tưởng những nghiên cứu có thể mở rộng hơn nữa, trong khi vẫn khuyến cáo những bệnh nhân, tìm đủ mọi cách để chống lại căn bệnh này, bằng cách dùng cây sả để tiêu diệt tế bào cancer. Đó là lý do tại sao trang trại của Zabidov – nơi duy nhất trồng cây sả (lemon grass) tại Do Thái – đã trở nên một thánh địa cho những bệnh nhân này. May mắn thay họ đã tự tìm thấy đôi bàn tay thần diệu. Zabidov đón tiếp những người khách viếng thăm với những ấm trà cây sả và những đĩa bánh ngọt bằng thái độ niềm nở, ông ta nói: "Cha tôi chết vì cancer, chị vợ tôi chết khi còn trẻ cũng vì cancer. Vì vậy tôi hiểu rõ những gì họ đã phải chịu, và tôi có thể không biết gì về thuốc men, nhưng tôi biết lắng nghe. Những bệnh nhân thường nói với tôi về sự điều trị đắt tiền mà họ phải trải qua. Tôi không bao giờ bảo họ ngưng chữa trị, nhưng cũng rất tốt khi họ dùng thêm trà cây sả." Zabidov biết rõ tiếng gọi của nghề nông đã đến với ông từ thời trai trẻ. Ở tuổi 14, ông đã theo học trường trung học canh nông Kfar Hayarok. Sau khi phục vụ trong quân đội, ông làm việc cùng nhóm lý tưởng chủ nghĩa hướng về phương nam, trong vùng sa mạc Arava một moshav mới (argriculture settlement) gọi là Tsofar. Ông ta mỉm cười và nói: "Chúng tôi rất thành công. Chúng tôi trồng trái cây và rau. Chúng tôi cũng nuôi nấng những đứa con xinh xắn. Trong một chuyến du lịch sang Âu châu vào giữa thập niên 80, ông ta bắt đầu thích dược thảo. Do Thái, ở một thời, thường có khuynh hướng là không gì thích hơn các món ăn Đông phương và chỉ có một số thể loại được trồng có tính thương mại như cây cần tây (parsley), cây thì là (dill), cây ngò thơm (coriander)." Đi lang thang trong khu chợ Paris , tìm kiếm một vài loại dược thảo, Zabidov đã thấy được một tiềm lực có thể xuất cảng to lớn nằm trong một góc chợ. Zabidov mang mẫu về nhà, ông ta mỉm cười, nói: đây là sự bất hợp lệ có tính kỹ thuật, để xem chúng có thể lớn lên trong nhà kính vùng sa mạc không. Không bao lâu ông ta có thể trồng các loại như rau húng quế (basil), cây kinh giới (oregano), cây ngải giấm (tarragon), một loại tỏi (chives), cây đan sâm (sage), và bạc hà. Công việc của ông ta là phát triển cơ ngơi vùng sa mạc, ông ta quyết định di chuyển về phía bắc, lập trang trại moshav tại Kfar Yedidya, môt giờ rưỡi lái xe ở phía bắc Tel Avis. Bây giờ ông ta bán hàng mấy trăm kí lô cây sả mỗi tuần và đã ký kết những hợp đồng phân phối hàng với các tiệm thực phẩm. Zabidov đã chính mình học hỏi về dầu cây sả và giúp khách hàng của ông ta hiểu biết hơn nữa, cũng như mời các chuyên gia y khoa tới trang trại của ông ta, nói chuyện về công dụng của cây sả. Ông ta cũng có trách nhiệm để nói chuyện với khách hàng của mình về cách dùng dược thảo này, Khi tôi nhận thấy có gì xảy ra, tôi cầm phone lên và gọi bác sĩ Weistein ở đại học Ben Gurion, vì những người này hỏi tôi cách tốt nhất để dùng dầu cây sả. Ông ấy nói ngâm sả trong nước sôi và uống 8 ly mỗi ngày. Zabidov là người có công tìm ra cây sả, không phải đơn giải chỉ cho công việc trong trang trại, mà còn vì ảnh hưởng đến sức khỏe của chính ông ta. Ngay cả trước khi sự lợi ích của cây sả được biết đến và xử dụng, ông ta và gia đình đã uống trà cây sả hằng năm "bởi vì hương vị thích thú của nó".

    Cụ ông 78 tuổi tự chữa khỏi bệnh ung thư

    Được chẩn đoán bị ung thư đại tràng và không có cơ may chữa khỏi bằng hóa trị hay phẫu thuật, thế nhưng ông Allan Taylor, 78 tuổi, người Anh đã khiến các bác sĩ ngạc nhiên khi khỏi bệnh nhờ chế độ ăn với hoa quả và rau.
    Chiến đấu với ung thư bằng gia vị, thực phẩm

    Ông Allan, một kỹ sư giàn khoan đã nghỉ hưu kể lại, mọi chuyện bắt đầu từ tháng 2 năm ngoái. Khi đó, ông cảm nhận thấy có một khối u khoảng hơn 5cm trong bụng. Đến bệnh viện kiểm tra, ông được chẩn đoán là bị ung thư đại tràng. Theo The Mirror, các bác sĩ đã tiến hành phẫu thuật để cắt một phần ruột già vào tháng 9. Sau đó, ông bắt đầu được điều trị hóa trị trong 3 tháng. Đến tháng 4 năm nay thì bác sĩ thông báo rằng bệnh của ông đã di căn đến ruột non.
     
    "Tôi nhận được thư trả lời của bác sĩ vào ngày 30/4 với nội dung là căn bệnh của tôi không đáp ứng với cách chữa bằng hóa trị hay phẫu thuật. Họ cũng nói rằng nếu họ cắt khối u ung thư thì nó cũng sẽ lại tái phát ở một vị trí nào đó. Nhưng tôi không tỏ ra bi quan mà tự tìm cách chữa bệnh cho mình", ông Allan nói. Ông lên mạng và đánh cụm từ "cách chữa ung thư đại tràng". Cuối cùng, ông cũng tìm thấy điều mình cần, rồi ông bắt đầu thực hiện một chế độ ăn thay thế có lựa chọn để tự chữa bệnh. "Tôi đã tìm kiếm các bằng chứng và tham khảo ý kiến của những chủ cửa hàng bán thực phẩm và chọn chế độ ăn gồm: bột lúa mạch, gia vị cà ri, hạt mơ và thuốc selen. Và sau 4 tháng, tôi đã có được câu trả lời rõ ràng từ phía bác sĩ'" ông cho biết thêm. Vào ngày 6/8, ông nhận được một bức thư từ Bệnh viện North Tees thông báo kết quả chụp chiếu cho thấy ông đã khỏi bệnh ung thư và không phát hiện có gì bất thường. "Tôi nghĩ rằng một trong những thành phần quan trọng giúp mình khỏi bệnh chính là một thìa bột lúa mạch pha với nước nóng vào mỗi sáng và tối. Rõ ràng là chế độ ăn đã cứu tôi. Và tất cả chỉ tốn 30 bảng Anh một tuần", ông Allan chia sẻ.
     
    30 CÁCH NGĂN NGỪA UNG THƯ

    Mỗi năm, cả thế giới phát hiện 10 triệu trường hợp ung thư (UT), nhưng theo Tổ chức y tế thế giới ước tính đến năm 2020 có khoảng 15 triệu, tăng 50%, nếu chúng ta không tích cực “hành động”. Hầu hết các chứng UT có thể biết trước, thay đổi cách sống có thể làm giảm nguy cơ. Đây là “tế cấp tam thập điều” để ngăn ngừa UT (ung thư):

    1. Một nghiên cứu của Phần Lan thấy rằng quá trình lên men có liên quan tới việc dưa bắp cải (sauerkraut, của Đức) sản sinh các hợp chất kháng UT – kể cả ITC, indole và sulforaphane. Để giảm lượng sodium, hãy rửa dưa muối trước khi ăn.

    2. Ăn bông cải (broccoli), nhưng nên hấp hoặc chưng chứ đừng nấu bằng lò vi-ba. Bông cải là “siêu thực phẩm ngăn ngừa UT, nên ăn thường xuyên. Tuy nhiên, nghiên cứu của Tây Ban Nha thấy rằng bông cải nấu bằng lò vi-ba làm giảm 97 % flavonoid (chất kháng UT). Do đó nên luộc, hấp, chưng, trộn hoặc ăn sống.

    3. Ăn món trộn với dầu hạnh nhân Brazil (brazil nut) vì chất selenium giúp ngăn chặn quá trình phát triển tế bào UT và “điều chỉnh” AND. Nghiên cứu của ĐH Harvard ở hơn 1.000 người đàn ông (bị UT tiền liệt tuyến) cho thấy rằng những người có mức selenium cao thì giảm phát triển bệnh 48% trong 13 năm kế tiếp so với những đàn ông có mức selenium thấp. Nghiên cứu trong 5 năm, ĐH Cornell và ĐH Arizona thấy rằng lượng 200mg selenium mỗi ngày (tương đương 2 hạt hạnh nhân Brazil) giúp giảm 63% UT tiền liệt tuyến, giảm 58% UT trực tràng, 46% bướu phổi ác tính, và giảm 39% hấu hết các loại UT gây tử vong.

    4. Bổ sung calcium và vitamin D. Nghiên cứu của Trường Thuốc Dartmouth cho thấy rằng việc bổ sung này làm giảm polyp đại tràng (nguy cơ gây UT) ở những người dễ phát triển bệnh này.

    5. Hãy thêm tỏi vào món ăn. Tỏi chứa sulfur khả dĩ kích thích sức đề kháng UT tự nhiên của hệ miên nhiễm và có thể ngăn ngừa ung bướu. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng tỏi có thể làm giảm UT bao tử khoảng 12%.

    6. Phi 2 nhánh tỏi đâp giập với 2 muỗng dầu ôliu, rồi trộn với cà chua và dùng với mì sợi. Chất lycopene (có trong cà chua) giúp đề kháng UT đại tràng, UT tiền liệt tuyến và UT bàng quang. Dầu ôliu giúp cơ thể hấp thu lycopene, còn mì sợi (giàu chất xơ) giúp giảm nguy cơ UT đại tràng.

    7. Mỗi tuần, nên mua dưa đỏ (cantaloupe) về xắt miếng và cho vào tủ lạnh để ăn dần mỗi sáng. Dưa đỏ giàu carotenoid – loại hóa chất thực vật làm giảm nguy cơ UT phổi.

    8. Trộn nửa chén trái việt quất (blueberry) với bột ngũ cốc dùng mỗi sáng. Việt quất giàu chất chống ôxít hóa. Chính chất chống ôxít hóa làm trung hòa các căn nguyên tự do làm tổn hại tế bào và gây bệnh.

    9. A-ti-xô giàu silymarin – chất chống ôxít hóa khả dĩ chống UT da. Loại này dễ an và ngon. Có thể luộc hoặc hấp khoảng 30-45 phút thì mềm.

    10. Thịt nướng ăn ngon miệng nhưng nó chứa nhiều hóa chất gây UT. Viện nghiên cứu UT Mỹ thấy rằng thịt ướp nước sốt và nướng thì giúp giảm tạo ra loại hóa chất như vậy. Nên luộc thịt rồi nướng.

    11. Nghiên cứu cho thấy rằng những đàn ông uống 8 ly nước lớn mỗi ngày giúp giảm nguy cơ UT bàng quang được 50%. Phụ nữ uống nước nhiều giúp ngăn ngừa UT đại tràng khoảng 45%.

    12. Hãy có thói quen uống trà. Trà xanh được đánh giá cao ở Á châu hằng ngàn năm qua. Tây phương nghiên cứu mới đây cho thấy trà đề kháng nhiều loại UT, kể cả bệnh tim. Một số khoa học gia tin rằng một loại hóa chất trong trà là EGGG có thể là một trong các hợp chất kháng UT mạnh nhất được phát hiện từ trước tới nay.

    13. Hãy uống một chút bia, đừng uống nhiều.. Bia đề kháng vi khuẩn Helicobacter pylori, loại gây ung bướu khả dĩ dẫn đến UT bao tử. Uống bia, rượu nhiều có thể gây UT vú, miệng, họng, thực quản và gan.

    14. Các nhà nghiên cứu Úc dân Canada và thấy rằng những người ăn từ 4 phần cá hồi trở lên mỗi tuần thì giảm gần 1/3 nguy cơ bệnh bạch cầu. Các nghiên cứu khác cho thấy việc ăn cá có mỡ (cá hồi, cá thu, cá bơn, cá mòi và cá ngừ - kể cả tôm, sò) thì giảm nguy cơ UT tử cung ở phụ nữ. Omega-3 có trong cá rất có lợi cho sức khỏe và kỳ diệu!

    15. Nên bổ sung viên đa vitamin mỗi sáng. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng vitamin và khoáng chất khả dĩ cải thiện hệ miễn nhiễm và giúp ngăn ngừa nhiều chứng UT.

    16. Mỗi ngày phơi nắng sáng 15 phút để làm khỏe xương. Ánh nắng chứa nhiều vitamin D tự nhiên rất cần cho cơ thể. Nghiên cứu cho thấy rằng thiếu vitamin D có thể làm tăng nguy cơ mắc nhiều chứng UT như UT vú, đại tràng, tiền liệt tuyến, buồng trứng, bao tử, loãng xương, tiểu đường, đa ngạch kết (xơ cứng) và cao huyết áp. Nhưng nên tránh ánh nắng gắt, vì nó có thể gây UT da. Cũng có thể bổ sung vitamin D.

    17. Cắt đôi trái kiwi và múc phần “thịt” mà ăn. Trái kiwi chứa chất chống ôxít giúp ngăn ngừa UT. Nó còn chứa vitamin C, vitamin E, lutein và đồng.

    18. Cẩn thận khi quan hệ tình dục. Có thể đề phòng bằng cách dùng bao cao-su để ngăn ngừa lây nhiễm papillomavirus (HPV), loại virus này có thể gây UT cổ tử cung.

    19. Giảm ăn mở động vật. Nghiên cứu của ĐH Yale cho thấy rằng các phụ nữ ăn nhiều mỡ động vật có nguy cơ 70% bị bạch cầu, ăn nhiều chất béo bão hòa tăng nguy cơ là 90%. Do đó nên ăn ít chất béo động vật, thay vào đó nên dùng dầu thực vật và dầu cá.

    20. Nho chứa nhiều hợp chất resveratrol giúp đề kháng UT, ăn nho chứ đừng uống rượu nho, vì rượu làm tăng nguy cơ UT vú ở phụ nữ. Nho có khả năng làm mạnh hệ miễn nhiễm.

    21. Hành tươi tốt cho sức khỏe vì nó khả dĩ chống UT tiền liệt tuyến khoảng 50%. Ăn sống tốt hơn nhúng tái hay nấu chín.

    22. Hằng ngày nên dùng nước chanh. Các nhà nghiên cứu Úc thấy rằng chanh có khả năng làm giảm UT miệng, họng và bao tử.

    23. Sau bữa tối nên đi dạo 30 phút. Theo nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Fred Hutchinson ở Seattle , hoạt động này giúp giảm nguy cơ UT vú. Đi bộ giúp điều chỉnh mức estrogen (hormone gây UT vú) và giảm cân hiệu quả.

    24. Dùng thực phẩm hữu cơ, vì chúng không có thuốc trừ sâu hoặc thuốc tăng trưởng. Cả 2 loại thuốc này đều có thể làm tổn thương tế bào và gây UT.
    25. Cây bồ công anh (dandelion) có thể làm giảm nguy cơ UT.

    26. Tự giặt ủi quần áo không dùng máy sấy khô. Nhiều loại máy sấy khô dùng hóa chất perc (perchloroethylene), chất này có thể gây tổn hại thận, gan và UT. Đừng lạm dụng ly nhựa uống nước hằng ngày hoặc đựng đồ ăn bằng đồ nhựa.

    27. Dùng dưa leo (dưa chuột) tươi thay vì dưa muối và dùng cá hồi tươi. Nghiên cứu cho thấy rằng thực phẩm muối hoặc hun khói chứa nhiều carcinogen (chất gây UT).

    28. Đừng ăn nhiều khoai tây chiên và bánh qui vì chúng chứa nhiều acrylamide – chất gây UT, sản sinh trong quá trình nướng. Theo Michael Jacobson, giám đốc điều hành Trung tâm Khoa học về Quan tâm Cộng đồng, acrylamide gây khoảng 1.000 đến 25.000 trường hợp UT mỗi năm. FDA đang xem xét mức nguy hại của acrylamide.

    29. Nên nằm giường vải, ngồi ghế vải (kiểu ghế bố) để cơ thể thoải mái, tránh tổn hại da.

    30. Nghiên cứu của ĐH Quốc gia New York ở Stony Brook cho thấy rằng quý ông chịu stress nhiều và ít giao thiệp, hoặc các thành viên gia đình có mức cao về sinh kháng thể tiền liệt tuyến (prostate-specific antigen – PSA) trong máu thì dễ bị UT tiền liệt tuyến.
     
    Năm loại thực phẩm gây ung thư
     
    Hot dog nguy hiểm vì chứa nhiều chất nitrate. Liện hiệp Phòng ngừa Bệnh Ung thư khuyên không nên cho trẻ nhỏ ăn quá 12 cái hot dog mỗi tháng. Nếu bạn không thể bỏ đươc thì hãy mua loại hot dog không chứa sodium nitrate.

    Bánh đô-nớt (doughnuts) là món ăn tệ hại nhất có thể gây ung thư vì đươc làm bằng bột xay, đường và dầu hidro-hoá, sau đó đươc chiên ở nhiệt độ cao

    Thịt biến chế và thịt mỡ. Các thứ này cũng chứa nhiều sodium nitrate như hot dog nên gia tăng rủi ro bị bệnh tim. Ngoài ra chất béo bão hoà trong thịt mỡ cũng có thể gây ung thư.

    Khoai tây chiên (french fries) Cũng như đô-nớt, khoai tây chiên đươc làm với dầu hidro-hoá và sau đó chiên ở nhiệt độ cao. Loại thức ăn này còn chứa chất gây ung thư acryl amide tạo thành trong tiến trình chiên, vì vậy có người gọi đùa là “cancer fries”.

    Lát khoai chiên (chips), bánh bít-quy dòn (crackers), bánh kẹp nhỏ (cookies) Các thứ này thường đươc làm bằng bột xay và đường. Ngay cả những loại thức ăn này mà bao bì có in hàng chữ “free of trans-fats” cũng đều chứa một lương nhỏ trans-fats.

    Một bản tin khác về lá đu đủ:
     
    Vừa qua, tòa soạn đã nhận được thư của GS Nguyễn Xuân Hiền, công bố hướng dẫn 250 người chữa ung thư bằng lá đu đủ. Kết quả nhiều bệnh nhân khỏi bệnh. Thực hư chuyện lá đu đủ chữa khỏi ung thư. Nhưng bằng sự thận trọng của một người từng làm trong lĩnh vực y khoa, ông vẫn mong muốn các bộ ngành liên quan nghiên cứu bài thuốc dân gian này. Phóng viên đã tiếp cận trực tiếp vấn đề này. Dù đã 91 tuổi nhưng trên bàn làm việc của GS Nguyễn Xuân Hiền trong căn nhà Khu tập thể Dệt Kim Hà Nội vẫn bề bộn sách vở. Ông không chỉ viết các chuyên đề nghiên cứu thuộc lĩnh vực của mình mà đi sâu nghiên cứu về lá đu đủ trị ung thư. Ông tâm sự, từ khi nghỉ hưu ông sưu tầm nghiên cứu và hướng dẫn miễn phí cho các bệnh nhân ung thư có nhu cầu về bài thuốc này để giúp đỡ. 7/15 người uống có kết quả? Câu chuyện bắt đầu từ năm 2005, khi ông được tin bà Lê Thị Đặng ở TPHCM đã dùng nước sắc lá đu đủ điều trị cho chồng bị ung thư lưỡi đã di căn chọc thủng một bên má. Sau vài tháng chỉ uống nước lá đu đủ đã khỏi bệnh và sống thêm được 9 năm rồi chết vì tuổi già (87 tuổi). Bài thuốc này lại bắt nguồn từ ông Stan Sheldon (người Úc). Năm 1962, ông Stan Sheldon bị ung thư 2 lá phổi sắp chết, may có người thổ dân mách cho uống nước sắc lá đu đủ, sau vài tháng đã khỏi, 10 năm sau không tái phát, 16 bệnh nhân ung thư khác được mách uống nước sắc lá đu đủ cũng đã khỏi. Theo GS Nguyễn Xuân Hiền, khi nhận được bài thuốc, ông cũng áp dụng cho người nhà bị bệnh nhưng do bệnh đã di căn lại không áp dụng triệt để nên không chữa khỏi bệnh. Tuy nhiên, ông vẫn kiên trì theo dõi các bệnh nhân khác. Kết quả trong 2 năm (2005 - 2007), hướng dẫn cho 15 bệnh nhân cho thấy: 4 trường hợp (3 u phổi, 1 chửa trứng) uống được trên 5 - 6 tháng thì sức khoẻ ổn định, lên cân, u thu nhỏ, hết hạch cổ, đỡ ho, đỡ đau; 3 trường hợp bị u phổi khác uống được hơn 2 - 3 tháng thì u nhỏ đi, sức khoẻ tốt hơn; 1 trường hợp bị u phổi khác uống được 2 tháng, bệnh tiếp tục tiến triển, đau, ho nhiều; 3 trường hợp chết (1 u phổi, 1 u dạ dày, 1 u gan) chỉ uống chưa được 2 tháng sau đó chuyển thuốc Đông y khác; 1 trường hợp u đại tràng di căn chỉ uống chưa được 2 tháng, kết quả không mấy tiến triển. Từ đó đến nay, ông tiếp tục nghiên cứu và hướng dẫn cho 250 người khác có đầy đủ số điện thoại, địa chỉ ở khắp các tỉnh thành trong cả nước, kết quả có 9 người khỏi bệnh, hết u, sức khoẻ tốt.

    Nhiều người trên thế giới khỏi bệnh? Ngoài 16 trường hợp bị ung thư phổi được ông Sheldon mách uống lá đu đủ cũng khỏi bệnh, GS Nguyễn Xuân Hiền cũng cung cấp cho chúng tôi một bản dịch từ Mỹ trong đó cũng kể kinh nghiệm của 3 người bị ung thư phổi đã ở giai đoạn III, IV cũng nhờ uống nước lá này mà khỏi. Tuy nhiên, bài viết chỉ nêu rất chung chung, không có tên và địa chỉ của người bệnh: Một người đàn ông 65 tuổi, đã bị cắt 1/4 lá phổi, ho ra máu và mủ nhiều, người kiệt sức chỉ nằm mà không ngồi được, bệnh viện trả về nhà chờ chết. Ông này đã uống lá đu đủ chưa đầy 2 tháng mà bệnh tình thuyên giảm tới 80%, 4 tháng thì khỏi hẳn. Hay một người đàn bà 66 tuổi, bị ung thư phổi giai đoạn IV - to bằng bàn tay, tế bào ung thư đã ăn sâu vào xương sống, sau 3 tháng uống lá đu đủ, khối u teo nhỏ lại bằng đầu ngón tay, tháng thứ 6 thì chỉ còn là chấm nhỏ... Khi được hỏi về tính xác thực của các kết quả ghi nhận những bệnh nhân uống lá đu đủ khỏi bệnh, GS Nguyễn Xuân Hiền cho biết, ông đã nghỉ hưu nên không đủ điều kiện nghiên cứu, chứng minh trên lâm sàng. Ông chỉ là người truyền bá bài thuốc để giúp những người bị bệnh "tứ chứng nan y" vượt qua được bệnh tật. Các bệnh nhân khỏi bệnh là do họ gọi điện báo cho ông chứ ông cũng không thăm khám hay có các kết quả xét nghiệm từ Tây y. Tuy nhiên, theo GS Nguyễn Xuân Hiền, qua theo dõi nghiên cứu ông thấy, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã nghiên cứu và ghi nhận lá đu đủ có thể chữa được ung thư. Gần đây nhất là công trình nghiên cứu của BS.TS Nam.H.Dang giáo sư Đại học Florida Mỹ đã công bố trên tạp chí dược học cho thấy, chất chiết xuất từ lá đu đủ có tác dụng tăng cường quá trình sản sinh các phân tử truyền dẫn tín hiệu chủ chốt có tên Th1-type cytokines. Chúng đóng vai trò điều hòa hoạt động của hệ miễn dịch trong cơ thể đồng thời tạo hiệu quả tiêu trừ khối u ở một số loại ung thư, điều này mở ra những phương cách điều trị bệnh ung thư qua hệ thống miễn dịch. Nghiên cứu đã dùng nước chiết lá đu đủ ở 4 độ mạnh khác nhau cho 10 mẫu ung thư khác nhau và đo hiệu quả sau 24 tiếng. Kết quả cho thấy, lá đu đủ đã làm chậm sự phát triển của tế bào ung thư trong cả 10 mẫu thử ấy. Đặc biệt là chất chiết xuất từ lá đu đủ không gây độc hại cho các tế bào bình thường, do đó, tránh được các tác dụng phụ thường gặp ở nhiều phương pháp điều trị hiện nay.Chưa được khoa học công nhận Theo GS Nguyễn Xuân Hiền, trước đây có nhiều người phản đối lá đu đủ chữa bệnh và cho rằng đó là một loại cây khác. Nhưng nghiên cứu của BS.TS Nam.H.Dang là cây Carica papaya. Đây là tên khoa học của cây đu đủ. Người Mỹ gọi đu đủ là papaya, người Úc và New Zealand gọi là pawpaw. Không nên lẫn lộn "paw paw đu đủ" và "paw paw Bắc Mỹ". Cây pawpaw Bắc Mỹ thân mộc, có tên khoa học là Asimina tribola và cũng được làm dùng thuốc trị ung thư hiện có bán trên trị trường. Còn đu đủ là cây thân thảo. GS Nguyễn Xuân Hiền nhấn mạnh, nhiều người, đặc biệt với những người chưa qua phẫu thuật khối u, chưa chạy xạ, truyền hóa chất chống ung thư thì kết quả tốt và nhanh hơn. Các nghiên cứu cho thấy, trong lá đu đủ có men papain và trong men papain có chất carotenoid và Iso thyocyanotes có khả năng kích thích sản xuất Cytokin Th1 - type là yếu tố miễn dịch, do đó có thể ức chế tế bào ung thư mạnh gấp triệu lần các thuốc chống ung thư Tây y. Một công trình nghiên cứu so sánh nước sắc lá đu đủ với 10 loại nước lá chống ung thư khác thì thấy, nước sắc lá đu đủ có tác dụng vượt trội mà giá thành lại rẻ bằng 1/2 - 1/3 với các loại khác. Hơn nữa, nước sắc lá đu đủ không gây tác dụng phụ. Tuy nhiên, theo GS Nguyễn Xuân Hiền, cho tới nay nước sắc lá đu đủ chữa ung thư vẫn chưa được khoa học công nhận, vì thế rất khó biết nó có tác dụng thực sự hay không, nếu có thì ở chừng mực nào và các phản ứng phụ có thể xảy ra. Vì vậy, ông thiết tha mong muốn Viện Đông y, Bệnh viện K, Bộ Y tế... quan tâm nghiên cứu vấn đề này một cách bài bản, khoa học. Mỗi ngày lấy 4 - 5 lá đu đủ cả cuống, già càng tốt (có tài liệu hướng dẫn là lá bánh tẻ), lấy dao cắt nhỏ cho vào nồi đổ 2 lít nước, nấu khoảng 2 tiếng, cô lại thành 1 lít để nguội cho vào tủ lạnh, uống thành 2 ngày, mỗi ngày 500ml chia làm 3 lần lúc no. Sau khi uống, uống thêm 1 - 2 thìa cà phê mật mía hoặc mật ong. Uống liên tục 3 tháng trở lên mới thấy có tác dụng. Những người chưa qua phẫu thuật khối u, chưa chạy tia, truyền hóa chất thì kết quả tốt và nhanh hơn.

    MĂNG TÂY AI MÀ NGỜ?

    Mẹ tôi đã dùng nước sinh tố măng tây, sáng 4 muỗng súp và tối cũng 4 muỗng từ hơn 1 tháng nay. Bà đang phải uống thuốc hóa trị cho bệnh ung thư màng phổi giai đoan 3 về và số lượng tế bào ung thư của bà từ 386 đã xuống 125 trong tuần vừa qua. Vị bác sĩ chuyên gia có nói là bà không cần phải đến gặp ông ta trong 3 tháng tới đây. BÀI BÁO: Nhiều năm trước đây, tôi có gặp một người đang đi tìm măng tây cho người bạn bị bệnh ung thư. Anh ta đưa tôi một bản sao bài báo tựa đề “Măng tây cho bệnh ung thư”, được đăng trên tờ Cancer News Journal, tháng 12 năm 1979. Tôi chia sẻ cùng các bạn ngay bây giờ như anh ta đã làm với tôi: tôi là một nhà hóa sinh và chuyên về liên quan giữa chế độ ăn kiêng và sức khỏe trên 50 năm rồi. Nhiều năm trước, tôi có biết về sự khám phá của ông Richard R. Vensal, D.D.S, rằng măng tây có thể chữa khỏi bệnh ung thư. Từ đó đến giờ, tôi đã hợp tác với ông ta cho dự án của ông ta. Chúng tôi đã thu thập được rất nhiều trường hợp rất triển vọng. Sau đây là vài thí dụ: Trường hợp thứ 1 : Một người đàn ông gần như là không còn hy vọng gì với bệnh Hodgkin (một loại bệnh ung thư về mạch bạch huyết) đã hoàn toàn mất hết năng lực. Một năm sau khi chữa trị bằng liệu pháp măng tây, các bác sĩ của ông ta không thể tìm thấy bất cứ dấu hiệu nào của bệnh ung thư và anh ta trở lại làm việc thật hăng hái. Trường hợp thứ 2: Một thương gia thành đạt ở tuổi 68 đã bi bệnh ung thư bàng quang từ 16 năm rồi. Sau nhiều năm điều trị, kể cả xạ trị không kết quả, ông ta chuyển qua măng tây. Sau 3 tháng, các xét nghiệm cho thấy khối u trong bàng quang đã biến mất và thận của ông ta hoạt động bình thường Trường hợp thứ 3: Một người đàn ông bị ung thư phổi. Vào ngày 5 tháng 3 năm 1971, ông ta được đưa lên bàn mổ nhưng vì căn bệnh đã phát triển quá nhiều nên không thể tiến hành cuộc giải phẫu được. Các bác sĩ tuyên bố trường hợp của ông ta không còn hy vọng gì. Vào ngày 5 tháng 4, ông ta nghe nói đến liệu pháp măng tây và bắt đầu uống ngay tức thì. Đến tháng 8, các phim X quang cho thấy các dấu hiệu của bệnh ung thư đã biến mất và ông ta trở lại công việc kinh doanh của mình. Trường hợp thứ 4: Một phu nữ bị bệnh ung thư da từ nhiều năm. Sau đó bệnh này đã chuyển sang nhiều hình thức ung thư khác nhau mà vị bác sĩ chuyên gia cho là đã phát triển nhiều rồi. Sau 3 tháng dùng măng tây, vị bác sĩ chuyện gia cho biết da bà ta trông rất tốt và không còn các vết tổn thương nữa. Bà này còn cho biết liệu pháp măng tây còn chữa căn bệnh thận của bà, mắc phải từ năm 1949. Bà ta đã làm 10 cuộc giải phẩu lấy sỏi thận và bà cũng nhận được trợ cấp từ chính phủ về tình trạng thận không thể giải phẩu ở giai đoạn cuối. Bà quy cho liệu pháp măng tây đã chữa khỏi bệnh thận của bà. Tôi không ngạc nhiên lắm vế các kết quả, vì theo “Các yêu tố về materia medica” được xuất bản vào năm 1854 do một ông Giáo sư của Trường Đại học Pennsylvania, nói rõ là măng tây là một phương thuốc dân gian để làm tan các sỏi thận. Hãy chú ý đến ngày tháng ! Chúng tôi còn có nhiều trường hợp khác nữa nhưng ngành y tế đã can thiệp vào việc chúng tôi thu thập các hồ sơ. Vì thế chúng tôi mới kêu gọi các độc giả hãy phổ biến các thông tin rất hữu ích này để giúp đỡ chúng tôi thu thập thật nhiều chứng cứ về các thành tích bệnh sử để áp đảo các người hoài nghi của ngành y tế cho một thứ liệp pháp rất không thể tin được, đơn giản và tự nhiên này. Về cách chữa trị, măng tây phải được nấu chín trước khi dùng vì thế măng tây đóng hộp vừa tươi và tiện lợi. Tôi có liên hệ với 2 công ty đóng hộp măng tây , Giant và Stokely, và tôi rất hài lòng vì 2 nhãn hiệu này không có sử dụng thuốc trừ sâu hoặc hóa chất bảo quản. Bỏ các cọng măng tây vào máy xay sinh tố và đánh cho nhừ, sau đó cất vào trong tủ lạnh. Cho người bệnh uống 4 muỗng canh, 2 lần trong ngày, sáng và chiều tối. Thường thì sau 2 - 4 tuần người bệnh sẽ thấy sức khỏe được cải thiện. Người bệnh cũng có thể pha loãng trong nước nóng hoặc nước lạnh để uống. Liều lượng này được ấn định căn cứ trên các thí nghiệm thực tế nhưng dung lượng nhiều hơn cũng không có hại gì hết mà đội khi rất cần thiết trong vài trường hợp. Với tư cách là một nhà hóa sinh, tôi tin chắc rằng câu châm ngôn cổ xưa rằng “ Cái gì điều trị được thì có thể phòng ngừa được”. Căn cứ theo lý thuyết này mà vợ chồng chúng tôi thường dùng purée măng tây như là thức uống trong các bữa cơm. Chúng tôi dùng 2 muỗng canh được pha trong nước để hợp khẩu vị của chúng tôi cho các bữa ăn sáng và tối. Tôi thì thích uống nóng trong khi vợ tôi thì thích lạnh. Từ nhiều năm rồi chúng tôi thường cho xét nghiệm máu trong các lần kiểm tra sức khỏe. Trong lần kiểm tra máu sau cùng do một ông bác sĩ chuyên về dinh dưỡng liên quang đến sức khỏe, cho thấy có nhiều cải thiện đáng kể trong các thành phần trong máu khác với lần trước đó và chúng tôi có thể khẳng định rằng các cải thiện đó không do cái gì khác hơn là măng tây. Với tư cách là một nhà hóa sinh, tôi có làm một nghiên cứu sâu rộng về các nét đặc trưng của các bệnh ung thư và các phương pháp chữa trị được đề nghị. Và với kết luận cuối cùng, tôi tin chắc rằng măng tây phú hợp nhất cho các lý thuyết về ung thư. Măng tây có chứa một số lượng lớn protein gọi là histones mà tôi tin là rất tích cực trong kiểm soát sự phát triển của tế bào. Vì lý do đó, tôi tin là ta có thể nói măng tây có chứa một chất mà tôi tạm gọi là chất bình thường hóa cho sự phát triển tế bào. Tầm quan trọng của tác động trên bệnh ung thư cũng không khác như là nhiệm vụ của một loại thuốc bổ cho cơ thể. Không để ý đế lý thuyết, trong hoàn cảnh này, măng tây được dùng theo đề nghị của chúng tôi, là một chất vô hại. Cơ quan FDA (Cơ quan kiểm tra thực phẩm và dược phẩm của Hoa Kỳ) không có lý do gì ngăn cản bạn dùng một thứ mà chỉ có đem lại điều tốt mà thôi. Viện Nghiên Cứu Ung Thư Hoa Kỳ đã báo cáo là trong măng tây có chứa chất glutathione, được xem như là chất chống sinh ung thư và chống oxy rất hiệu nghiệm. ) Xin các bạn hãy phổ biến thông tin này. Một việc làm không nghĩ đến lợi ích của bản thân là hãy phổ biến thông tin để nhận lại lòng tốt của người khác, dù cho đó là một người không xứng đáng chút nào. (VLP dịch)

    KINH NGHIỆM CUẢ 1 NGUỜI ĐÃ BỊ BỆNH UNG THƯ
     
    (Hương viết ra những gì H biết để tất cả các bạn tham khảo, có ích cho chính mình, thân nhân và bằng hữu vì mầm Ung Thư hiện diện trong tất cả mọi người, chỉ chờ cơ hội là nó bùng phát). Lời phi lộ của chính tác giả.- Hương đã kinh qua một thời gian bệnh Cancer: gồm 3 tháng dò tìm bệnh, 8 tháng trị chemotherapy, 1 tháng Radiotherapy, còn thử máu thì lia chia...vậy mà ròng rả 1.5 năm mới vượt qua khỏi. Thời gian tìm bệnh cũng nhiêu khê vì có nhiều kỹ thuật đang dùng vẫn không đáng tin cậy như Ultra Sounds, Mammogram, Needle Biopsy: hễ họ nói có thì chắc có bệnh, nếu nói không thì phải xét lại, vì lấy sample sai chổ, vì xớ thịt quá condense...Cũng tại bệnh Tiểu Đường, khiến ăn cơm rất ít; trời lạnh mau đói, lại thêm bạn chỉ cách làm Nem Chua (sau này mới biết bột làm Nem Chua có nhiều Hàn The), tự làm ăn thấy ngon, nên ăn lai rai...cộng thêm làm việc tối đa, lo toan nhiều việc, phiền não cũng bộn...Cuối cùng rước bệnh cũng là lẽ tất nhiên. Cũng vì bệnh, sau khi mổ, bệnh viện dạy cách meditation (tỉnh tâm), làm theo họ chỉ; bỗng chợt nghĩ ra cái vụ Thiền này còn ai hơn Đức Phật, mình mang tiếng theo đạo Phật mà chả biết gì cũng thật uổng, ngày xưa đi học, đeo đuổi riết con đường khoa cử, giờ đây xem ra cũng gần đất xa trời, cũng nên tìm hiểu đạo Phật xem sao...thế là con đường " Hướng về cõi Phật" bắt đầu từ đó. Khi phát giác ra bệnh, phần chánh vẫn phải nhờ chiếu tia X (Radiotherapy), dùng thuốc tây rất mạnh một lúc cho vào vài loại, thuốc truyền vào gân máu (Chemtherapy), thuốc vào tới đâu là ớn người đến đấy. Thường thì thuốc rất mạnh, chính nó cũng làm người bệnh suy yếu vì đặc tính của tế bào ung thư là cứ sinh sản lia chia, nên thuốc cứ tìm tế bào nào đang sinh sản là thanh toán. Tế bào bình thường của cơ thể cũng đang sanh sản, nhưng ít hơn tế bào Ung Thư, nên sau khi vào thuốc lần đầu sẽ bị lở màng bên trong miệng, sau cở 3 lần tóc rụng gần hết như bệnh ban, và chấm dứt kinh nguyệt (nếu người bệnh còn trẻ dưới 43 tuổi, sau khi chấm dứt trị liệu sẽ có kinh nguyệt trở lại). Có người yếu hơn, có thể chết chỉ sau 3 lần vào thuốc (cứ 2 tuần vào thuốc 1 lần). Bạch Huyết cầu và hồng cầu cũng bị tiêu diệt rất rất nhiều, do vậy người đang trị bệnh trở nên xanh xao, vàng vọt hơn vì hồng cầu xuống quá thấp, và người bệnh dễ mắc các chứng bệnh truyền nhiểm khác vì bạch cầu cũng xuống rất thấp, do vậy trước khi vào thuốc, phải đi thử máu để họ đo hồng cầu và Bạch Cầu có xuống quá tệ chăng, thì chờ thêm 1 tuần nữa cho lại sức để ready cho cuộc "hành quân" kế ) Nói chung khi thuốc vào, tức thì thấy bồn nôn, ói mửa liền tù tì...thuốc làm cho xiểng niểng, làm te tua còn hơn trước khi cho thuốc. Chỉ duy có 1 hy vọng là nó kill giùm các tế bào ác tính ấy. Còn Radiotherapy, tuỳ theo bệnh nặng nhẹ, cũng phải làm hàng ngày kéo dài cả tháng , mỗi ngày họ chiếu tia X vào chỉ 4 phút, và da sẽ bị “burn” dần dần. Bác sĩ này phải tính toán rất hay để tia X chỉ đến phần thịt mà không đến phần xương; bởi vì thân mình không thể phẵng, họ phải tính tia X đến phải dừng theo hình cong của cơ thể. Nếu không chính xác, tia X sẽ burn xương và làm dòn xương, có thể gẫy xương.Tóm lại đối với người bệnh Cancer, có nhiều việc phải chú ý, phụ vào sự trị liệu của bác sĩ:

    I/ KHÔNG CHO THÊM VÀO NGUỜI NHỮNG CHẤT TẠO CANCER NỮA:

    1/Hàn The (làm dòn, dai thức ăn biến chế) nên xem lại các món có nó như thịt Nem Chua, Nem Nướng...check lại xem trong nhiều thức ăn biến chế như bánh tráng, bánh phở, mì...họ có cho thêm chăng?

    2/ Sau này hàng Trung Quốc bị các nước phát giác có rất nhiều chất gây hại sức khỏe, nhất là Ung Thư, có những nước tương chứa chất gây Cancer 5000 lần hơn bình thường! Có cả list nhiều hiệu nước tương không thể dùng! nếu kỹ nên dùng nước tương của Singapore, Nhật, Đức, Đại hàn.

    3/Thịt nướng bị cháy không nên ăn, chất bị cháy cũng là nguyên nhân gây bệnh. Tránh xa tia Microwave, khi xài oven nên đứng xa dù họ bảo window của nó không leaking các tia.

    4/ Không ăn thịt đỏ như thịt bò, thịt heo, nên ăn thịt trắng như thịt gà, nhớ tránh ăn cánh gà, vì nơi đây người nuôi hay chích hormone cho gà mau lớn, mau bán...độc. Nói chung bớt thịt, thêm rau.

    5/Tránh chất béo, tránh quá nhiều đường, 2 thứ này tế bào Ung Thư ưa thích.

    6/Nắng gắt có nhiều tia tử ngoại UV cũng làm ung thư da, đừng tưởng xài cream chống nắng là OK, rồi ra phơi nắng (để thêm vitamin D) ( lớp ozone - là phân tử có 3 nguyên tử Oxygen) trên bầu khí quyển bị trống 1 lổ to, do khí thải của các nước phát triển kinh tế, quá nhiều nhà máy phun ì xèo khói, có nhiều carbonic bay lên làm phá dần lớp Ozone che chở ấy!)

    Thức uống trong siêu thị cũng bỏ nhiều chất chống hư = chất bảo quản (preservatives), cũng không tốt, ăn và uống các thứ trái cây rau cải tự nhiên không qua biến chế, để dành lâu vẫn tốt hơn. (chuyện đến đây là hết mức của mình, nếu nói xa hơn, trái cây rau cải, người trồng cũng bỏ phân bón hoá học, thuốc trừ sâu bọ...để cho ra hoa quả tươi tốt, được mùa, giữ lâu không hư khi bán...). [Hồi đó thấy dân tây phương tự trồng rau trái, lấy làm lạ sao họ chịu khó đến thế! thì ra là vậy: sợ Ung Thư quá chừng chừng!]

    7/ Có những người làm trong phòng thí nghiệm, cũng nên lưu ý có nhiều hoá chất gây ung thư gọi là Carcinogen.

    8/ Thứ mà mình ít lưu ý là tránh mua nhà gần các vùng điện cao thế, nơi đó nhà rẻ hơn, VN ta thích rẻ, không để ý việc nguy hiễm vô hình, âm thầm!

    9/ Một thứ không ai biết là có những vùng, phía dưới có chất phóng xạ (tia phóng xạ vào người sẽ bắn tứ tung hết tế bào này qua tế bào khác), từ đất chất phóng xạ lúc nào cũng phát ra nào ai biết được! chuyện này đành xí cho trời đất thôi, nói cho đủ vậy mà. (Thật ra sinh viên đi học, có bài vật lý cũng học về chất phóng xạ, có khi chưa học lý thuyết đã cho thực tập, họ đã dặn dùng kẹp gấp nó, mà rớt tới rớt lui, có khá nhiều sinh viên cũng thò tay bóc nó mà không biết trực tiếp tiếp xúc càng nguy cơ Ung thư!)
    Có nhiều phương pháp tìm bệnh phải nhờ chất phóng xạ để biết chổ nào tim nghẹt, chổ nào đang bị Ung Thư...như là làm MRI, họ chích 1 lượng rất ít chất phóng xạ, sau đó cho nằm dài trong 1 máy to, giữ im lìm như khúc gỗ trong suốt thời gian máy rà từ đầu đến chân để tìm xem có Ung Thư chổ nào! Khi bị Ung Thư mà nghe cho thêm phóng xạ vào là lo lắm, nhưng họ bảo đảm là lượng rất nhỏ không gây bệnh! đành vậy thôi!!)

    II/ DÙNG CÁC DUỢC LIỆU:

    Chống Ung Thư là chống các gốc tự do, free radical, uống 3 vitamin cần kết hợp là (A+C+E) để chống các gốc tự do ấy.

    a/ Tỏi có khả năng chống Ung Thư và kháng trùng, tạo thêm kháng thể ,vì trị Ung Thư nên dùng liều khá hơn bình thường, có thể dùng rượu Tỏi (2 củ tỏi xay cho vào 200 ml rượu), mỗi ngày 3 lần, mỗi lần 1 muỗng canh.

    b/ Cabbage = Cải bắp: dùng máy Extractor, sẽ rút nước, bỏ xác, mỗi bắp cải có thể rút ra 500ml, mua vài bắp rút ra được nhiều hơn, mổi ngày uống 250 ml hay 1 ly.

    c/ Măng Tây, broccoli

    d/ Chống Ung Thư là chống các gốc tự do, free radical, uống 3 vitamin cần kết hợp là (A+C+E) để chống các gốc tự do ấy, các vitamin này có thể mua ở dạng tablet hay mình có thể xay sinh tố uống rất hiệu quả, có lần xem TV thấy 2 ông bà uống 3 tháng hết bệnh: họ xay cam, bôm, cà chua, cabbage, cà rốt...

    e/ Xay Lô Hội và bỏ thêm 1 muỗng Mật Ong để cơ thể khoẻ hơn, thêm kháng thể.

    GIỮ THÂN KHOẺ MẠNH, TÂM AN VUI:

    1/ Tập thể dục, massage cho máu chạy đều hoà, cho các chất ăn uống trên phân phối đầy đủ cơ thể. Kèm theo thở theo kiểu thở bụng để thêm tối đa oxygen và thải toàn vẹn carbonic.
     Thở bụng là bắt đầu thở ra trước, khi thở bụng hóp từ từ, cách mô sẽ kéo lên, khí sẽ lùa ra hết, sau đó hít vào từ từ, cách mô kéo xuống, buồng phổi sẽ to ra, chứa nhiều không khí hơn, đến khi hết hít vào thêm được, ngưng 1 chút để áp lục này sẽ làm sự trao đổi khí hiệu quả, oxy vào máu, carbonic thải ra phổi, và sau đó thở ra, cứ thế mà làm.
    Thở bụng có thể thực hiện lúc nào cũng nên, ngay cả trước khi ngủ cũng sẽ cho giấc ngủ sảng khoái không mộng mỵ
    2/ Tâm an vui: Người bệnh Ung thư, thường không là người èo ọt, rất active, nên đôi khi làm quá sức của mình, và lắm khi cũng rơi vào stress...khi bệnh không làm gì được lại xuống tinh thần, buồn rầu, lo âu...: những thứ này sẽ làm bệnh tệ ra; cho nên phải giữ tinh thần vững chãi, chấp nhận việc gì đến cứ đến, nếu cần tập Thiền cũng là cái lợi không những cho sức khoẻ mà còn cho tinh thần, và xa hơn nữa là cho tâm linh. Chính cái thở sẽ là trung gian giữa thân và tâm linh, khi biết điều hoà hơi thở đến nhẹ nhàng, cũng là làm cho tâm thanh thản, sẽ điều hoà hai hệ thần kinh Trực Giao Cảm và Đối giao Cảm sẽ làm mạch máu mở rộng để máu đến nuôi tế bào thần kinh đầy đủ, rồi làm tâm yên bình và sẽ có thêm đạo lực, khiến tâm không chao đảo trước nhiều tình huống, và khi gần với đạo, sự chết nếu đến sẽ không còn gì đáng sợ, nhưng cũng trong cái không còn sợ chết ấy cũng là chỗ có thể còn sống. Nói chung bệnh Ung Thư phát giác càng sớm càng có cơ hội sống sót, chờ nó phát tán (di căn) qua chỗ mới là không thuốc trị cho nên từ lúc không bệnh, nên biết để sinh sống hầu ngăn ngừa.

    PHÒNG BỆNH HƠN CHỮA BỆNH.

    H viết 1 lèo và gởi nên khó đầy đủ như ý, nhưng cũng tạm đủ cho người cần nó. Viết dài, thường sau khi gởi đi mới phát giác trật vài lỗi chính tả, vậy xin các bạn miễn chấp nhé. Các bạn có thể chuyển cho bất cứ ai cũng là điều nên làm, vì may ra có thể giúp những người chưa bệnh sẽ không bệnh.

    Good reading. Share with your "friends, family, everyone" Dr. K. Austin Practice Limited to Periodontics Asst. Professor of Clinical Dentistry Division of Periodontology, Diagnostic Sciences & Dental Hygiene Herman Ostrow School of Dentistry of USC 925 West 34th Street DEN 4379 Los Angeles CA 90089-0641(213) 740-9670
    Subject:   John Hopkins Update
    Read all please!!!
     Johns Hopkins Update
     
    Bài cùa BS Vũ văn Dzi (JJR1960)
    Chào các Bạn già, Sau cái chết của Steve Jobs, người sáng lập ra Đại Công Ty Apple và được ca tụng như một Thể nhân có khả năng làm thay đổi Thế giới của thế kỷ thứ 21. Thế nhưng, ông cũng đành phải bó tay không thể kéo dài sự sống cho ngay chính bản thân mình, bởi vì ông đã trót chọn kiếp làm người phải chấp nhận qui luật tồn sinh của Tạo hóa.

    Trong tài liệu mà tôi chuyễn đến Các Bạn sau đây, có một đôi điều chúng ta cần hiểu một cách tường tận. Bằng không, cũng không tránh khỏinhững sai lầm như chính nhân vật đại thông thái nầy.


      =====================

    Steve Jobs và ung thư tụy tạng (pancreatic cancer)

    *Bác sĩ Vũ Văn Dzi,* Chuyên Khoa Nội Thương
    Steve Jobs, người sáng lập ra đại công ty Apple, đã từ trần trong tháng 10 vừa qua, hưởng thọ 56 tuổi, về một chứng ung thư hết sức nguy hiểm mà tỷ lệ  tử vong là 95 % sau khi được định bệnh 5 năm. Ung thư tụy tạng mỗi năm làm  cho khoảng 45000 người ở Mỹ mắc phải và 37000 người sẽ chết vì căn bệnh  này, đứng hàng thứ 4 sau ung thư phổi, ung thư vú và ung thư đại tràng (colo rectal cancer)..Năm 2004, Steve Jobs được giải phẫu sau khi mắc phải bệnh ung thư tụy tạng  và sau đó được ghép gan (liver transplant) vào năm 2009 khi chứng ung thư  đã lan sang lá gan nhưng rồi vì bệnh tái phát khiến Steve Jobs phải từ chức lãnh đạo công ty vào tháng 8 2011 và cuối cùng từ trần trong tháng 10 vừa qua.

    Steve Jobs được coi là một trong những nhân vật kỳ tài trong thế kỷ 20 vì  đã có công sáng tạo ra những thiết bị làm đảo lộn của sống hàng ngày như Iphone, Ipad, Ipod.. giúp cho kỹ thuật truyền thông được dễ dàng hơn, giản  dị hơn. Nhờ Steve Jobs nên công ty Apple trở thành lớn nhất thế giới trên  cả công ty Exxon/Mobil mỗi năm thu được hàng trăm tỷ USD tiền lời. Gia tài của cá nhân Steve Jobs được ước lượng khoảng 9 tỷ 

     

    Read more »
  • Tự trị các loại Ung Thư

    Nam Mô Chánh Pháp Sanghata Kinh Như Lai Phật

    Arya Sanghata Sutra Dharma Paryaya

    र्य ंघात ूत्र र्म र्याय

     

    NAMAH SAMANTA BUDDHA NAM

    KAYA VAK CHITTA VAJRA NAM

    OM GHA GHA GHA TAYA GHA TAYA

    SARVA DUSHTAM MARAYA PHAT PHAT

    KILI KILA YA

    SARVA PAPAM HUM HUM HUM

    VAJRA KILI KILA YA

    VAJRA DHAROD AJNAYA PAYATI

    KAYA VAK CHITTA VAJRA KILI KILA YA HUM PHAT

    OM AH KRODHE KA MUDGARA HUM PHAT

    OM VAJRA KRODHA MAHA BALA HANA HANA

    PACHA BIDHAM SAYA

    JATI LAMBO DHARI UCHUSHMA KRODHA HUM PHAT

     

    Phương pháp chửa tất cả loại Ung Thư đơn giản sẽ giải quyết tận gốc rẽ căn bệnh ung thư hoặc tất cả bệnh hiện tại ngay trong kiếp sống có được thân người và sau khi chấm dức cuộc sống thế gian chắc chắn sẽ vảng sanh quốc độ có hạnh phúc và an lạc.

    1- Người bị bệnh ung thư nên thay đổi lối ăn uống, tốt nhất là an chay.

    2-Tụng bài chú ở trên mỗi ngày 108 lần.

    3-Thân tâm phải kiểm soát  nhẹ nhàng. ( Buông xã )

    4- Mỗi ngày phải cố gắng thiền định 1 tiếng niệm bài chú ở trên.

    5- Tìm cho ra sự màu nhiệm câu thần chú.

    6- Tập thể dục theo phương pháp Dịch Cân Kinh. ( Đứng thẳng hai tay buông lỏng tự nhiên đưa tới đưa lui, Tâm chỉ niệm câu thần chú hay một danh hiệu phật, bồ tát, hay câu chú nào cũng đươc )

    7- Thường thực hành điều thiện. Kiểm soát Thân Khẩu Ý thanh tịnh.

    Tự chữa Ung thư bao tử

    Ung thư bao tử là một loại bệnh nan y. Theo y học khi mắc bệnh này người bệnh bắt buộc phải trải qua phẫu thuật, hóa trị hoặc xạ trị. 

    1. Ung thư là kết quả chứ không phải nguyên nhân gây bệnh. Nên nhớ rằng bất kỳ Ung thư ở đâu đều là bệnh tật của toàn bộ cơ thể. Nếu cắt bỏ khối u chỗ này, nó sẽ mọc ở chỗ khác. Vì vậy tuyệt đối tránh xa phẫu trị, hóa trị và xạ trị.

    -         Phẫu trị không những làm suy yếu khả năng chống Ung thư của cơ thể mà còn làm cho các tế bào Ung thư phán tán trong cơ thể.

    -         Hóa trị để diệt tế bào Ung thư sẽ diệt luôn cả tế bào lành mạnh đang phát triển trong nội tạng.

    -         Xạ trị là cách điều trị nguy hiểm nhất so với hai cách trên vì nó không những sẽ diệt luôn cả tế bào lành mạnh mà còn làm đột biến ghen thành tế bào Ung thư.

    1. Phương pháp hiệu quả để chống Ung thư là làm đói các tế bào Ung thư bằng cách không cung cấp thức ăn cho nó. Thức ăn là sự sống, là chìa khóa chính yếu quyết định Ung thư.
    2. Ung thư không những là căn bệnh ở thể xác (thân) mà còn liên quan đến thần (tâm). “Tâm thần an lạc” chính là những chiến binh giúp ta chiến thắng Ung thư. Phải có tinh thần lạc quan, yêu đời, khoan dung, độ lượng, tránh những tình cảm thái quá: vui quá hại tim, giận quá hại gan, sợ quá hại thận, lo quá hại tỳ, nghĩ quá hại phổi.

    Vậy chữa Ung thư bằng cách nào? Đặc biệt chữa Ung thư bao tử.

    -         Không cung cấp nguồn thức ăn cho Ung thư để nó tự suy yếu bằng phác đồ Cầm máu, không cho máu chảy vào khối u (0,16, 61, 287, 50). U ở đâu? Ở bao tử được phản chiếu bằng sinh huyệt 39. Phác đồ hoàn chỉnh là: 0, 16, 61, 287, 50, 39. 

    Phác đồ Diện Chẩn - Cầm máu
     Cầm máu

     -         Tiếp theo bấm phác đồ Diện Chẩn Tiêu u biếu (41, 143, 27, 19, 37, 38). U bướu ở đâu? Ở bao tử bấm huyệt 39. Phác đồ hoàn chỉnh là: 41, 143, 127, 19, 37, 38, 39. Bấm xong nhớ hơ H.39 độ 1 phút. Cuối cùng, hơ trực tiếp vào ổ bụng nơi bao tử độ vài phUng thư. Ngày làm nhiều lần. Ung thư bao tử tiêu rất nhanh. 

    Phác đồ diện chẩn - Tiêu u bướu
    Tiêu u bướu

    4. Sau mỗi lần chữa, nhớ bấm thêm bộ Tăng cường đề kháng và miễn nhiễm (0, 300, 37, 50, 7, 17, 127, 156) để cơ thể thêm khỏe, đủ sức chiến thắng mọi loại bệnh. 

    Diện chẩn chữa Ung thư bao tử
    Tăng cường sức đề kháng và miễn nhiễm

    Self regimen for treating all types of cancers

    1. the enclosure, prevent, counteract all supply lines to the tumor so that it dissipates, weaken and lose their resistance. The best way is not to the blood drain into tumor. the ideal regimen is to stop bleeding: 0, 16, 61, 287, 50.

    2. Comprehensive attack, wide-eyed, continually, day and night if necessary to destroy the tumor as quickly as possible by proscribed Objective tumor: 41, 143, 127, 19, 37, 38.

    3. Constantly strengthen and improve's proscribed by itself strengthen resistance and immunity:

    0, 300, 37, 50, 7, 17, 127, 156. as mentioned, the cure for breast cancer also have to seriously in sequence over a.

    First of all, click Protocol stop bleeding, prevent blood flow to the tumor (0, 16, 61, 50, 287). Where are U? In the breasts, click Add point 73. Complete regimen are: 0, 16, 61, 287, 50, 73. Remember the 73 in position so the maneuver. Depending on the situation of the disease arise where 73 37 can be changed if cancer in the spleen, or 39 if cancer in the stomach (stomach), or 50 if cancer in the liver, or 87 if cancer in the bladder to ...

     b. next, click the protocols Object hump (41, 143, 127, 19, 37, 38, 73) where? In the breasts, click Add points 73 and then sho. When Sho, be very flexible. If the tumor is at the top of the breast (the time zone number 12), than in the upper eyelid. If the tumor under the breast (6th time zone), the Hmong in the lower eyelids of ... May then re breast side symmetrically. In the end more directly into the tumor. on press and Hmong times, breast cancer targets very rapidly.

     c. After each repair, remember to click Add Protocol strengthens resistance and immunity: 0, 300, 37, 50, 7, 17, 127, 156.

    also, remember the patient fulfills the following requirements: upbeat live, love life, avoiding troublesome, angry; regular exercise, especially to breathe deeply; If you need to switch from salty food to fasting; stay away from plastic surgery, chemotherapy and radiotherapy. Hope that the cure for cancer by Anxiety will be widely popular for her child soon get rid of this illness, especially breast cancer did wear the cost of millions of women in the home country.

    QUÝ PHẬT TỬ NẾU KHÔNG RÕ CHI TIẾT TỰ TRỊ BỆNH CHO CHÍNH BẢN THÂN, CÓ THỂ LIÊN LẠC NIỆM PHẬT ĐƯỜNG

    SƯ CÔ TÂM NGUYỆT - ĐIỆN THOẠI- 0979175457

    XIN LƯU Ý: BỆNH TIỂU ĐƯỜNG, UNG THƯ, VIÊM GAN, LIỆT CẢ NGƯƠI, BỆNH TÂM THÂN, MA QUỶ NHÂP, V.V...CÓ THỂ GIẢI QUYẾT MỘT CÁCH NHANH CHÓNG. TẤT CẢ DỊCH VỤ MIỄN PHÍ.

    Read more »
  • Mối Liên Hệ Thượng Sư & Đệ Tử


    Trong Phật Giáo Kim Cương Thừa, chúng ta thường nói đến Thượng sư và đệ tử, thượng sư là người thầy hướng đạo dẫn dắt đệ tử. Đây là một trong những lý do tại sao Thượng sư cần phải hội tụ đầy đủ những phẩm hạnh.

    Một Thượng Sư không thể đơn giản là người chỉ biết giảng Pháp hay vì điều đó quá dễ dàng và điều đó chỉ là phần lý thuyết.

    Quan trọng nhất là người thầy phải có những trải nghiệm chân thật. Dù thầy của bạn là ai đi chăng nữa thì cũng phải là người nhiều kinh nghiệm tu tập để ít nhất cũng hiểu thấu đáo được những gì mình nói. Nếu không, họ có thể nói thao thao bất tuyệt về rất nhiều điều nhưng lại chẳng biết mình đang nói gì.

    Đối tượng quy y thông thường trong Đạo Phật là “Phật, Pháp, Tăng”, tuy nhiên, trong Phật Giáo Kim Cương Thừa, chúng ta có thêm một đối tượng quy y nữa – đó là Thượng sư. Vì Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã thị tịch nên Thượng sư là người thay vì đức Phật truyền dạy, hướng đạo cho chúng sinh.

    Nếu không có các Ngài thì chúng sinh không biết con đường tu tập chân thật giải thoát nên Ngài đại biểu cho Phật, Pháp và Tăng. Mặc dù, Đức Phật Thích Ca đã thị hiện viên tịch nhưng Phật tính vốn sẵn đủ nơi chúng sinh tức là trí tuệ đại giác thì vẫn thường trụ bất biến. Phật tính thường trụ từ vô thủy nhưng chúng ta vẫn chưa chứng ngộ được nó. Do đó, chúng ta không thể thuyết giảng chính xác về cảnh giới giác ngộ hay Phật tính.

    Thượng sư phải là người hội tụ đầy đủ những phẩm hạnh của lòng từ bi, kinh nghiệm và sự tu chứng

    Tại sao chúng ta vẫn hay nói người thầy còn quan trọng hơn cả Đức Phật? Đó là bởi vì Thượng sư tiêu biểu cho Phật, Pháp, Tăng và vì Đức Phật Thích Ca đã nhập Niết Bàn nên chúng ta chỉ có thể tiếp xúc và tu học với một người thầy trong hình tướng loài người. Thông qua sự truyền thông này người thầy sẽ hướng đạo, dẫn dắt chúng ta. Vì vậy, đương nhiên Thượng sư phải hội tụ đầy đủ những phẩm hạnh về lòng từ bi, kinh nghiệm và sự tu chứng. Người thầy phải có tâm từ bi, đặc biệt là lòng từ bi bình đẳng.

    Nếu không có phẩm chất này thì người đó không đủ hạnh làm thầy. Chúng ta có thể chắc chắn một điều rằng nếu một người không có tấm lòng từ bi hỷ xả thì người đó không phải là một Thượng sư.
    Nếu một người thầy có tâm đại từ, đại bi bình đẳng thì dù họ không uyên bác, danh tiếng hay không được trọng vọng trong xã hội cũng không sao. Bởi lẽ họ thực sự chứng đạt và có kinh nghiệm về những gì họ nói nhờ vào sự hiện diện của tâm từ bi ấy. Một mặt rất khó để kiểm chứng phẩm chất của một người thầy, nhưng mặt khác lại rất dễ dàng để làm điều đó vì bạn chỉ cần để ý xem liệu người thầy ấy có từ bi hay không.

    Nói về tâm từ bi, tôi cho rằng các bạn cũng cần phải hết sức thận trọng bởi vì tâm từ, tâm bi như ái kiến từ bi hay từ bi có điều kiện khá khó có thể nhận diện và dễ nhầm lẫn. Ý tôi muốn nói là tâm từ bi có thể dễ bị đánh lừa theo nghĩa là mọi người ai cũng có thể bộc lộ tình thương và lòng từ ‘thông thường’ nhờ tâm đại từ đại bi và đại trí mà tất cả chúng ta vốn dĩ xưa nay vẫn có từ vô thủy.

    Tất cả mọi người ở khắp mọi nơi đều có một chút tâm từ và tâm bi, ngay cả loài côn trùng bé nhỏ nhất từ vô thủy cũng đã sở hữu tất cả những phẩm chất này. Đây là lý do tại sao chúng ta vẫn còn sống và tồn tại trên thế giới này – bằng không chúng ta hẳn đã sát hại tất cả lẫn nhau mất rồi! Nếu không có tình thương và lòng từ bi, hẳn mọi người ai cũng lăm lăm tay súng tay dao và đã tự hủy diệt lẫn nhau từ lâu rồi. Mặc dù chúng ta không phải đang chung sống hòa thuận nhưng dù sao vẫn còn tương đối ổn thỏa nhờ vào bản tâm đại từ đại bi này.

    Tình thương của chúng ta rất không bình đẳng và có điều kiện, chưa đủ để trở thành một Thượng sư

    Mặc dù chúng ta từ vô thủy vẫn có tâm đại từ đại bi, đại trí tuệ nhưng chúng ta chưa hoàn toàn chứng ngộ được bản tâm của mình; bản tâm của chúng ta vẫn bị vô minh che lấp. Đây là lý do tại sao chúng ta chưa có tình thương bình đẳng trong sự tu tập thường nhật. Tình thương của chúng ta rất thiên vị và có điều kiện nên chưa đủ phẩm chất để trở thành một người thầy.

    Một Thượng sư chân thật phải sở hữu một tình thương bình đẳng và vô điều kiện đối với các đệ tử và tất cả những người xung quanh, phải có lòng từ mẫn đối với tất cả mọi hữu tình. Ngay cả đối với những người không có tín tâm và tôn trọng mình, vị Thượng sư vẫn trải rộng tình thương và từ ái đến với họ, điều này có nghĩa là Ngài có vô duyên từ (tâm từ bi vô điều kiện). Tôi hy vọng các bạn thấu hiểu rằng tình thương và lòng từ bi vô điều kiện nghĩa là thương yêu và từ ái vô ngã vị tha mà không cần có bất kỳ điều kiện gì.

    Ngày nay, chúng ta yêu thương nhau vì rất nhiều lý do, chẳng hạn như nhu cầu phải được người khác thương yêu mình. Bạn có thể thấy là bạn yêu thương người khác vì những lý do rất hợp lý. Nếu không có những lý do đó, bạn hẳn đã không yêu thương người khác. Ngược lại, nếu bạn thương yêu một người nào đó mà không vì bất kỳ lý do nào thì sẽ lại bị coi là hẳn bạn có ‘vấn đề’ nào đó! Chúng ta tin là như vậy nhưng niềm tin ấy không chân thực. Tình thương ‘vô điều kiện’ là tình thương không vì bất kỳ lý do nào.

    Thượng sư phải có tình thương và lòng từ bi đối với tất cả các đệ tử bất kể họ là ai

    Thượng sư phải có vô duyên từ bi - tình thương và lòng từ bi vô điều kiện không phân biệt đối với tất cả chúng sinh. Hãy thử tưởng tượng nếu một người thầy yêu người Pháp hơn người Ý, hay thương người Tây Tạng hơn người Châu Âu, thì sẽ thế nào? Sự thực là không nên có bất kỳ tình yêu thương thiên lệch phân biệt nào, nhất là đối với các đệ tử dù họ là ai. Dù người đệ tử có đi theo chính đạo và tu tập hay không thì người thầy vẫn yêu thương họ một cách vô điều kiện. Điều này cũng có nghĩa là người đệ tử được thầy yêu thương không điều kiện dù đệ tử có cúng dường thầy thật nhiều tiền hay chẳng cúng dường chút nào. Mặc dù không phụng sự được thầy về mặt vật chất nhưng nếu bạn tu tập một cách chân chính bằng cách giúp đỡ hết thảy hữu tình thì vẫn là người đệ tử chân chính. Bổn phận một người đệ tử cần phải phát tâm bồ đề tu trì đạo tâm vì lợi ích của vô lượng chúng sinh.

    Chừng nào tâm bồ đề của bạn kiên cố như vậy bạn xứng đáng là một đệ tử. Mặc dù bạn xứng đáng là một đệ tử nhưng người thầy cũng không vì thế mà có sự phân biệt trong việc dành tình thương và quan tâm đối với bạn và những đệ tử khác. Tâm từ bi không chịu sự chi phối của bất kỳ điều kiện nào – đó là điều tôi muốn nói. Tình thương không nên có điều kiện. Giống như sóng biển, dù xảy ra điều gì thì biển vẫn luôn dậy sóng. Cũng như thế, tình thương luôn luôn hiện hữu và dành cho tất thảy hữu tình; nó giống như hư không hay sóng biển vậy.

    Đối với người đệ tử, phát tâm bồ đề rất quan trọng

    Như tôi đề cập ở trên, việc phát tâm bồ đề là rất quan trọng đối với người đệ tử. Những đệ tử có động cơ để làm tăng danh vọng địa vị của mình bằng cách thực hành Phật Pháp, tu tập tâm linh, hay thụ nhận Pháp danh quy y với một vị đạo sư ‘thế này thế kia’, hay bằng việc trở thành một thành viên của một cộng đồng hay dòng truyền thừa ‘này nọ’ thì không xứng đáng được gọi là đệ tử, nghĩa là họ không phải là chân đệ tử. Rất nhiều người trong chúng ta bị mắc khiếm khuyết này trong động cơ của mình. Chúng ta ưa thích khoe khoang về danh tiếng người thầy của mình.

    Dĩ nhiên, tự hào về thầy là điều tốt, nhưng khi tôi kiểm nghiệm động cơ của những người này thì luôn thấy có điều gì đó không ổn. Họ cho rằng Thượng sư của mình phải là người có một danh hiệu nào đó như ‘Pháp Vương’, ‘Nhiếp Chính Vương’ hay ‘Rinpoche’ chẳng hạn. Danh tiếng người thầy càng cao thì bạn càng có xu hướng bám chấp vào nó nhiều hơn! Điều này hoàn toàn không nên chút nào. Nếu như vậy, giả dụ bạn có một người thầy chân chính nhưng không hề có tước hiệu hay không được trọng vọng trong xã hội (nhất là trong cộng đồng Tây Tạng hay Phật Giáo) thì bạn sẽ không muốn nêu tên Ngài mà chỉ gọi Ngài là ‘Thượng sư’ vì không mấy ai biết đến Ngài.

    Như thế là không tốt bởi lẽ động cơ không chân thật. Hơn thế nữa, tôi còn chứng kiến nhiều người đệ tử có chiều hướng muốn thay đổi đạo sư của mình. Đây là điều tôi không sao hiểu được! Thoạt đầu bạn cho rằng một người nào đó là một đạo sư tốt nên bạn quyết định đi theo Ngài, nhưng sau đó bạn nhận ra rằng người thầy của mình không ‘cao cấp’ lắm! Một đạo sư khác nào đó ‘cao cấp’ hơn xuất hiện, danh tiếng hơn và đông đệ tử hơn. Và thế là bạn tiếp cận vị đạo sư này, nói rằng ‘Con đã từng quy y theo người này nhưng giờ con không còn quý mến người đó nữa. Giờ đây con xin nguyện quy y với Ngài!’ Có thể vị thượng sư mới sẽ hỏi: ‘Tại sao?’ Bạn đáp: ‘Vì Ngài có danh hiệu là ‘Pháp Vương’ hoặc ‘Nhiếp Chính Vương’ và tất cả mọi người ai cũng kính trọng Ngài’. Lý do là thế đấy. Rồi sau đó, bạn ra ngoài và tuyên bố: “Tôi là đệ tử của ‘Pháp Vương’, hay tôi là đệ tử của ‘Nhiếp Chính Vương’!”.

    Như vậy là bạn đang chỉ lợi dụng danh tiếng của người thầy mà không hề tiếp xúc được căn bản tình thương và lòng từ bi nơi Ngài. Thậm chí, bạn không hề quan tâm xem liệu Ngài có từ bi hay chỉ có danh mà không có thực tâm. Bạn chỉ quan tâm đến cái danh huyễn, điều này thực sự rất không tốt. Bạn cần phải phát tâm chân thật.

    Cần thiết phải phát tâm bồ đề chân thật để tu tập đạo tâm vì lợi ích của hết thảy chúng hữu tình

    Trước hết cần phải phát tâm chân thật để tu tập giải thoát vì lợi ích chúng sinh. Động cơ này là điều tối quan trọng cần phải phát nguyện khi bạn quy y hay khi khởi đầu sự tu tập. Bạn cần phát tâm bồ đề mạnh mẽ và chân thành vì nhiêu ích giải thoát chúng sinh nhờ vào sự thực hành của mình. Để trưởng dưỡng được tâm bồ đề như vậy, bạn cần phải được dẫn dắt hướng đạo, vì vậy điều quan trọng thứ hai là bạn phải tìm được một đạo sư chân chính, nghĩa là một người thầy có kinh nghiệm tu chứng và tâm đại từ bi bình đẳng. Đó là tất cả những gì bạn cần. Sau đó, thực sự là bạn không cần bận tâm về những tiểu tiết cũng như những vấn đề nhỏ nhiệm về hoàn cảnh sống của mình. Chẳng hề hấn gì cho dù điều kiện sống của mình không được thuận lợi và suôn sẻ.

    Chừng nào động lực của bạn tu tập để lợi ích tất thảy hữu tình thì dù điều kiện nhân duyên gì xảy ra cũng không phải là vấn đề. Dù hoàn cảnh không thuận lợi cũng không sao và bạn không cần phải buồn, lo lắng vì nó. Tất cả những gì bạn cần làm là nhất tâm tu tập để lợi lạc quần sinh. Nếu không, những vấn đề thông thường sẽ xuất hiện và chi phối bạn. Chẳng hạn như sẽ nảy sinh sự thất vọng, nhất là thất vọng về Tăng Đoàn, hay thất vọng với sự sắp xếp tổ chức các buổi giảng Pháp, hoặc thậm chí thất vọng về thượng sư và giáo pháp. Bạn sẽ bị thất vọng đủ thứ. Ví dụ, khi định đăng ký vào một đạo tràng để thụ nhận giáo pháp từ một pháp sư nào đó, bạn sẽ bảo: “Ôi, phí đăng ký đắt quá, tôi không thể tham dự được!” Hoặc có thể phàn nàn rằng bạn muốn duỗi chân cho đỡ mỏi, nhưng vị pháp sư không cho bạn thời gian để nghỉ, v.v...

    Nếu bạn không chuyên tâm hoặc không phát bồ đề tâm vì lợi ích chúng hữu tình thì sẽ có rất nhiều trở ngại xảy đến với bạn

    Những điều nhỏ nhiệm không mấy thuận lợi có thể sẽ gây cho bạn rất nhiều trở ngại và tổn hại đến tín tâm của bạn. Vì động cơ của bạn là có điều kiện nên bạn rất dễ sân hận. Tuy nhiên, nếu bạn nhất tâm phát nguyện thì bạn sẽ không bị sân hận chi phối. Nếu bạn không nhất tâm hoặc không phát tâm bồ đề vì nhiêu ích chúng sinh thì mọi thứ khác sẽ gây rất nhiều trở ngại với bạn.

    Thí dụ như, rất nhiều người muốn người thầy lúc nào cũng dành sự chú ý về mình. Nhưng làm sao mà đạo sư có thể lúc nào cũng chú ý đến những mong muốn nhỏ nhặt này được? Làm sao đạo sư có thể suốt 24 tiếng một ngày quan tâm chú ý đến họ bằng cách mỉm cười với họ, nhìn họ, vỗ vai họ, gọi điện cho họ, viết thư hay gửi thư điện tử cho họ được?

    Làm sao Ngài có thể thực hiện nổi việc này trong khi có thể có tới hàng nghìn đệ tử và vì vậy Ngài sẽ phải gửi hàng nghìn email, viết hàng nghìn lá thư và nói chuyện điện thoại với hàng nghìn người được?! Làm sao Ngài có thể lúc nào cũng dành đủ thời gian cho từng đấy con người? Nhưng nếu Ngài không đáp ứng được điều này, lập tức nhân duyên của bạn với Ngài chấp dứt. Bạn tuyên bố: “Thôi được, giờ tốt hơn hết là mình phải đổi đạo sư vì chẳng thấy Ngài gửi mình email hay gọi điện gì cả. Mình đã cho Ngài số điện thoại của mình nhưng chẳng nhận được cuộc gọi nào. Thế nên mình sẽ tìm một người thầy khác, người sẽ quan tâm đến mình, gọi điện hỏi thăm mình!”

    Mục đích mối liên hệ giữa thượng sư và đệ tử là hướng tới sự trưởng dưỡng đạo tâm

    Điều này là hết sức nực cười phi lý và không có ý nghĩa gì xét từ khía cạnh tu tập thực hành đạo pháp. Dĩ nhiên, nếu xét từ khía cạnh quan hệ thì khác. Nếu bạn muốn tìm cầu Thượng sư dưới hình thức bạn trai, bạn gái hay thành thân thì lại là một vấn đề khác. Nhưng nếu bạn thực sự muốn tu tập thì bạn không thể đòi hỏi Ngài làm những việc này được. Ngay cả một đạo sư có tâm đại từ bi vô điều kiện cũng không thể đáp ứng nổi. Nếu thực sự là những hành giả tu hành chân chính, chúng ta cần phải phát tâm vì lợi ích của chúng sinh. Đây là phương cách tu tập trưởng dưỡng tín tâm dâng hiến đối với đạo sư. Mối liên hệ giữa thầy và đệ tử chỉ nhằm trưởng dưỡng phát triển đạo tâm.

    Mục đích của trưởng dưỡng đạo tâm là vì lợi ích hết thảy chúng hữu tình. Không có bất kỳ mục đích nào khác ngoài mục đích này. Những vấn đề khác chỉ là thứ yếu theo nghĩa chúng sẽ hỗ trợ cho mục đích rốt ráo ấy. Những vấn đề thứ yếu đó bao gồm những việc như thất tu thiền định của bạn ấm áp hơn để hỗ trợ cho sự tu tập, hay luôn có thiện hữu tri thức, tức là ‘Tăng đoàn’ trên bước đường tu; những hành giả khác trong Tăng đoàn có thể trợ duyên cho sự thực hành của bạn. Tất cả những nhân duyên điều kiện này có thể trợ giúp cho bạn rất nhiều, hoặc đôi khi lại có thể gây phiền phức. Thế nhưng, không nên để bất cứ nhân duyên tiêu cực nào chi phối tín tâm dâng hiến của bạn. Chớ để chúng làm mất tín tâm của bạn đối với đạo sư, giáo pháp và sự tu tập. Chớ để tín tâm bị tác động bởi bất cứ điều kiện nào.

    Tất cả mọi thứ đều có thể xảy ra trên thế giới này nhưng mấu chốt căn bản là bạn đừng để bị chi phối. Không bao giờ để tín tâm dâng hiến của bạn đối với giáo pháp của đức thượng sư và sự tu tập bị xao lãng. Đặc biệt, không nên xao nhãng trong sự tu tập thực hành vì tín tâm của bạn đối với đạo sư trước hết được nuôi dưỡng phát triển từ sự thực hành. Nếu không, sẽ rất khó để chúng ta tìm được cách thức tức thời trưởng dưỡng tín tâm hướng về đạo sư trước khi thực hành và sau đó mong muốn tu tập theo giáo pháp Ngài dạy. Mặc dù có thể thực hiện theo cách này nhưng sẽ rất rủi ro. Tôi cho rằng đây chính là lý do tại sao hầu hết mọi người đều bị trật khỏi chính đạo, khỏi thượng sư, giáo pháp của Ngài và đánh mất tín tâm của mình. Điều này sẽ có nguy cơ xảy ra.

    Điều tôi đang muốn truyền tải đến với bạn là mặc dù bạn có thể có một mối liên hệ ‘tốt’ với đạo sư, nhưng bạn có thể lại không có sự kết nối trong tu tập và giáo pháp của đạo sư. Tín tâm dâng hiến của bạn rồi sẽ bị cản trở không được trưởng dưỡng. Bạn sẽ cảm thấy bị bế tắc và mặc dù vậy bạn vẫn sẽ chắc biết điều gì đang xảy ra. Bạn sẽ nghĩ “Mình kính trọng và yêu quí vị đạo sư này. Mình có một mối quan hệ tốt với Ngài, nhưng chẳng thể nào tu tập được nữa. Mình không thể hiểu nổi những gì Ngài truyền dạy.” Điều tồi tệ nhất là bạn sẽ rất dễ dàng từ bỏ đạo sư và giáo pháp. Thậm chí cho dù nếu bạn không từ bỏ Ngài thì mối liên hệ với Ngài cũng chẳng có ý nghĩa gì vì bạn không tu tập. Nếu bạn không tu sẽ giống như đi khám bác sĩ mà không chịu dùng thuốc. Nếu bạn không dùng thuốc thì đi khám bác sĩ có ích lợi gì đâu?

    Vì bạn rất dễ bị xao lãng trước những cám dỗ thế gian, cách tốt nhất là bắt đầu bằng việc chú trọng vào giáo pháp

    Tôi đã chứng kiến rất nhiều tình huống xảy ra ở châu Mỹ, châu Âu và Đông Nam Á khi những người đệ tử hỏi chuyện nhau những câu như: “Ai là thầy anh? Thầy tôi là ‘thế này thế kia’.” Giống như thể họ đang cạnh tranh với nhau vậy. Họ ganh đua với nhau xem đạo sư của ai trẻ hơn, đẹp đẽ hơn, ai nói hay, ai nói dở, ai giao tiếp tốt hơn, v.v... Tôi nghe thấy nhiều thanh niên nói về người thầy như thể họ đang nói về bạn trai, bạn gái của mình vậy! Đó là do họ khởi đầu từ việc có thầy trước rồi sau mới tu tập. Cách này khó thành công hơn vì bạn rất dễ bị trần lụy thế gian làm cho xao nhãng. Vì thế, tốt nhất là hãy bắt đầu bằng việc chú trọng vào giáo pháp.

    Hãy lắng nghe giáo pháp của đạo sư, cố gắng nghiền ngẫm và tìm hiểu thấu đáo rồi kiểm nghiệm xem liệu có phù hợp với bạn hay không. Nếu phù hợp, nghĩa là bạn đã bắt đầu có tín tâm dâng hiến và mối liên hệ với giáo pháp của vị đạo sư đó. Sau khi phát triển được mối liên hệ với giáo pháp của đạo sư, thì tín tâm và mối liên kết của bạn với Ngài sẽ vô tác thành tựu.

    Pháp là đối tượng quy y quan trọng nhất

    Đó là nguyên tắc tương tự như khi chúng ta quy y Phật, Pháp và Tăng. Pháp là đối tượng quy y quan trọng nhất bởi lẽ sau khi hiểu được chân lý và vẻ đẹp của Pháp, bạn sẽ, một cách tự nhiên vô tác, kính ngưỡng Đức Phật Thích Ca vì Ngài chính là người truyền dạy giáo pháp. Vì thế, mặc dù theo thứ lớp quy y, Phật đứng trước Pháp nhưng xét về tầm quan trọng thì thực ra Phật còn đứng sau Pháp. Trong sự tu tập thực hành, Pháp xếp trước tiên, sau đó là Phật vì chỉ sau khi kính ngưỡng Pháp thì sự kính ngưỡng đối với Phật sẽ tự nhiên phát khởi. Nên theo cách thức đó. Cho nên, Pháp phải được quy kính trước hết sau đó mới đến vị thượng sư giáo dạy bạn.

    Tôi cho rằng đây là phương cách rất tốt để phát triển mối liên kết giữa thượng sư và đệ tử. Phương cách này sẽ ít rủi ro và ít lầm lẫn hơn bởi vì bạn đã khai phát được lòng quy kính trước giá trị, hương vị và vẻ đẹp của giáo pháp. Giáo pháp khi đó sẽ đóng vai trò như loại ‘keo dính’ kết nối mạnh mẽ giữa bạn và thượng sư. Đó sẽ không chỉ là một mối liên kết bất hoại mà còn rất an lành nữa bởi lẽ bạn sẽ một lòng nhất tâm khao khát thực hành giáo pháp của Đức Phật thông qua khẩu truyền từ vị thượng sư trong hình tướng loài người mà bạn được hạnh ngộ.

    Vì thế, đây là cách thức thuần tịnh để quy y và bước đi theo con đường đạo pháp. Tất cả những nhân duyên điều kiện khác trở thành thứ yếu và bạn sẽ thậm chí chẳng còn phải quan tâm đến chúng. Đây chính là những gì tôi đã tự mình trải nghiệm bởi vì tôi cũng đã từng gặp những vấn đề tương tự như của tất cả các bạn. Tôi từng có vấn đề trong mối liên hệ với thượng sư, với Tăng đoàn và về mặt chính trị. Thế nhưng, giờ đây tôi thực sự cảm thấy chẳng cần thiết phải làm gì với những vấn đề đó trong sự tu tập và trưởng dưỡng đạo tâm của mình. Tất cả những gì tôi phải làm là tập trung vào việc tu tập tâm linh nương theo ân đức gia trì của thượng sư. Còn những việc khác mọi người muốn làm gì cũng được.

    Chúng ta cần có cái nhìn vượt lên trên quan kiến thông thường hiện tại để nhìn vạn pháp từ lăng kính ‘Báo Thân’

    Cuối cùng chúng ta sẽ có thể tôn kính đạo sư của mình như Vajradhara – Đức Phật Kim Cương Trì, tôn kính Tăng đoàn như chư Bồ Tát, Daka, Dakini. Tuy nhiên, để có được quan kiến này, chúng ta cần vượt lên trên ý niệm hiện tại thông thường và nhìn vạn vật từ lăng kính ‘Báo Thân’. Mặc dù ngay lúc này điều đó có thể quá ‘cao’ và ‘xa vời’, chúng ta vẫn nên đặc biệt quan tâm cho mối liên kết với các thiện hữu tri thức giống như trưởng dưỡng mối liên kết với đạo sư.

    Sống lục hòa tương thân tương ái rất quan trọng cho dù bạn có phải là hành giả hay không, đặc biệt là sống trong Tăng đoàn. Nếu chúng ta không sống tương thân tương ái thì cho dù có tín tâm và sùng kính đức thượng sư, chúng ta vẫn sẽ bị lạc lõng và cảm thấy bị đối xử tệ hại. Những cảm thọ tiêu cực đối với Tăng đoàn chính là phiền não và ám chướng nặng nề, không có gì tồi tệ hơn thế và ảnh hưởng rất xấu tới sự tu tập của bạn. Nếu chúng ta cười nói, giả vờ thân thiết như ôm hôn, bắt tay một cách giả tạo, không xuất phát từ trái tim mình thì sẽ gây ra rất nhiều vấn đề rắc rối cho cả cá nhân chúng ta lẫn người khác. Ấy vậy mà tình trạng này lại đang diễn ra trong Tăng đoàn của chúng ta. Mọi người ôm hôn nhau và nói lời “Xin chào” nhưng lại nói xấu sau lưng nhau. Quả là bất hạnh thay khi đó là điều mà một số hành giả của Đạo Phật đang cư xử, nó ảnh hưởng rất xấu tới sự tu tập đạo tâm.

    Mối liên hệ giữa thượng sư và đệ tử đơn thuần là vấn đề liên quan đến trưởng dưỡng tín tâm

    Mối liên hệ giữa thượng sư và đệ tử đơn thuần là vấn đề liên quan đến trưởng dưỡng tín tâm. Như tôi vẫn thường nói, tín tâm là chính kiến bởi lẽ chỉ thông qua chính kiến thì lòng tin chân chính mới phát khởi. Trong trường hợp này, điều đó có nghĩa là trước khi phát triển mối liên hệ thầy trò, bạn cần hiểu rõ người thầy và người thầy cũng cần hiểu rõ về bạn cùng những phẩm chất của bạn với tư cách là một người đệ tử. Mỗi bên đều nên phát triển sự hiểu biết về mặt trưởng dưỡng đạo tâm và phẩm hạnh nội tâm. Ví dụ, người thầy phải kiểm tra sự tinh tiến và tâm bồ đề của đệ tử. Còn đệ tử cũng có quyền kiểm chứng liệu người thầy có từ bi và chân tu thực chứng hay không.

    Người thầy không nên gượng ép bắt đầu mối liến hệ này trừ phi đảm bảo được sự tinh tiến và bồ đề tâm của đệ tử. Người đệ tử không nên vội vàng khởi đầu mối liên hệ trong khi không biết chút gì về đạo sư mà chỉ vì danh tiếng của người đó. Thực hành giáo pháp là điểm mấu chốt trong sự kết nối này.

    Xin lấy một ví dụ, Ngài Marpa đã không truyền giáo pháp cho Ngài Milarepa trong một thời gian rất dài. Milarepa bị bỏ lại trong khi Marpa truyền thụ giáo pháp cho hơn một trăm đệ tử khác. Mặc dù không được tham dự những buổi truyền pháp như vậy suốt nhiều năm, nhưng Milarepa không bao giờ nghi báng trí tuệ của Marpa. Vì Marpa và Milarepa đều có chính kiến nên mối liên hệ giữa họ trở nên bất hoại. Milarepa chỉ lo ngại rằng mình sẽ không bao giờ được thụ nhận giáo pháp từ Marpa.

    Marpa tiếp tục trì hoãn không truyền thụ giáo pháp cho Milarepa vì Milarepa cần phải tịnh hóa bản thân bằng cách xây dựng rất nhiều công trình, đây chính là pháp tu mở đầu của Ngài. Pháp tu mở đầu của Milarepa là xây cất các công trình, sau đó đập bỏ chúng, rồi xây dựng lại. Ngài phải lặp đi lặp lại công việc này rất nhiều lần. Marpa không thể dạy pháp cho Milarepa trước khi pháp tu mở đầu của Milarepa được hoàn thành bởi vì nếu không giáo pháp sẽ không được thấm nhuần một cách hiệu quả nhất. Do đó, điều quan trọng là Milarepa phải từng bước hoàn tất pháp tu mở đầu của mình một cách chính xác. Đây là lý do chủ yếu tại sao Ngài Marpa cứ liên tục trì hoãn chưa ban truyền giáo pháp cho Milarepa.

    Ngày nay, các bậc thượng sư thường truyền dạy giáo pháp liền một lúc. Rồi họ tuyên bố: “Được rồi đấy, giờ ta đã truyền thụ tất cả các pháp tu cho con, bao gồm cả Mahamudra và Dzogchen. Nay con đã có được mọi pháp để tu tập mà không cần phải hoàn thành bất kể pháp tu mở đầu nào.” Đây thực sự là một sự hỗn tạp! Mặc dù không nên thực hiện theo cách thức này, vậy mà một số người thầy vẫn cứ làm. Tôi không hiểu tại sao, có lẽ là do họ không có đủ phẩm hạnh hoặc có thể họ chỉ ‘trưng bày’ thế thôi và vì lý do nào đó họ không truyền thụ bất kỳ giáo pháp nào. Điều này quả thực không nên.

    Thượng sư nên thực tế và cần phải kiểm tra tâm bồ đề của đệ tử

    Thượng sư nên thực tế và cần phải kiểm tra tâm bồ đề của đệ tử. Sau đó, cố gắng trưởng dưỡng cho người đệ tử. Còn người trò không nên vội vàng hấp tấp lao vào các pháp tu cao cấp mà không bắt đầu bằng tu trì pháp tu mở đầu. Đệ tử nên làm những việc thực tế, đừng nên chỉ quanh quẩn bên đạo sư và chuyện trò với Ngài. Có thể sẽ mang lại niềm vui thật đấy nhưng không thực tế. Bạn nên chỉ thụ nhận một số giáo pháp, sau đấy thực hành pháp tu đó. Như vậy lợi ích hơn rất nhiều việc chỉ biết loanh quanh rao rảng: “Ồ, đức thượng sư của tôi là thế này thế kia, tôi đang đi cùng Ngài và đoàn của Ngài.” Việc này không lợi ích. Nó không có chút ý nghĩa nào ngoại trừ gia tăng danh vọng. Do đó, sự tu tập tâm linh của bạn cần phải được thực hiện.

    Khi bạn đã có đôi chút tín tâm, chính kiến và một chút ý thức rõ ràng trong tâm về đạo sư và giáo pháp của Ngài, giáo pháp đó cần phải được vận dụng và hiểu biết đúng đắn ngay lập tức. Nếu bạn nắm bắt và vận dụng được sự hiểu biết của mình theo mục đích, bạn sẽ tiến bộ trên bước đường tu tập. Bằng không, sẽ chẳng có điều gì xảy ra. Vì vậy, từ nay trở đi bạn nên bắt đầu sự tu tập. Như tôi đã từng nói, nếu bạn nhất tâm thì sẽ không có điều gì thực sự đáng ngại cả. Chỉ cần kiên trì tu tập thì không có gì đáng để bận tâm nữa. Hãy nhất tâm trưởng dưỡng tâm bồ đề vô ngã vị tha và sự tu trì của bạn sẽ là sự tu tập chân chính. Như vậy đấy! Bạn hãy thực hành và sự tiến tu sẽ tiếp bước theo sau.

    Dĩ nhiên, người ta thường nói rằng tín tâm ban đầu cần phải rất mạnh mẽ rồi bạn mới tiến bộ được. Thế nhưng, thực ra rất khó để có được tín tâm mạnh mẽ ngay từ đầu, cho nên một khi bạn đã phần nào hiểu được về người thầy, bạn thực sự cần tận dụng và đừng lãng quên. Đừng nên đánh mất chính kiến ấy.

    Hiện nay, nhiều Phật tử rất thiếu chính kiến. Họ không biết mình thực sự đang làm gì trong việc tu tập đạo tâm. Họ luôn khát khao mong đợi khám phá ra điều gì đó nhưng lại không chịu tu tập thực hành. Họ có mong muốn mạnh mẽ tham dự những đại pháp hội trước khi bắt đầu sự thực hành, nhưng điều đó chẳng giúp ích gì vì cuối cùng họ lâm vào nghi báng do thiếu trí tuệ. Có được thứ trí tuệ nhất tâm rất cần thiết quan trọng nhưng trí tuệ ấy lại bị thiếu mất. Họ chỉ biết ngồi đó suy nghĩ vẩn vơ xem mình nên tu pháp nào: “Mình thụ nhiều pháp như thế, nên tu pháp nào đây? Nên theo đạo sư nào đây? Nên nhận một hay hai người làm thầy? Nên tu pháp Dzogchen hay Jang Chog (pháp tu cầu siêu)?” Đủ thứ vọng niệm tà kiến sẽ phát khởi.

    Bạn nên thực hành ngay khi có chính kiến

    Sẽ có rất nhiều mâu thuẩn nảy sinh trên con đường đạo pháp của bạn, chúng mang tính hủy hoại và lãng phí rất nhiều năng lượng và thời gian của bạn khi bạn chỉ biết ngồi đó suy nghĩ vẩn vơ mà không chịu tu tập. Thay vì như vậy, bạn nên lập tức tu tập thực hành mỗi khi có chính kiến. Bạn nên nắm bắt lấy những cơ duyên này nhưng đồng thời cũng phải kiểm chứng xem chính kiến đó là như thế nào. Có phải bạn thực sự say mê giáo pháp và tu trì vì lợi ích của hết thảy hữu tình hay chỉ vì bạn quan tâm ưa thích cá nhân vị đạo sư đó? Điều này rất quan trọng. Nếu chỉ vì bạn quan tâm ưa thích cá nhân người thầy đó thì rất nguy hiểm và dễ lầm lạc. Hệ quả sẽ dẫn đến nhiều hiểu lầm rắc rối. Tuy nhiên, nếu bạn ưa thích giáo pháp của đạo sư thì đó là điều tốt. Vì vậy, một mặt rất khó để có thể khởi đầu, nhưng mặt khác cũng lại rất giản đơn.

    Ngay trong cộng đồng người Tây Tạng chúng ta cũng gặp phải rất nhiều vấn đề. Chúng ta có rất nhiều tín đồ nhưng tín tâm của họ rất mang nặng tính bè phái. Họ phân biệt “Ôi, Pháp Vương của chúng ta! Đức Thượng sư của chúng ta! Thầy của chúng ta!” Từ tận đáy lòng, họ rất mực kính quý, luôn chăm sóc chu đáo cho đạo sư và thậm chí có thể hy sinh tính mạng vì người thầy. Nếu họ thực sự kính trọng bậc Thượng sư là rất tốt. Thế nhưng, đó không nhất định là lòng tín tâm sâu sắc mà là do ái kiến tình cảm. Họ sẵn sàng hy sinh vì đạo sư do xúc cảm mạnh mẽ và kéo dài. Đó không phải là tín tâm sâu đậm vì họ có thể lại rất ghét những Thượng sư khác. Trong xã hội Tây Tạng, chúng ta đặc biệt có xu hướng tiêu cực này. Song, tôi hy vọng rằng xu hướng này sẽ không gặp phải ở phương Tây nơi Phật Pháp còn rất mới mẻ.

    Chúng ta không nên để bất kỳ cảm xúc hay ý tưởng tiêu cực nào ảnh hưởng xấu đến tín tâm của mình.

    Chúng ta không nên để bất kỳ cảm xúc hay ý tưởng tiêu cực nào ảnh hưởng xấu đến tín tâm của mình, nếu không, đó tuyệt đối không phải tín tâm thanh tịnh. Chúng ta cần có tín tâm thanh tịnh, chính kiến thanh tịnh dựa trên sự tu tập đạo tâm. Không nên khởi nghi báng về bậc thượng sư người đã khai thị hướng đạo để trực nhận bản tâm nơi mình. Bất kỳ ai khai thị bản tâm trong sáng nơi bạn, người đó luôn là bậc vô thượng sư, nhưng chớ để điều đó khơi dậy tình cảm trần lụy mà hãy để nó khơi dậy tín tâm và trí tuệ hiểu biết của bạn về Đức Phật Kim Cương Trì - Vajradhara và bản tôn.

    Chẳng hạn, bạn không nên có ý nghĩ cho rằng những thượng sư khác không can hệ đến bạn là những người ‘thứ yếu’, hoặc dù họ có bị giết hại cũng không sao vì bạn chẳng ưa thích gì họ! Đôi khi, nếu bạn càng yêu thương mạnh mẽ thì sự thù hận ghen ghét cũng càng mạnh mẽ - yêu ghét luôn đi đôi với nhau. Tuy nhiên, đây là thứ tình thương thế gian trần lụy. Vì chúng ta đang sống trong cõi thế tục, cũng khó tránh khỏi những vọng niệm xúc tình tiêu cực nhưng chúng ta phải nỗ lực tinh tấn tỉnh thức nhất tâm tu tập đừng để xao lãng.

    Điều tôi muốn nhắn gửi đến các bạn là dẫu cho một cách tương đối, bạn có thể xếp các bậc đạo sư của mình các vị trí thứ nhất, thứ nhì hay thứ ba về mặt tình cảm hoặc trong sự tu tập nhưng bạn vẫn luôn phải sùng kính các vị đạo sư một cách bình đẳng không chỉ là đạo sư của bạn. Còn nếu bạn có thái độ phân biệt thì điều đó có nghĩa bạn chưa thực sự hiểu biết chân thật về Thượng sư. Cái hiểu của bạn đã bị lệch lạc, nghĩa là bạn có thể chỉ ưa thích cá nhân vị đạo sư chứ không phải giáo pháp của Ngài. Sự ưa thích đó có thể sẽ gây rắc rối. Mặc dù nó có vẻ là một ý nghĩ hay ho và lãng mạn, nhưng cũng chính là một bước đi sai lệch đầu tiên. Nó dường như thật dễ chịu, lãng mạn, ngọt ngào, ấm áp và đầy màu sắc, nhưng hệ quả thì vô cùng đảo điên. Nó sẽ dẫn đến một mối liên hệ lệch lạc với đạo sư, một sự tu tập lầm lạc, và một Tăng đoàn hỗn loạn.

    Quan kiến thanh tịnh và tín tâm thanh tịnh cùng song hành

    Trong Phật Giáo Kim Cương Thừa Tây Tạng có câu: “Chừng nào bạn có tín tâm đối với thượng sư và giáo pháp của Ngài, chừng đó chắc chắn bạn cũng sẽ có được chính kiến thanh tịnh đối với chư vị thượng sư và mọi người khác.” Quan kiến thanh tịnh và tín tâm thanh tịnh luôn song hành với nhau. Nếu cái được gọi là tín tâm của bạn đối với đạo sư thực chất lại mang tính cảm xúc thì bạn sẽ không thể có được chính kiến thanh tịnh về bất kỳ người nào khác. Thay vào đó, bạn sẽ có tà kiến bất tịnh về các Rinpoche và đạo sư khác. Thật không may và đáng buồn thay, điều này lại đang diễn ra trong xã hội của chúng ta.

    Trong cộng đồng Phật Giáo, đặc biệt là trong cộng đồng Phật Giáo Tây Tạng, chúng ta có các trung tâm Phật Pháp, có các đệ tử, các vị lama, các bậc đạo sư không sống hòa hợp được với nhau. Nếu loại tà kiến này hiện hữu thì chắc chắn người đó không có tín tâm. Họ không có tín tâm cho dù họ rất yêu quý bậc thầy và luôn miệng nói: “Ôi, đức thượng sư của tôi, dòng truyền thừa của tôi, đạo tràng của tôi!” Có thể họ giúp đỡ được phần nào đó cho đạo tràng của mình nhưng điều đó không có nghĩa là họ có tín tâm chân chính về mặt đạo tâm. Dĩ nhiên, không có gì sai trái khi bạn có mối liên hệ tình cảm đối với người thầy và khi bạn muốn giúp đỡ Ngài, dòng truyền thừa hay trung tâm Phật Pháp của Ngài. Điều đó cũng tốt! Nhưng đây không phải là con đường chân thật để khai triển các mối nhân duyên liên kết song song với con đường tu trì đạo pháp.

    Phân định rõ ràng giữa lòng sùng kính tín tâm với cảm xúc là tương đối khó khăn. Tuy nhiên, tín tâm thanh tịnh cần phải được thiết lập trong mối tương quan với sự thực hành đạo pháp chứ không phải mang tính tôn giáo. Bất kỳ ai giáo dạy bạn về tăng trưởng đạo tâm và con đường tu tâm luôn là bậc vô thượng sư. Thế nhưng, mối liên kết với bậc thượng sư đó cần thuần khiết và dựa trên tín tâm thanh tịnh. Nếu có được điều này, không bao giờ có chuyện bạn nói những lời bất mãn, tiêu cựu về đạo sư của mình cũng như về bất kỳ vị đạo sư nào khác. Không bao giờ có chuyện đó xảy ra!

    Tại sao bạn lại nói những lời tiêu cực? Thậm chí về mặt sự tướng, bạn có thể chứng kiến rất nhiều, được nghe kể rất nhiều những điều tiêu cực đi chăng nữa, thì sao nào? Đó không phải là việc của bạn! Việc của bạn là tập trung tu dưỡng thực hành đạo pháp, những gì thượng sư đã truyền dạy cho bạn, vậy thôi! Tất cả những vấn đề khác của thượng sư là việc của Ngài. Cho dù Ngài có đang cố hủy hoại cả thế giới đi nữa thì cũng chẳng sao! Cứ để Ngài làm nếu có thể. Việc của bạn là kiểm soát những cảm thọ của mình, chuyển hóa chúng và trưởng dưỡng theo hướng tích cực để cuối cùng làm lợi ích cho vô lượng hữu tình. Nếu bạn nhất tâm tu hành như vậy, chính là đang phụng sự đạo sư và bản thân mình. Bạn đang phát triển cách sống chân chính và đang làm lợi lạc cho hết thảy chúng sinh. Cuộc đời bạn vì thế sẽ tràn đầy hạnh phúc, an lạc, thành tựu và mãn nguyện.

     SOURCE: TP

    Pháp Vương Gyalwang Drukpa đời thứ XII khai thị

     
    Read more »
  • Thiền Định Đại Toàn Thiện

    Kính lễ Đạo sư,

    Cái thầy và Thiền định Đại toàn thiện có thể được diễn giải bằng nhiều, nhiều cách, nhưng đơn giản việc duy trì tinh túy của sự nhận biết trong hiện tại gồm chứa tất cả chúng.

    Tâm của con không thể tìm thấy ở đâu khác.

    Nó chính là bản tính của sự suy nghĩ từ khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác.

    Hãy nhìn một cách trần truồng cốt lõi của sự suy nghĩ này và con sẽ  tìm thấy sự nhận biết hiện tại, ngay tại nơi con ở.

    Tại sao lại phải chạy theo các suy nghĩ, chúng chỉ là những gợn sóng bề mặt của sự nhận biết hiện tại?

    Hơn thế, hãy nhìn thẳng vào bản tính trần truồng, trống rỗng của các ý nghĩ; khi đó sẽ không có nhị nguyên, không người quan sát, không có gì được quan sát.

    Đơn giản chỉ nghỉ ngơi trong sự nhận biết hiện tại trong suốt và bất nhị này.

    Hãy như đang ở nhà mình trong trạng thái tự nhiên của sự đơn giản hiện diện, chỉ đang là, không làm cái gì đặc biệt cả.

    Sự nhận biết hiện tại thì trống rỗng, rộng mở và sáng tỏ; nó không phải là vật chất cụ thể, nhưng cũng không phải là không có gì cả.

    Trống rỗng, nhưng hoàn toàn nhận biết, sáng tỏ, tỉnh thức.

    Giống như, thật kỳ diệu, không bởi cố gắng để nó trở nên nhận biết, mà là nhận biết tự có, sự nhận biết liên tục hoạt động.

    Hai mặt này của sự nhận biết hiện tại hay Rigpa – tính trống rỗng của nó và tính nhận biết ( sáng tỏ) của nó – là không thể phân chia.

    Trống rỗng và sáng tỏ (nhận biết) là không thể chia tách.

    Chúng không có hình tướng, giống như không có gì cả, không nắm bắt được, không sinh ra, không mất đi; nhưng thoáng đãng, sáng rõ, sống động.

    Không có gì cả, nhưng thật tuyệt diệu!, tất cả mọi thứ được kinh nghiệm một cách kỳ diệu.

    Đơn giản là nhận ra nó.

    Nhìn vào tấm gương huyền ảo của tâm và thưởng thức sự trình diễn kỳ diệu vô tận này.

    Với sự chánh niệm liên tục, chú ý, duy trì sự nhận thức về tính giác trống rỗng, rộng mở, sáng tỏ.

    Đừng tu tập gì khác.

    Không có gì khác để làm, hoặc để sửa lại.

    Hãy để nó tiếp tục tự nhiên.

    Đừng làm hỏng nó bằng điều khiển, kiểm soát, can thiệp vào nó, hay lo lắng xem mình đang đúng hay sai, hoặc đang có sự thiền định tốt hay tồi.

    Hãy để nó như nó là, và nghỉ ngơi cái tâm mệt mỏi của mình.

    Sự sáng tỏ tối thượng của Pháp thân – sự thật tuyệt đối – thì không có gì hơn là chính bản tính của cái tâm bình thường không trù tính hay sắp xếp gì này.

    Đừng tìm Đức Phật ở đâu khác.

    Nó không là gì khác ngoài cái bản tính của sự nhận biết hiện tại này.

    Đó là vị Phật ở bên trong.

    Có vô số giáo pháp.

    Có vô số đối trị cho nhiều dạng khác nhau của các căn bệnh tâm linh.

    Có rất nhiều ngôn từ về giáo lý bất nhị của Đại Thủ Ấn và Đại Toàn Thiện.

    Nhưng gốc rễ, trái tim của mọi thực hành đã được bao gồm ở đây, đơn giản duy trì bản tính sáng tỏ tự nhiên của sự nhận biết hiện tại này.

    Nếu con tìm ở đâu khác một cái gì tốt hơn, một vị Phật siêu việt hơn sự nhận biết hiện tại này, con đang đánh lừa chính mình.

    Con đang bị trói buộc, vướng mắc vào dây gai của hi vọng và sợ hãi.

    Vì vậy hãy từ bỏ chúng! Đơn giản duy trì sự tỉnh giác hiện tại, khoảnh khắc này sang khoảnh khắc khác.

    Sự tận hiến, lòng từ bi và hoàn thiện các đức hạnh và trí tuệ là những phương pháp hỗ trợ quan trọng nhất để hoàn thành giáo lý bất nhị trần truồng này về sự nhận biết hiện tại, Pháp thân tự có.

    Vì vậy hãy luôn tận hiến mình cho việc thực hành giáo pháp để làm lợi lạc cho người khác và áp dụng thân, khẩu, ý của mình vào những gì đức hạnh và lành mạnh.

    Mong điều lành tăng trưởng.

    Mong mọi chúng sinh đều an lạc!

    Source: TP

    Đức Jamgon Kontrul Rinpoche đệ nhất. Jamgön Kongtrül Lodrö Thayé (1813-1899)

    Dịch bởi Rangxi Sangbo

     
    Read more »
RSS