Chúng tôi đã thuyết giảng về những cảm xúc đau khổ và các tai hại mà chúng sẽ gây ra cho việc hành trì tu tập của chúng ta. Tuy nhiên, điều ấy không có nghĩa là chúng ta không quan tâm đến những cảm xúc đó. Tôi biết rằng trường dạy Tâm Lý Học ở Tây Phương người ta thường khuyến khích việc bày tỏ những cảm giác và xúc cảm, ngay cả những cảm xúc tức giận.
Chắc hẳn có nhiều người đã gặp phải những nỗi đau buồn trong quá khứ của họ, nếu những cảm xúc này bị dồn ép, chúng có thể tạo nên sự tác hại tâm lý lâu dài. Trong những trường hợp như vậy, nói theo cách nói của người Tây Tạng: “khi vỏ sò khép kín, muốn làm sạch sẽ nó, cách tốt nhất là thổi vào nó”.
Do đó, tôi nghĩ rằng điều quan trọng cho những ai muốn tu tập có kết quả cần tự mình kiềm chế chống trả lại những cảm xúc tai hại như sự tức giận, lòng tham luyến, và tính ganh ghét. Thay vì theo đuổi những tình cảm tiêu cực, chúng ta nên cố gắng giảm thiểu sự lôi cuốn hướng về chúng.
Nếu chúng ta tự hỏi bản thân là khi nóng giận, chúng ta sẽ hạnh phúc hơn hay lúc chúng ta điềm tĩnh thì câu trả lời thực rõ ràng. Như chúng ta đã thảo luận trước đây, sự rối loạn tinh thần là do kết quả gây nên bởi những cảm xúc đau khổ khiến nội tâm bị xáo trộn và chúng ta cảm thấy bất an cũng như phiền não.
Muốn hạnh phúc, mục tiêu chính của chúng ta là phải chiến đấu với những cảm xúc khổ đau này. Chúng ta chỉ có thể đạt được hạnh phúc khi chúng ta quyết tâm và nỗ lực tu tập trong một thời gian dài và theo cách nói của những người Phật tử chúng ta là có thể nhiều kiếp trong tương lai.
Như chúng ta đã thấy, những nổi khổ đau tinh thần không bao giờ biến mất, chúng cũng không dễ dàng tiêu tan theo thời gian. Chúng chỉ chấm dứt khi tâm chúng ta nỗ lực hủy diệt, làm giảm khả năng tác hại và cuối cùng hoàn toàn loại bỏ chúng.
Nếu chúng ta muốn thành công, chúng ta phải biết chiến đấu chống lại những cảm xúc đau khổ đó. Chúng ta bắt đầu thực hành giáo pháp của đức Phật, bằng cách tìm đọc kinh sách và lắng nghe sự chỉ dạy của các bậc thầy kinh nghiệm. Ðiều này giúp chúng ta cải thiện hoàn cảnh khó khăn trong vòng lẩn quẩn khổ đau của đời sống và hiểu rõ phương pháp tu hành để vượt thoát khỏi cảnh phiền não ấy.
Qua việc nghiên cứu học tập như vậy chúng ta sẽ có được “những hiểu biết nhờ lắng nghe”. Nó cũng là nền tảng cần thiết cho sự phát triển tâm linh. Sau đó, chúng ta nên triển khai những điều chúng ta đã học hỏi được đến một nhận thức sâu sắc hơn. Hành động này mang lại cho chúng ta có được “những hiểu biết nhờ sự quán chiếu”. Một khi chúng ta đã chọn lựa một chủ đề, chúng ta tập trung thiền quán vào đó cho đến lúc tâm chúng ta hòa nhập với nó. Ðiều này sẽ mang đến cho chúng ta một kiến thức kinh nghiệm gọi là “những hiểu biết nhờ thiền định”.
Ba trình độ hiểu biết trên rất cần thiết trong việc làm thay đổi thực sự cuộc sống của chúng ta. Với những hiểu biết qua nghiên cứu học tập niềm tin của chúng ta trở nên vững chắc hơn, mang lại sự thấu triệt thông suốt về thiền định.
Nếu chúng ta thiếu những hiểu biết có được nhờ nghiên cứu học tập và suy niệm thì dù có chuyên tâm thiền định, chúng ta cũng sẽ gặp phải nhiều khó khăn trong chủ đề chúng ta đang thiền định. Ðó là bản chất vòng lẩn quẩn sự khổ đau của chúng ta. Ðiều này cũng giống như là chúng ta bị ép buộc phải gặp một người mà chúng ta không muốn gặp. Do đó, điều quan trọng là chúng ta cần phải cố gắng thực hiện được ba trình độ hiểu biết này liên tục với nhau.
Hoàn cảnh xung quanh ảnh hưởng nhiều đến chúng ta. Chúng ta cần có một nơi yên tĩnh để tu tập. Ðiều thiết yếu nhất là chúng ta nên hành thiền nơi vắng vẽ. Nhờ vậy, tâm hồn chúng ta mới không bị xáo trộn và phiền não.
Kẻ Thù Nguy Hiểm Nhất
Việc thực hành Phật Pháp của chúng ta phải là một sự tinh tấn lâu dài nhằm đạt mục đích thoát khỏi những điều đau khổ. Nó không đơn thuần là một hành vi đạo đức nhờ đó chúng ta tránh được các hành động tiêu cực và phát huy những việc làm tích cực.
Trong khi hành trì tu tập, chúng ta cố gắng tìm cách vượt qua hoàn cảnh mà tất cả chúng ta đều nhận thấy là nạn nhân của những đau khổ tinh thần - kẻ thù của sự bình an và thanh thản. Những khổ đau này - như là sự luyến ái, tức giận, tính kiêu ngạo và lòng tham v.v.. là những trạng thái tinh thần khiến chúng ta hành động tạo ra các phiền não và đau khổ cho bản thân mình.
Vào lúc tu tập nhằm đạt đến sự an lạc và hạnh phúc trong tâm hồn, chúng ta nên xem chúng như là ma quỷ, bởi vì giống như ma quỷ, chúng có thể ám ảnh chúng ta và mang đến cho chúng ta những điều khổ đau. Trạng thái vượt ra khỏi những cảm xúc và ý nghĩ tiêu cực, cũng như mọi nỗi buồn phiền âu lo gọi là Niết Bàn (Nirvana).
Ðầu tiên, chúng ta không thể chiến đấu trực tiếp với những sức mạnh tiêu cực trên. Chúng ta phải từ từ đến gần chúng. Trước hết chúng ta nên áp dụng giới luật, chúng ta kiềm chế để khỏi bị tràn ngập bởi những ý nghĩ và cảm xúc tiêu cực này. Chúng ta hành động như vậy bằng cách chọn một cuộc sống đạo đức.
Theo Phật giáo, điều ấy có nghĩa là chúng ta nên cố gắng giữ gìn không làm mười điều ác nơi thân gồm có sát sanh hay trộm cắp; khẩu nghiệp ở miệng tức nói dối và nói lời đâm thọc cùng các việc làm ác phát xuất từ ý nghiệp như lòng tham, sự tức giận và hận thù.
Khi nghĩ tưởng đến các hành vi bất thiện trên, chúng ta sẽ nhận thấy rằng những cảm xúc như lòng quyến luyến đắm say - đặc biệt là tánh nóng giận và lòng thù hận là những cảm xúc rất tai hại khi chúng xuất hiện nơi chúng ta và nhiều kẻ khác. Người ta có thể nói rằng những xúc cảm này là một sức mạnh thực sự phá hoại trên thế gian hiện nay. Chúng ta cũng có thể bảo rằng phần lớn mọi phiền não và khổ đau mà chúng ta gặp phải, căn bản chúng ta đã tự tạo, đều hoàn toàn xuất phát từ những cảm xúc tiêu cực nói trên. Thực vậy tất cả mọi nỗi khổ đau đều là hậu quả trực tiếp của những cảm xúc tiêu cực này như sự quyến luyến, lòng tham, tánh ganh ghét, kiêu ngạo, sự tức giận và hận thù.
Mặc dù ngay từ đầu chúng ta không thể tận diệt hết những cảm xúc tiêu cực, nhưng ít ra cũng không hành động theo chúng. Từ đây, chúng ta nỗ lực phát triển sự tu tập thiền định của mình để trực tiếp chống lại những khổ đau nội tâm và luyện tập sâu sắc đức tính từ bi của chúng ta. Sau cùng, chúng ta cần diệt trừ hết mọi nổi khổ đau, bằng cách nhận thức rõ cuộc đời vốn là không.
Những người học thiền thường nghe câu: “Đản nguyện không chư sở hữu, thiết vật thật chư sở vô”: chỉ cốt thấy mọi hiện tượng đều là không, nhưng nhất thiết đừng làm cho cái không ấy trở thành thực có. Có nghĩa là đừng “chấp không”. Bởi vì có rất nhiều thứ “không” tùy nơi chốn, tùy trình độ tu chứng.
Trong kinh Trung bộ, Phật lấy ví dụ một tỷ kheo sống trong một tịnh thất ở làng, thì không có những phiền não của làng mạc chợ búa gọi là “thôn tưởng” nhưng không phải là không có chúng tỷ kheo, gọi là “nhân tưởng”. Khi vị ấy vào rừng độc cư thiền tịnh, thì không có nhân tưởng (vì ở một mình) nhưng còn có những ảo tưởng do đời sống ở rừng gây ra như nghe tiếng cọp gầm, tiếng phi nhân... gọi là “lâm tưởng”. Cái gì có, vị tỷ kheo xác nhận là có, cái gì không, vị ấy xác nhận là không. Như vậy là sự sống tỉnh giác của người tu tập để gột rửa tham ưu ở đời. Đó là cái “không” đạt được do từ bỏ dần dần, gọi là “tích không quán”.
Hãy lấy một ví dụ khác về những cái “không” khác nhau như sau. Cái “không” của phàm phu là không các pháp thượng nhân, không giới không định không tuệ. Cái không của người xuất gia là không gia đình vợ con. Cái không của sơ quả tu đà hoàn là không năm triền cái. Cứ thế càng tiến tu, thì càng “không” được nhiều thứ nữa, cho đến khi không còn gì để mà “không” được nữa, mới gọi là “chân không”. Các bậc hiền thánh đều có những cái “không” khác nhau, như kinh Kim cang nói, “Nhất thiết hiền thánh giai dĩ vô vi pháp nhi hữu sai biệt” (từ một pháp vô vi – tức Không – mà có nhiều tầng bậc hiền thánh khác nhau).
Nếu ôm giữ một cái “không” thì không thể tiến lên những cái “không” cao vượt hơn. Người tu hành cần đạt đến chỗ tuyệt đỉnh là trí tuệ Bát nhã chân không, mà trong Trung bộ kinh đức Phật gọi là “an trú trong Tính không”: “Này các tỷ kheo, ta nhờ an trú tính không nên rất an lạc”.
Tính không mà đức Phật an trú đó chính là bát nhã chân không. Kinh Trung bộ mệnh danh là “đại không”, được giải thích như sau. Khi đức Phật tiếp xúc với đủ mọi hạng người trong xã hội, tâm Ngài luôn hướng về viễn ly, độc cư, ly dục, cho nên được bất dộng. Đó gọi là an trú nội không, ngoại không, nội ngoại không, an trú bất động. Nội không là cái không của ngũ uẩn, lục căn. Vì sao nói năm uẩn là không? Trong kinh Đại Bát nhã Phật đã giải thích, Bồ tát khi thực hành Bát nhã sâu xa thì thấy năm uẩn là không, vì khi ấy sắc uẩn không còn cái tướng biến ngại, thọ uẩn không còn tướng lãnh nạp, tưởng uẩn không còn tướng thủ tượng, hành uẩn không còn tướng tạo tác, thức uẩn không còn tướng liễu biệt. Trong khi đối với phàm phu, thì cơ thể vật chất (sắc) là hiện tượng biến đổi không ngừng và gây chướng ngại (cho tâm) thì trái lại, đối với Bồ tát, vật chất không là chướng ngại, cho nên nói sắc là Không. Đối với phàm phu, thọ có đặc tính là lãnh nạp các cảm giác về thân và tâm, nhưng vì Bồ tát đã đạt đến mức cao độ về sự ìàm chủ thân xác nên dù có xúc cảnh vui cảnh khổ, Bồ tát cũng không thọ vui thọ khổ. Đặc tính của tưởng uẩn là nắm giữ các hình ảnh, thu vào các ấn tượng về sắc, thanh, hương, vị, xúc sau khi năm giác quan tiếp xúc với năm đối tượng. Nhưng với Bồ tát, tưởng uẩn không còn làm cái nhiệm vụ nắm giữ hình ảnh nữa, cái gì thấy nghe rồi là bỏ qua không ôm giữ làm gì, cho nên tưởng uẩn với Bồ tát là không. Hành uẩn thông thường có nhiệm vụ tạo tác biên diễn, đó là một nối dài của ý thức thành vô thức, như mộng mị, mơ tưởng do ngã chấp. Nhưng với Bồ tát, đã không nắm giữ các ấn tượng thấy nghe nên cũng không có tạo tác thêm những hình ảnh trong vô thức, do vậy Bồ tát không có chiêm bao mộng mị, và với Bồ tát, hành uẩn là không. Đặc tính của thức uẩn là liễu biệt, phân biệt rõ ràng thiện ác phải quấy, đó là thường tình của phàm phu. Nhưng Bồ tát sống với trí tuệ, nên thức uẩn cũng không có cái tướng phân biệt thương ghét tốt xấu.
Do vậy mà với Bồ tát, năm uẩn là không, ấy gọi là nội không. Ngoại không vì cảnh ngoài khi ấy có cũng như không. Ngoại không là cái không của sáu trần. Nội ngoại không là vì bên trong tâm đã không cho nên cảnh ngoài dù có dù không, cũng không thành vấn đề. Ngoại không là cái không của cả chủ thể lẫn đối tượng, rỗng rang vô ngại không còn ngăn cách. Bất động là tâm được bất động, hậu quả của sự an trú như vậy. Đức Phật còn dạy, muốn an trú như vậy trước hết phải tu bốn thiền. Nghĩa là muốn quán cái cột nhà hay vách tường trước mắt thành không có, thì ít nhất cũng phải chứng tứ thiền cái đã, mới thực sự thấy nó là không. Ngang đây người thực hành mật tông cũng phải trải qua, nhưng từ đây bắt đầu chỗ rẽ, sự khác nhau giữa mật và thiền. Có thể nói mật tông bao hàm cả thiền tông, và còn vượt xa hơn thiền tông một bực.
II. KIM CƯƠNG THỪA Và NHỮNG NGUY HIỂM CHỜ ĐỢI HÀNH GIẢ
Trong khi khẩu quyết của Thiền là “tức tâm thành Phật”, tâm ngươi chính là Phật, thì mật tông táo bạo hơn, xác quyết “tức thân thành Phật”. Cái thân ngũ uẩn nếu tách rời ngã chấp thì không khác gì thân Phật. Từ nhận định ấy, mật tông có những lối tu hành đặc biệt, không giống bất cứ pháp môn nào khác trong Phật giáo mà ta đã biết. Một trong những lối tu đó là phương pháp quán mandala gọi là deity yoga (thiền quán về chư thiên), trong đó, sau khi thiền định về Tính không của tâm thức, hành giả sử dụng nền tảng Không ấy để tưởng về thân và tâm mình như những thực thể hoàn toàn trong sáng không tì vết, như chư thiên. Và trong Không ấy, không những chỉ có một vị trời mà có rất nhiều vị, từ ngũ uẩn, lục căn, từ các thân phần biến thành, nói tóm lại có bao nhiêu uế vật trong thân thể phàm phu thì có bấy nhiêu vị chư thiên tràn trề ánh sáng. Vì thân thể đã được chuyển hóa, thuần tịnh nên hoàn cảnh và hoạt động của nó cũng được chuyển hóa: núi sông cây cỏ đều trở thành cảnh giới chư thiên, những hoạt động bình thường như đi đứng nói im không gì là không thuần tịnh. Tóm lại, trong mandala toàn là chư thiên và cảnh giới của chư thiên, và mandala ấy tượng trưng cho thân tâm của hành giả.
Mật tông được gọi là “kim cương thừa” bởi lẽ đó là lối tu cao nhất, và cam go nhất. Người chọn mật tông phải vì một động cơ cao cả là lòng bi mẫn lớn lao đối với chúng sinh đau khổ, muốn sớm thành Phật quả để độ sinh. Vì mục đích đặc biệt này, vai trò của bậc thầy trong mật tông hết sức quan trọng, quả thế, còn trọng hơn cả ngôi tam bảo ít nhất trong giai đoạn đầu. Do đó trong Hồng danh bửu sám, một lối hành trì có lẽ bắt nguồn từ mật tông, trước khi lễ Phật hành giả đảnh lễ “Nam mô Kim cang thượng sư” là bậc thầy về mật tông.
Người chọn mật tông để tu tập phải chấp nhận ba điều nguy hiểm có thể xảy đến cho tính mạng: một là chết, hai là điên loạn, ba là trở thành phế nhân.
Trái ngược với thiền “an trú tính không”, và xem như không tất cả mọi hiện tượng trước mắt, mật tông lại vận dụng trí tưởng tượng tới mức tối đa trong lúc quán đồ hình hay mandala. Từ sự quán tưởng những vật trước kia không, nay thành ra có, mà hành giả cuối cùng thấy được tất cả cái có cái không đều tương đối, giả huyễn, và do dó giải thoát khỏi mọi tham ưu ở đời, nhưng đồng thời vẫn có thể biến hóa đủ thứ vì mục đích độ sinh.
III. CÁC GIAI ĐOẠN TU QUÁN
Nói đến mật tông là nói đến mandala, phép quán đảnh và các ấn quyết, vì mật tông đặc biệt chú trọng sự tướng, gọi là “tam mật gia trì”. Danh từ “mandala” có rất nhiều ý nghĩa, thường dịch là đàn tràng hay đồ hình, nhưng có khi ám chỉ y báo chính báo tức vũ trụ và con người, có khi biểu trưng những yếu tố đất, nước, lửa, gió, hư không dùng để quán tưởng, có khi ám chỉ một chúng hội Bồ tát, chư thiên, vv.., và trú xứ của chư thiên; có khi mandala chỉ là một vòng ánh sáng hay một giọt nước thơm. Quán đảnh là phép làm cho tịnh hóa, thánh hóa các sự vật chưa được thanh tịnh. Sau khi đã thọ phép quán đảnh của một bậc thầy, hành giả mới đủ tư cách hành trì mật tông mà không sợ tác hại. Mandala ở đây là một đồ hình biểu tượng cho một thế giới vô hình, nhưng tác động hữu hiệu trên thế giới hữu hình chúng ta. Có nhiều kiểu đồ hình tùy theo mục đích của hành giả. Những mandala cốt luyện để ám hại một người nào, tức là thuật phù thủy, thường có hình tam giác, còn những mandala khác có hình tròn hoặc vuông. Làm một mandala để tu quán rất công phu mất nhiều thời gian, và phải được một bậc thầy chuyên môn kết giới thì mới linh nghiệm. Sau khi kết đàn tràng và đã có sự làm phép của bậc thầy, hành giả bắt đầu tu quán. Đại khái, mandala cũng như một khu vực trong đó vị thần được hô triệu bằng chú thuật và ấn quyết sẽ xuất hiện cho hành giả, sau khi hành trì đúng mức. Trong một mandala có rất nhiều yếu tố biểu trưng cho những phi nhân trong cõi vô hình mà chỉ người chuyên môn mới hiểu được. Những yếu tố này được biểu trưng bằng những vật như hình nhân, bánh oản, cát ngũ sắc, v.v..
Một hành giả mật tông thường quán tưởng vị thần hộ mạng cho mình, ví dụ nữ thần Tara hay Quan Âm Bồ tát. Sau khi thiết lập một mandala (Tạng ngữ là kyilkhor) theo đúng nghi thức mật tông, vị ấy ngồi trong thất niệm thần chú của vị ấy ví dụ với nữ thần Tara là câu “OM TARE TUTARE TURE SVAHA”, tưởng tượng hình ảnh Ngài theo các tượng tranh thường tạc vẽ, đang đứng ở chính giữa đàn tràng (mandala này có thể treo trên vách hay đặt giữa nền nhà vừa tầm mắt nhìn). Nhiều tháng, cả năm trôi qua trong sự trì chú và quán tưởng hình tượng một cách nghiêm mật. Thỉnh thoảng vị thầy sẽ hỏi thăm tiến trình tu tập của hành giả. Cuối cùng sẽ có một lúc hành giả thông báo cho vị thầy kết quả sự quán tưởng của mình: đức Bồ tát đã xuất hiện giữa đàn tràng, nhưng rất mờ ảo, và chỉ trong một lúc thì tan biến. Vị thầy khen ngợi đó là dấu hiệu tốt, hãy tiếp tục quán tưởng cho đến khi hình ảnh hiện ra rõ rệt hơn, và kéo dài lâu hơn. Môn sinh trở về tiếp tục quán. Một thời gian rất lâu về sau, vị ấy cũng đạt được kết quả mong muốn: ấy là, vị Bồ tát đã xuất hiện rất rõ nét giữa đàn tràng, và thường như luôn luôn đứng đấy, dán chặt tại chỗ, không tan mất như trước. Vị ấy sung sướng trình thầy kết quả ở giai đoạn hai này. Nhưng thầy lại bảo, “Tốt lắm, song giờ đây con phải tiếp tục quán tưởng và cầu xin Ngài ban ân phước cho con, bằng cách lấy tay rờ đầu thọ ký, và nói với con những lời phủ dụ”. Thế là người môn đệ lại trở về với công việc niệm chú và quán tưởng y như lời thầy chỉ dạy. Sau một thời gian, quả thật những gì vị ấy cầu mong đều thành tựu: Bồ tát lấy tay sờ đầu mỗi khi y cúi lạy, và đôi mắt Ngài trở nên linh động, môi mấp máy ban lời phủ dụ, làm cho hành giả vô cùng hân hoan, tưởng đã đạt mục đích của sự quán tưởng. Nhưng khi trình lên thầy kết quả này, ông ta lại đòi hỏi một bước kế tiếp, là hãy trở về quán tiếp cho đến khi thấy vị Bồ tát bước ra khỏi đàn tràng, đi lui đi tới trong am thất của hành giả. Đây là giai đoạn nguy hiểm nhất trong việc tu tập, khi một vị thần bước ra khỏi đàn. Vì khi ra khỏi đàn, là có nghĩa vị ấy không còn bị trói buộc. Nếu là hung thần, thì sự bước ra khỏi đàn như vậy sẽ làm cho hành giả nguy khốn, vì thần ấy khi được tự do sẽ phẫn nộ trừng phạt hành giả đã giam giữ ông ta. Trừ phi cao tay ấn, đa số người tu mật tông bị chết hoặc điên loạn ở giai đoạn này. Bởi thế, không bao giờ nên để cho một vị thần bước ra khỏi giới hạn đã dành cho vị ấy.
Nhưng ở trường hợp này, vị thần chính là đức Bồ tát đầy lòng bi mẫn, và đã tỏ dấu đặc biệt yêu mến đối với hành giả, do vậy không hề gì. Ngài ung dung tản bộ qua lại trong am thất như tại nhà riêng của Ngài vậy. Đôi khi Ngài còn bước ra khỏi ngưỡng cửa am thất để thở hít khí trời nữa chứ. Khi trình lên thầy thành quả ấy, vị thầy rất hài lòng, nhưng còn đề nghị đệ tử tiến thêm một bước nữa: Hãy hỏi xem Ngài có bằng lòng cùng y xuống phố dạo chơi một vòng chăng.
Đây là giai đoạn khó nhất, bởi vì ở trong bóng mờ của am thất với khói hương nghi ngút, thì hành giả hầu như có thể nhìn thấy và sờ thấy vị thần được, do ảnh hưởng sự tập trung quán tưởng lâu ngày. Bây giờ ra khỏi khung cảnh quen thuộc, bước vào một môi trường hoàn toàn xa lạ dưới ánh sáng mặt trời, thì liệu ảo giác còn đứng vững được chăng? Bởi thế, phần đông những người tu tập phải dừng lại ở giai đoạn này: vị Bồ tát từ chối, không chịu đi ra bát phố mà chỉ bằng lòng ở lại trong bóng mờ của am thất. Nhiều vị thần đến giai đoạn này, khi bị rủ đi ra ngoài ánh sáng, đã tỏ ra phẫn nộ và trừng phạt hành giả vì thái độ hỗn láo của y, dám rủ thần ra ngoài chơi. Bởi vậy, có nhiều người tu quán đến giai đoạn này bị điên loạn, ngay cả tự sát. Nhưng cũng có một số–rất ít–đã thành công, và vị Bồ tát đi theo y mọi nơi mọi lúc. Khi trình lên thầy thành quả sau cùng này, vị thầy vỗ về: “Rất tốt, thế là ngươi đã đạt mục đích. Ngươi đã được sự che chở của một vị thần linh cao cả hơn ta muôn vàn”. Ở giai đoạn này, khi nghe thầy dạy như thế, một vài người cảm ơn thầy, phấn khởi trở về am cốc và dành suốt thời gian còn lại của đời mình để sống với ảo tưởng đó. Nhưng có một số rất ít bỗng quay trở lại, kinh hoảng thú thật với thầy rằng, mặc dù luôn luôn được sự che chở như thế, mà y vẫn cảm thấy dường như đấy chỉ là một cái gì do chính tâm y tạo ra, không thực có ở bên ngoài. Vị thầy tỏ vẻ buồn sầu về sự thổ lộ của y, khuyên y nên về bắt đầu tu tập trở lại, để xét lại sự hoài nghi ghê gớm ấy một thái độ phạm thánh, vô ơn bạc nghĩa đối với vị thần đã phù trợ cho mình như thế.
Người môn đệ nghe lời thầy, trở về xét lại thái độ hoài nghi của mình. Nhưng một khi đã hoài nghi thì cố mà tin trở lại cũng vô ích. Đa số tôn giáo thần quyền đến giai đoạn này thường bế tắc người hành giả một khi đã mất tin tưởng ở sự thực hữu của vị thần thánh mà mình đã tôn thờ suốt cả cuộc đời thì chỉ còn nước tự sát, hoặc bỏ đạo hoàn tục để sống một đời phóng đãng như một thái độ trả thù.
Người môn đệ mật tông có thể không tin sự thực hữu của vị thần linh, nhưng không bao giờ hoài nghi sự minh triết của thầy mình. Bởi vậy y trở về tiếp tục quán sát. Sau một thời gian, y trở lại thú thật với thầy rằng không còn hoài nghi gì nữa, điều chắc chắn trăm phần trăm là, vị Bồ tát ấy chính do tâm y đã tạo ra. Hình ảnh vị ấy đều do ý muốn của y dẫn dắt. Khi ấy vị thầy mới bảo, “Chính như vậy đó, con cần phải nhận ra. Mọi sự trên thế gian, thiên đường, địa ngục, thần thánh, ma quỷ, đều là ảo tượng do tâm tạo mà thôi. Chúng tuôn phát từ tâm, và cũng tan biến vào tâm”.
IV. KẾT LUẬN
Sự vận dụng trí tưởng tượng trong mật tông cốt nhắm đến sự thấy rõ chân lý “nhất thiết duy tâm tạo”, để đừng bị kẹt trong các hiện tượng phù du của cuộc đời, và có thể làm chủ, sai khiến được vật chất. Nhưng cũng có khi một vật do người tạo trở lại hại chính người đã tạo ra nó, như máy móc tối tân, hóa chất hay vũ khí nguyên tử ngày nay. Trong khi tu quán, không thiếu gì những trường hợp người tu bị ám bởi chính những bóng ma do mình tự tạo. Những thần linh vị ấy đã quán ra đôi khi vượt ngoài tầm kiểm soát của hành giả, như chim sổ lồng, tự tung tự tác. Bà Alexandra David-Neel có lần muốn thử năng lực của tâm, đã quán một hình ảnh hoàn toàn không có trong các tượng tranh, đó là một lạt ma mập, vui vẻ, thấp người. Sau một thời gian, quả nhiên một vị như vậy xuất hiện giữa đồ hình mandala. Y trở nên sống động tới nỗi người hầu đem trà vào cho bà cũng thấy được hình bóng một tu sĩ lùn mập vui vẻ đang ngồi trong am thất. Một thời gian sau, hình ảnh ấy biến đổi, gầy bớt, cao hơn trước, và bắt đầu làm những việc quấy phá. Dù khi bà muốn ở một mình, y vẫn hiện lù lù trước mặt không thể nào xua đuổi được. Bà phải mất sáu tháng nỗ lực mới làm tan biến hình ảnh vị lạt ma quấy rầy nọ. Như thế, những gì do tâm tạo cũng có thể vượt ngoài tầm kiểm soát của tâm, và tự tung tự tác một cách ngang tàng đến nỗi tâm cần rất nhiều nỗ lực mới xua đuổi được. Mật tông có thể được xem như một thứ khoa học tâm linh và cũng có những nguy hại như khoa học vật chất, ở trong tay người lạm dụng nó.
Hai câu chú giúp hành giả, giải quyết được nhiều thứ bệnh hiện tại
Đức Phật được tôn xưng là một vị Đại Y Vương vì Ngài đã vạch ra được những con đường giúp con người thoát ra khỏi vòng sinh, lão, bệnh, tử. Tuy nhiên, không phải đến khi “liễu thoát sinh tử” mới khỏi được bệnh khổ. Ngay phần đầu của bộ Tâm kinh, giáo lý nhà Phật đã minh thị “Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời chiếu kiến ngũ uẩn giai không độ nhất thiết khổ ách “. Không nhất thiết là ở đâu hoặc lúc nào, một khi đã thể nhập vào vị trí tuệ Bát nhã, quán thấy ngũ uẩn đều là không thì bệnh khổ ắt sẽ không còn.
Kinh Tạp A Hàm, đoạn ghi lại của phần trả lời của Ma na Đề Na cho tôn giả A Na Luật đã cho thấy một cách trị bệnh cụ thể và dễ thực hành hơn. Đó là “Nhờ buộc tâm vào Bốn niệm xứ nên mọi thứ bệnh tật, khổ đau nơi thân đều được đình chỉ”. Phần bàn về phép trị bệnh trong Tu tập tọa thiền chỉ quán, Trí Khải đại sư cũng viết, “phép tọa thiền nếu khéo dùng tâm thì 404 bệnh tật tự nhiên lành” hoặc “Trị bệnh tuy có nhiều cách, tóm lược đều không ngoài hai phương tiện Chỉ và Quán”.
Tại sao Chỉ hoặc Quán trong tọa thiền lại có thể chỉ được bệnh? Liệu những điều này có mâu thuẫn gì với lý luận của nhiều nền y học chính thống chăng? Có thể trả lời được câu hỏi này nếu chúng ta hiểu được tác động của tâm lý, cảm xúc và vai trò của hệ thần kinh đối với sức khỏe con người.
Stress là một yếu tố gây bệnh
Đối với y học phương Tây, tác nhân tâm lý được xem là một yếu tố gây bệnh, được Cullen nói đến vào khoảng năm 1776 với tên gọi là rối loạn thần kinh chức năng. Sau đó, năm 1936, giáo sư Hens Selye, người sáng lập viện chống stress ở Montreal, Canada đã chính thức dùng thuật ngữ stress để chỉ những phản ứng của cơ thể đối với những yếu tố gây khó chịu trong môi trường sống. Sớm hơn nhiều so với phương Tây, trên cơ sở những lý luận về khí và khí hóa, các nhà y gia của phương Đông đã sớm nhận ra những ảnh hưởng của những cảm xúc tiêu cực lên sức khỏe của con người.
Hàng ngàn năm trước, sách Nội kinh, một quyển sách kinh điển của y học cổ truyền Trung Hoa đã ghi nhận “bách bệnh giai sinh vu khí”. Người xưa cho ràng những cảm xúc thái quá của bảy loại tình chí (hỉ, nộ, ái, ố…) sẽ làm rối loạn khí hóa của những tạng phủ tương ứng. Chẳng hạn “Ưu thương Tỳ”, “Khủng thương Thận”, “Nộ thương Can”…
Do đó, những rối loạn này chính là nguyên nhân của những bệnh về nội thương. Đôi khi những rối loạn khí hóa do cảm xúc có thể gây ra những triệu chứng bệnh ký có thể thấy được ngay. Thử quan sát một người đang bộc phát cơn tức giận: toàn thân nóng lên, mồ hôi vã ra, nhịp tim tăng, hơi thở gấp, các cơ bắp như tăng lên. Ở một số người khác, cơn nóng giận sẽ làm cho toàn thân ngứa ngáy, áp huyết tăng, đau thoát ở ngực hoặc như bị bóp chặt ở bao tử.
Thiền là biện pháp đối trị của những chứng bệnh tâm thể
Trong thời đại ngày nay, để tồn tại và phát triển trước một cuộc sống nhiều thách thức và một môi trường luôn thay đổi, con người phải đối mặt với nhiều áp lực tâm lý. Chính những yếu tố gây stress là nguyên nhân của nhiều bệnh tật. Stress có thể làm rối loạn tiêu hóa, tim mạch, rối loạn nội tiết, làm suy giảm khả năng miễn dịch khiến cơ thể dễ bị bệnh tật tấn công hoặc làm trầm trọng thêm những chứng bệnh đang tiềm tàng.
Trong những trường hợp này, việc giải tỏa stress, điều hòa được cảm xúc phải là ưu tiên hàng đầu. Nói chung, thư giãn hay căng thẳng, tập trung tư tưởng vào một sự kiện này hay chuyển sang một sự kiện khác là khả năng tự nhiên ở mỗi con người.
Tuy nhiên, ở một số trường hợp bệnh lý, khi hệ thần kinh đã quá tải, đã vượt quá giới hạn để tự hồi phục, tự điều chỉnh thì người bệnh cần một quá trình tập luyện hoặc điều trị. Trong những trườp hợp này, Thiền là một liệu pháp đối trị trực tiếp và hữu hiệu. Ông Herbert Benson, giáo sư Đại học Harvard, người sáng lập Viện Y học Tâm thể ở Boston (Mind – Body Medical Institute) cho biết: “Từ 60% đến 80% số lượng bệnh nhân đến khám ở các phòng mạch đều có liên quan đến stress. Các ca bệnh này đáp ứng rất kém đối với thuốc và phẫu thuật nhưng lại rất tốt đối với các liệu pháp tiếp cận tâm thể”. Ông cho rằng các liệu pháp thư giãn và Thiền làm giảm sự căng cơ, giúp giải tỏa những tình trạng lo âu, sợ hãi, bất an, dễ bị kích thích và đặc biệt là làm giảm hoạt hóa các nội tiết tố stress.
Thiền là những phương pháp tập trung tư tưởng, buộc tâm vào một đối tượng nhất định nhằm tạo ra hiệu ứng ức chế, nghỉ ngơi trên toàn bộ vỏ não. Stephanie Clement và Cary Barbor, những chuyên gia trong lĩnh vực điều trị tâm lý đã cho biết: “Những nghiên cứu trên những đối tượng chỉ cần thực hành thiền ngắn hạn (khoảng 10 phút mỗi lần) nhưng đều đặn hàng ngày đều cho thấy có sự gia tăng sóng Alpha và sự giảm bớt tình trạng lo âu, trầm uất”. Sóng Alpha là sóng não ứng với tình trạng thư giãn cơ bắp và tinh thần không căng thẳng.
Do cơ chế tương tác thần kinh, thể dịch và nội tạng, sự nghỉ ngơi của vỏ não sẽ phục hồi tính tự điều chỉnh của hệ thần kinh nên có tác dụng cải thiện đến toàn bộ các cơ quan. Chẳng hạn ở hệ tim mạch, Cary Barbor cho biết: “Trong khi ở những người bình thường, đáp ứng chống trả hoặc bỏ chạy kéo dài sẽ kích hoạt sự tăng tiết Adrenaline, gia tăng nhịp tim và những nguy cơ máu đông thì ngược lại, những đáp ứng thư giãn sẽ làm giảm chuyển hóa, giảm nhịp tim, hạ thấp sóng não và cải thiện những triệu chứng của bệnh tim mạch”.
Hiện nay có một phương pháp Thiền đã được chính thức đưa vào giảng dạy và thực hành lâm sàng tại nhiều trường đại học y ở phương Tây, kể cả một số trường đại học lớn ở Mỹ như Umass, Stanford, Duke, Virginia, San Francisco,… Và MBSR “MindfuIness Based Stress Reduction” (Giảm stress dựa trên sự tỉnh giác) được xem là một liệu pháp bổ sung giúp điều chỉnh tinh thần, cảm xúc và cải thiện sức khỏe.
Đây là một kỹ thuật Thiền định nhằm phát triển chánh niệm, tức khả năng nhận biết điều đang xảy ra nơi thân hoặc tâm, qua đó có thể làm chủ được bản thân và điều hóa cảm xúc. MBSR đã được giáo sư Jon Kabat – Zinn khởi xướng đưa vào thực hành lâm sàng từ đầu những năm 1970. Hiện nay. Trung tâm Y học và Giáo dục Tỉnh giác CFM (the Center For Mindfulness in Medicine, Healh Care and Society) thuộc trường Đại học Y Massachusetts (UMASS), được xem là cơ sở y tế lớn nhất và lâu đời nhất ở Mỹ trong lĩnh vực quảng bá, giáo dục và điều trị bằng MBSR.
Cho đến nay, hàng chục ngàn người đã được hưởng lợi từ chương trình huấn luyện và điều trị này. Kết quả cho thấy, MBSR giúp điều trị những bệnh về tim mạch, các chứng đau nhức mãn tính, rối loạn chức năng, dạ dày ruột, chứng đau nửa đầu, cao huyết áp, mất ngủ, lo âu, hoảng loạn… Hiện nay, trên thế giới đã có hơn 200 bệnh viện hoặc cơ sở y tế có thực hành điều trị bằng MBSR.
Thiền là một liệu pháp chỉnh thể
Mỗi triệu chứng, mỗi bộ phận cơ thể đều phải được xem xét và điều chỉnh trong mối tương quan chung nhằm mang lại sự cân bằng và hài hòa cho cả tổng thể. Về mặt này, với ý nghĩa hòa hợp hay hợp nhất giữa các mặt tổ chức trong cơ thể, hợp nhất giữa thân và tâm và cuối cùng là giữa con người và vũ trụ. Thiền là là đỉnh cao của liều pháp chỉnh thể và cũng là chỗ gặp nhau giữa y học và các nền học khác của phương Đông.
Các phương pháp ngồi thiền, luyện khí công, tập yoga đều có tác dụng thanh lọc, điều chỉnh để chữa bệnh hoặc cải thiện sức khỏe. Về mặt thần kinh, thông qua quá trình thư giãn và nội quán, Thiền duy trì trạng thái yên tĩnh của đại não, có thể điều hòa thần kinh giao cảm, phục hồi tính tự điều chỉnh và tự hoàn thiện vốn có của hệ thần kinh trung ương. Đây cũng là một cơ chế mang tính chỉnh thế vì sự hài hòa và hoàn thiện của hệ thần kinh sẽ tác động trở lại để điều hoà nội tiết, nội tạng, tái lập tình trạng khí hòa bình thường để phục hồi sức khỏe.
Cũng vì lý do này, những liệu pháp thư giãn và Thiền không những có hiệu quả trên những tâm thể mà còn có thể nâng cao sức miễn dịch và tăng cường lưu thông khí huyết để giúp cải thiện cả những cơ quan đã bị tổn thương. Ngoài ra, người hành thiền có thể vận dụng hoặc Chỉ, hoặc Quán để tạo ra những hiệu quả cụ thể tùy theo chứng trạng. Với phép Chỉ, căn cứ vào quy luật “thần đâu khí đó”, người tập có thể an tâm vào một vị trí nhất định trong cơ thể để tăng cường khí huyết đến nơi cần thiết. Ví dụ: An tâm vào một chỗ đau để giải tỏa đau nhức, an tâm vào huyệt tố liêu ở chớp mũi để trị áp huyết thấp hoắc an tâm tại huyệt đan điền ở bụng dưới để chữa những chứng căng thẳng tâm lý hoặc âm hư gây ra nhức đầu, khó ngủ, hồi hộp, áp huyết cao.
Có rất nhiều nghiên cứu về hiệu ứng vật lý của những suy nghĩ tích cực. Đáng kể nhất là công trình nghiên cứu của bác sĩ Carl Simonton về điều trị ung thư. Ông hướng dẫn cho bệnh nhân thư giãn và hình dung những bạch cầu của họ là những chiến sĩ “tìm và diệt”. Đội quân dũng mãnh chiến đấu, chiến thắng và mang đi các ung thư đã chết. Công trình nghiên cứu trên 110 bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đã cho kết quả 25% hoàn toàn khỏi bệnh, 30% ung thư ngừng phát triển và ở 10% khác khối ung thư bắt đầu nhỏ dần.
Tóm lại, Thiền có thể chữa bệnh, khổ là một hiện thực. Vấn đề còn lại là ý chí và khả năng tập trung tư tưởng của người bệnh. Điều này còn tùy thuộc vào căn cơ và các điều kiện trợ duyên khác như chế độ ăn uống, sinh hoạt, giao tiếp…
Trong giới tu luyện có một trường hợp gọi là Quán đỉnh (Guanding). Đó là một nghi thức tôn giáo có từ pháp tu của trường phái Phật giáo Mật tông Tây tạng. Mục đích của nó là, qua thủ tục Quán đỉnh, một người sẽ không được phép bước vào một trường phái khác và sẽ được chấp nhận như một người đệ tử chánh thức của trường phái đã làm lễ Quán đỉnh cho họ. Điều gì lạ ở ngày nay? Người ta cũng thấy xuất hiện nghi thức đó trong giới tu luyện khí công. Nó không chỉ được thực hiện trong Mật tông mà cũng có trong Lão giáo. Tôi đã nói, tất cả những phương pháp mật tông được truyền bá trong xã hội dưới nhãn hiệu Mật tông đều là giả không có ngoại lệ. Tại sao? Vì Mật tông đời Đường đã biến mất trên đất nước Trung quốc đã hơn một ngàn năm nay và nó hoàn toàn không còn nữa. Mật tông Tây Tạng chưa bao giờ được hoàn toàn du nhập trên đất nước người Hán vì trở ngại ngôn ngữ. Nhất là vì đó là mật tông, nó phải được tu luyện bí mật trong các chùa tháp. Nó cũng phải được bí mật truyền thụ bởi một vị thầy và vị thầy sẽ đem người đệ tử đi tu luyện bí mật. Nếu điều kiện nầy không được thực hiện, người ta nhất thiết không truyền giáo cho người đệ tử.
Nhiều người đến Tây Tạng với mục đích là tìm một người thầy dạy cho Mật tông hầu sau nầy trở thành thầy khí công, có danh vọng và làm giàu. Xin hãy suy nghĩ về điều nầy. Một vị Phật sống lạt ma đã nhận được sự chân truyền giáo pháp hẳn là một người có những huyền năng siêu phàm mạnh mẽ, vậy họ có thể đọc được tư tưởng của một người học trò như vậy. Khi nhìn qua người đó, ngài đã biết rõ ràng mục đích của họ: Người đến đây tìm học pháp để trở thành thầy khí công vì danh lợi, đó là hủy hoại pháp tu của Phật môn chúng ta. Có thể nào một Pháp môn tu luyện trang nghiêm của Phật lại để cho quí vị hủy hoại một cách dễ dàng bởi lòng tham muốn của quí vị được làm thầy vì danh vì lợi? Mục đích gì thúc đẩy quí vị? Vậy người ta nhất định không truyền giáo và người đó sẽ không nhận được một sự chân truyền nào cả. Dĩ nhiên, các chùa tháp rất nhiều, người đó có lẽ có thể học được một chút gì bề ngoài vậy. Nếu tâm ý của một người không ngay thẳng, họ sẽ bị nhập thân (Futi) khi họ muốn làm một thầy dạy tu để làm những điều xấu. Con vật nhập thân người cũng có nhiều huyền năng siêu phàm nhưng đó không phải là Mật tông Tây tạng. Những người đi tìm Pháp chân thật, khi đến nơi, có lẽ họ đã ở lại luôn nơi đó không bao giờ rời nữa, đó là người thật sự chân tu.
Một điều lạ là ngày nay có nhiều môn phái Lão giáo cũng có hành lễ Quán đỉnh. Lão giáo tu luyện trên kinh mạch, tại sao phải làm cái gọi là Quán đỉnh? Có một lần tôi đi truyền pháp ở miền Nam. Theo sự hiểu biết của tôi, có hơn mười trường phái tà giáo thực hành Quán đỉnh, nhất là tại vùng Quảng Đông. Theo họ nghĩa là gì? Khi người thầy làm Quán đỉnh cho quí vị, quí vị trở thành đệ tử của họ và quí vị không thể thọ học một môn pháp khác. Nếu làm trái lại, họ sẽ phạt quí vị. Họ đã làm như vậy. Phải chăng đó là một việc không đàng hoàng? Điều mà họ truyền dạy là nhằm trị bệnh và giữ gìn sức khỏe. Điều mà dân chúng muốn học nơi họ chỉ là để được có một sức khỏe tốt. Vậy tại sao phải làm điều đó? Có người cho rằng người ta không thể tập luyện một phương pháp khác sau khi đã học tập phương pháp của họ. Nhưng hỏi họ có thể cứu độ người ta đưa đến giải thoát không? Đó là hướng dẫn sai các đệ tử. Nhiều người làm như vậy.
Lão giáo không nói về Quán đỉnh, nhưng người ta cũng thấy có xuất hiện sự Quán đỉnh. Tôi có thấy một thầy khí công có tiếng nhất về Quán đỉnh, cột trụ Công (Gongzhu) của ông ta cao đến đâu? Nó chỉ cao bằng một cái nhà lầu hai ba tầng, dù danh tiếng ông ta là một đại sư khí công, cái cột trụ Gong của ông ta bị xuống thấp một cách thật đáng tội nghiệp. Hằng trăm người, có khi có cả ngàn người, nối đuôi nhau để được ông ta làm Quán đỉnh cho họ. Cột trụ Công của ông ta có hạn, nó chỉ cao đến mức đó, sau một thời gian nó sẽ không còn gì nữa, ông ta sẽ dùng gì để còn làm Quán đỉnh cho người ta? Phải chăng đó là gạt người? Một sự Quán đỉnh thật sự, khi được quan sát từ một không gian khác, xương của người được Quán đỉnh từ đầu đến chân trở thành như ngọc trắng. Sự thật, đó là một sự thanh lọc cơ thể bằng Công lực, một chất năng lượng ở cao tầng, một sự đổ trút xuống từ đầu chí chân. Vị thầy khí công đó có thể thực hiện được điều đó không? Họ không thể. Vậy tại sao làm vậy? Dĩ nhiên, ông ta không nhất thiết có ý muốn tạo ra một đạo mới. Mục đích của ông ta chỉ là một khi quí vị học phương pháp của ông ta, quí vị là người của ông ta. Quí vị phải đến lớp học và học những điều của ông ta dạy. Ông ta nhắm vào việc lấy tiền của quí vị, ông ta sẽ không kiếm đâu ra tiền nếu không có học trò.
Cũng như những đệ tử của các Phật Pháp môn khác, đệ tử Pháp Luân Đại Pháp sẽ kinh nghiệm nhiều lần sự Quán đỉnh từ các vị thầy nơi cao tầng. Nhưng người ta không để cho quí vị biết. Những người có huyền năng siêu phàm hoặc những người nhạy cảm có thể cảm thấy được nó trong giấc ngủ hoặc những lúc khác khi thình lình một luồng hơi ấm chạy từ đỉnh đầu tràn xuống toàn cơ thể của họ. Mục đích của Quán đỉnh không phải là để thêm công lực cho quí vị vì cái Công lực nầy phải đến từ sự tu luyện của chính quí vị. Đây là một phương pháp trợ giúp để thanh lọc cơ thể của quí vị và tối lọc nó hơn nữa. Một người sẽ qua nhiều lần Quán đỉnh như vậy. Các cơ thể của quí vị sẽ được thanh lọc ở mỗi tầng cấp. Vì sự tu luyện là do tự nơi mỗi người và Công lực là do nơi Thầy, vì vậy chúng tôi không thực hành thủ tục Quán đỉnh nầy.
Có người cũng muốn thi hành nghi lễ tôn xưng Thầy. Nói về vấn đề nầy, tôi cũng muốn nói nhân dịp nầy rằng nhiều người cũng muốn làm như vậy đối với tôi. Thời đại hiện nay của chúng ta không giống như thời xa xưa xã hội vua chúa Trung Quốc. Phải chăng quì gối và dập đầu xuống đất để tôn xưng Thầy là đủ? Chúng ta không thi hành thủ tục đó. Nhiều người tu trong chúng ta nghĩ rằng: Nếu tôi quì gối, đốt nhang và tôn thờ Phật với một tấm lòng chân thật, Công lực của tôi sẽ được gia tăng. Tôi thấy nghĩ như vậy thật đáng buồn cười. Sự tu luyện chân thật hoàn toàn tùy thuộc nơi người tu. Thật là vô ích đi tìm cầu nơi cái gì khác. Quí vị không cần xưng tụng Phật, không cần đốt nhang đèn. Nếu quí vị tu luyện chân chánh theo tiêu chuẩn của một người tu, đức Phật sẽ rất hài lòng nhìn thấy quí vị. Nếu quí vị luôn làm những điều xấu bên ngoài, cho dù quí vị đốt nhang và dập đầu xuống đất trước Ngài, Ngài cũng đau lòng nhìn thấy quí vị. Phải vậy không? Sự tu luyện chân thành là tùy nơi chính người tu. Có ích lợi gì hôm nay quí vị dập đầu xuống đất và tôn xưng Thầy, nhưng một khi rời khỏi nơi đây, quí vị vẫn làm theo tự ý thích? Chúng ta hoàn toàn không để ý đến thủ tục nầy. Nếu chúng ta làm như vậy, quí vị có lẽ phương hại đến danh tiếng của tôi nữa.
Chúng tôi đã ban cho mỗi quí vị nhiều điều như vậy. Tôi sẽ xem là đệ tử tất cả những quí vị thật sự tu luyện và nghiêm khắc hành xử theo Đại Pháp. Ngày nào quí vị còn thực hành Pháp Luân Đại Pháp, chúng tôi sẽ xem quí vị là đệ tử. Nếu quí vị không thực hành nó, chúng tôi không làm gì được cho quí vị. Quí vị mang danh hiệu đó để làm gì nếu quí vị không tu luyện nó? Không cần quí vị là một người tu của khóa thứ nhất hay khóa thứ nhì. Làm sao quí vị được xem là đệ tử của Pháp Luân Đại Pháp nếu quí vị chỉ tập luyện các động tác thôi? Để giữ một cơ thể khỏe mạnh và tinh tấn về bên trên cao tầng, quí vị phải thật sự tu luyện theo tiêu chuẩn Tâm tính của chúng tôi. Vậy, chúng tôi không cần thiết đến những thủ tục đó. Ngày nào quí vị thực hành tu luyện, quí vị là người tu của Pháp môn chúng tôi. Pháp thân của tôi biết tất cả. Nó biết tất cả những gì quí vị nghĩ và nó có khả năng thực hiện tất cả. Nó sẽ không lo đến quí vị nếu quí vị không tu luyện, nhưng nó sẽ giúp quí vị suốt cuộc hành trình đến bước cuối cùng nếu quí vị tu luyện.
Có pháp môn, người tập còn không nhìn thấy vị thầy, họ nói rằng chỉ cần dập đầu xuống đất về hướng gì đó và trả một vài trăm đồng là xong. Phải chăng là một phương cách để gạt mình và gạt người? Hơn nữa, những người học trò đó sẽ trở thành rất trung thành từ đó và bắt đầu bênh vực và che chở cho môn phái và thầy của họ. Họ cũng nói với người khác là chớ có học những pháp môn khác. Tôi cho rằng đó thật là buồn cười. Cũng có người làm cái gọi là Mo Ding (sờ đỉnh đầu). Không ai biết điều đó có hiệu quả gì.
Không chỉ có những khí công được truyền bá dưới nhãn hiệu của mật tông là giả, nhưng tất cả những khí công truyền bá dưới nhãn hiệu của Phật giáo cũng là giả. Xin hãy suy nghĩ điều nầy. Những pháp môn tu luyện trong Phật giáo vẫn nằm trong một phương thức từ nhiều ngàn năm. Nó có còn là Phật giáo nữa chăng nếu người ta sửa đổi nó? Những pháp môn tu luyện là nhắm để tu luyện thành Phật, chúng rất nghiêm túc. Hơn nữa chúng vô cùng là tinh tế, một chút sửa đổi có thể đưa đến hỗn loạn tất cả. Cũng như sự chuyển hóa Công lực là rất phức tạp, điều gì con người cảm giác là không có nghĩa gì cả, người ta không thể tu luyện dựa trên cảm giác của mình. Những hình thức tôn giáo cho các thầy tu là một phương thức tu luyện. Một khi bị sửa đổi, nó không còn là những điều của pháp môn đó nữa. Có một đấng Đại giác làm chủ mỗi môn pháp, và mỗi môn pháp đều đã tạo nên vô số các đấng Đại Giác. Không ai dám tùy tiện sửa đổi phương pháp tu luyện của môn pháp. Một người thầy khí công nhỏ nhoi, có phước đức bao la gì mà y dám làm phật lòng vị Thầy sáng lập và sửa đổi pháp môn tu luyện thành Phật? Pháp môn đó có còn là nó nữa không nếu nó đã bị sửa đổi? Vậy những môn khí công giả mạo rất dễ phân biệt.
QUÝ HÀNH GIẢ KHI CHỌN CON ĐƯỜNG TU MẬT, PHẢI CẨN THẬN CÁCH ĐIỂM ĐẠO THEO TRUYỀN THỐNG VIDEO DƯỚI ĐÂY.
Thế nào là luyện tập tà pháp? Nó có nhiều hình thức. Có người luyện tập tà pháp chuyên môn, vì thứ đó trong lịch sử cũng có người truyền. Tại sao có người truyền những thứ đó? Đó là vì có những người họ chạy theo danh vọng, lợi lộc và tiền của giữa những người thường. Họ thích những điều như vậy. Dĩ nhiên, Tâm tính họ không thể nào lên cao và họ không thể nào đạt được Công lực. Họ có thể đạt được gì? Là nghiệp lực. Khi nghiệp lực của một người to lớn, nó cũng là một hình thức năng lượng. Dĩ nhiên, họ sẽ không đạt được một cấp bực tu luyện nào cả và không thể so sánh với một người tu. Nhưng đối với người thường, họ có thể kềm chế người thường vì thứ đó cũng là thể hiện của năng lượng. Khi khối đặc lượng của nó to lớn, nó cũng có thể làm tăng cường những huyền năng sẵn có trong thân người, nó có thể có vai trò đó. Vì vậy từ xưa đến nay vẫn có những người đi truyền xuống những điều đó. Họ tuyên bố rằng: Tôi có thể làm tăng Công lực của tôi bằng cách làm những điều xấu và mắng chửi người khác. Không phải Công lực của họ được tăng, sự thật họ đang làm tăng khối đặc lượng của chất đen nơi họ. Khi người ta làm những điều xấu thì hậu quả đưa đến là cái chất đen đó - là nghiệp. Vậy, những huyền năng sẵn có cỏn con trong con người của họ cũng có thể được gia tăng với sự gia tăng của nghiệp lực, và họ có thể mở mang một vài huyền năng cỏn con dù chúng không làm được việc gì đáng kể. Những loại người như vậy cho rằng làm những điều xấu cũng có thể làm tăng Công lực của họ, họ có loại lý luận như vậy.
Có người nói rằng: Đạo cao một tấc, quỉ cao một trượng. Đó là một câu nói sai của người thường. Quỉ không bao giờ có thể cao hơn Đạo. Có một tình trạng nầy là vũ trụ mà nhân loại chúng ta biết đây chỉ là một vũ trụ nhỏ bé giữa vô lượng vũ trụ. Chúng ta gọi tắt nó là vũ trụ. Vũ trụ nầy của chúng ta mỗi kỳ, cuối cùng sau một thời gian dài, tất phải phát sanh một đại tai nạn. Tai nạn đó làm cho toàn thể vũ trụ mọi vật kể cả các tinh cầu tất cả đều bị tiêu hủy, tất cả các sanh mạng cũng bị tiêu hủy. Sự vận hành của vũ trụ nằm dưới một định luật như vậy. Trong vũ trụ nầy không chỉ có cấp bậc con người là trở thành xấu, mà còn có nhiều sanh mạng khác cũng đã cho thấy trong cùng một tình cảnh, nghĩa là sự phát nổ đã sớm bắt đầu trong cái không gian vũ trụ nầy. Ngày nay các nhà thiên văn học không quan sát được điều đó là vì chúng ta chỉ có thể nhìn thấy qua viễn vọng kính mạnh nhất bây giờ cái cảnh của cách nay 150 000 năm-ánh-sáng. Nếu người ta muốn quan sát những thay đổi của trời đất hiện nay thì phải chờ 150 000 năm-ánh-sáng về sau nầy. Đó là một quãng thời gian khá lâu.
Hiện nay toàn thể vũ trụ đang trải qua một cuộc thay đổi lớn. Mỗi khi có một hiện tượng thay đổi như vậy xảy ra, các sanh mạng trong toàn vũ trụ sẽ bị tiêu hủy, đó là một tình trạng bị tiêu hủy hoàn toàn. Mỗi khi như vậy xảy ra, đặc tánh của vũ trụ cùng với mọi vật chất trong đó sẽ bị nổ tan. Thông thường các sanh mạng sẽ bị tiêu hủy trong cuộc nổ nầy. Tuy vậy lịch sử đã cho thấy rằng tất cả không bị tiêu hủy hoàn toàn. Sau khi các đấng Đại giác ở một cấp vô cùng cao tạo dựng lại một vũ trụ mới, vẫn còn có một số sanh mạng của vũ trụ trước còn sống sót trong đó, chúng đã thoát khỏi sự nổ nầy. Các đấng Đại giác xây dựng vũ trụ theo những đặc tánh và tiêu chuẩn của các Ngài. Vì vậy, nó có một đặc tánh khác với đặc tánh của vũ trụ trước kia.
Những sanh mạng còn sống sót qua cuộc nổ vẫn tiếp tục duy trì đặc tánh và nguyên lý trước kia để hành sự trong vũ trụ mới. Vũ trụ mới thành lập nầy sẽ đi theo những đặc tánh và nguyên lý mới. Kết quả là những sanh mạng còn sống sót đó trở thành những con quỉ phá rối nguyên lý của cái vũ trụ mới. Tuy nhiên, chúng cũng không xấu lắm, chúng chỉ hành động theo đặc tánh của vũ trụ thời trước mà thôi. Người ta gọi chúng là Thiên Ma. Tuy nhiên, chúng không tạo nên một sự nguy hiểm nào cho người thường, chúng cũng không bao giờ làm hại con người. Chúng chỉ theo những nguyên lý của chúng để hành sự. Điều nầy không được tiết lộ cho người thường được biết trước đây. Tôi đã nói rằng chư Phật ở cấp cao hơn cấp Như Lai (Tathagata) có rất nhiều, các con quỉ đó không đáng kể. Chúng rất nhỏ nhoi so với các Ngài. Sự già, bệnh và chết cũng là một thứ quỉ, nhưng đó cũng là để bảo tồn đặc tánh của vũ trụ mà sanh ra.
Phật giáo nói đến sáu ngả luân hồi trong đó có con đường ngạ quỉ. Sự thật, đó là nói đến những sanh mạng trong một không gian khác nhưng chúng không có bản tánh người. Dưới mắt các đấng Đại giác, chúng vô cùng thấp kém và không một chút khả năng. Nhưng dưới mắt người thường, chúng rất đáng sợ và có một phần năng lượng. Chúng xem loài người như là những con vật, vậy chúng rất thích ăn thịt người. Những năm gần đây chúng cũng có đi ra truyền dạy công. Nhưng chúng là thứ gì, chúng có hình dáng giống con người hay không? Chúng rất đáng sợ cho con người, những ai học những thứ đó sẽ phải đi theo chúng để trở thành cùng loại với chúng. Trong lúc tu luyện, những người có tư tưởng sai trái, nếu tư tưởng của họ phù hợp với tâm lý của chúng, chúng sẽ đến để dạy cho những người đó. Một chánh thắng trăm tà. Nếu quí vị không tìm cầu điều gì, không ai dám đá động đến quí vị. Nếu quí vị có một tư tưởng tà mị và tìm cầu những điều xấu, chúng sẽ đến để giúp quí vị, sự tu luyện của quí vị sẽ đi vào con đường tà. Vấn đề nầy có thể xẩy ra.
Cũng có một hình thức khác gọi là tu tập tà pháp một cách vô ý thức. Sự tu tập vô ý thức tà pháp nghĩa là gì? Đó là tu theo cách thức tà mà không biết. Đây là một hiện tượng rất thường thấy, quả là có quá nhiều ví dụ. Như tôi đã nói hôm trước, nhiều người đang tu tập nhưng ý tưởng của họ không ngay chánh. Quí vị thấy họ đứng tập, đôi tay mệt lả run rẩy, cặp chân cũng vậy, nhưng đầu óc họ thì không chịu nghỉ ngơi: Giá cả sẽ gia tăng, tôi phải đi mua đồ, tôi sẽ đi mua ngay sau khi tập xong, nếu không thì giá cả sẽ tăng. Có người nghĩ: Sở làm của tôi bắt đầu có sự phân phối nhà ở, không biết có phần cho tôi không? Người phụ trách việc phân phối đã gây chuyện nầy chuyện nọ với tôi. Khi nghĩ như vậy, họ càng nổi giận: Chắc chắn anh ta sẽ không cho tôi một căn nhà, tôi phải chống lại với anh ta bằng cách nào.. Đủ loại ý tưởng phát ra từ trong đầu họ. Tất cả như tôi đã nói từ chuyện gia đình đến chuyện quốc gia. Họ càng lúc càng nổi giận khi nghĩ đến những đề tài nghịch ý.
Sự tu luyện đòi hỏi con người phải lưu ý cái Đức. Trong khi tu luyện, nếu quí vị không nghĩ đến điều tốt thì quí vị cũng không nên nghĩ đến điều xấu, tốt nhất thì đừng nên nghĩ gì cả. Vì cần phải đặt nền móng cho sự tu Gong ở cấp thấp, nhưng cái nền móng nầy tuy vậy có một vai trò rất quan trọng, vì sự hoạt động của ý tưởng con người có một phần hiệu lực trên đó. Xin hãy suy nghĩ, nếu quí vị thêm vào một điều gì cho cái Gong của quí vị, làm sao điều mà quí vị tu có thể là tốt được? Làm sao nó không bị đen được? Có bao nhiêu người tập luyện mà không nuôi những loại ý tưởng nầy? Tại sao quí vị không được hết bệnh dù vẫn tiếp tục tập luyện? Dù có người không nghĩ đến những điều xấu nơi chỗ tập luyện, nhưng họ vẫn ôm ấp sự tìm cầu những huyền năng Gong, tìm cầu điều nầy điều nọ, họ có đủ thứ tâm ý, đủ thứ tham muốn dữ dội nơi chỗ tập luyện. Sự thật, đó đã là tu luyện đường tà một cách vô ý thức. Nhưng, nếu quí vị nói họ đang tu theo con đường tà, họ sẽ không hài lòng: Tôi được đại sư khí công tên gì đó chỉ dạy tôi. Tuy nhiên, vị đại sư đó đã kêu quí vị lưu ý rất nhiều đến cái Đức, quí vị có làm hay không? Trong lúc tu tập, quí vị luôn thêm vào những ý tưởng không tốt, thử tự hỏi lấy quí vị: Như vậy làm sao quí vị có thể tu đạt được những điều tốt lành? Vấn đề là như vậy. Đó thuộc thành phần tu theo đường tà một cách vô ý thức. Hiện tượng nầy rất thông thường.
Nam nữ song tu
Trong giới tu luyện có một đường lối tu gọi là nam nữ song tu. Có thể người ta đã thấy, trong đường lối tu luyện của Mật-tông Tây tạng, có những bức tranh vẽ và tượng Phật tượng trưng một người nam ôm một người nữ trong thế tu luyện. Người nam đôi khi có hình dáng một vị Phật ôm một người nữ trần truồng. Cũng có khi là một biến hóa phật (avatars), biến hóa hình dáng một vị Kim cang đầu bò mặt ngựa, cũng bồng trên tay một người nữ trần truồng. Vì sao có sự như vậy? Chúng tôi trước nhất giải thích điều nầy cho quí vị. Trên quả địa cầu của chúng ta, toàn thể thế giới trong thời cổ điển, không chỉ Trung quốc chúng ta là chịu ảnh hưởng của Khổng giáo mà cả nhân loại, có một nền luân lý đều gần giống nhau. Đường lối tu luyện đó sự thật không phát nguồn từ nơi quả địa cầu của chúng ta. Nó đến từ một hành tinh khác, nhưng quả thật là đường lối đó có thể giúp cho sự tu luyện. Lúc bấy giờ, khi nó được truyền đến Trung quốc thì người Trung quốc không chấp nhận nó vì có sự nam nữ song tu cùng vài thành phần khác của sự mật tu. Vì vậy nó đã bị Hoàng đế của người Hán cấm chỉ trong thời đại Hội Xương (Huichang) nhà Đường. Nó được gọi lúc bấy giờ là Mật tông nhà Đường và bị cấm truyền bá trên đất nước nầy. Nhưng ở Tây Tạng, trong những hoàn cảnh đặc biệt và nơi vùng đất đặc biệt nầy, nó đã được phổ biến rộng rãi cho đến ngày nay. Tại sao họ tu luyện như vậy? Nam nữ song tu có mục đích lấy Âm bổ Dương và lấy Dương bổ Âm, bổ túc cho nhau trong sự tu luyện chung. Mục đích là đạt đến sự quân bình giữa Âm và Dương.
Quí vị đều biết, Phật và Lão giáo cũng đều có nói, nhất là theo thuyết của Lão giáo về Âm Dương, là cơ thể con người đã sẵn có Âm và Dương. Nhờ sẵn có Âm và Dương trong cơ thể, con người qua sự tu-luyện có thể sanh ra nhiều huyền năng Gong, nhiều sanh mệnh như là Nguyên nhi, Nhi hài và Pháp thân v.v. Nhờ sẵn có Âm và Dương, họ có thể tu luyện sanh ra vô lượng các sanh mệnh. Cho dù là thân người nam hay người nữ cũng như nhau, tất cả những điều ấy có thể được sanh ra nơi miếng đất gọi là đơn điền. Lý thuyết nầy rất có lý. Đạo Lão thường xem phần nửa trên của cơ thể là Dương và phần nửa dưới là Âm. Có người cho rằng sau lưng là Dương, trước mặt là Âm. Có người còn cho phần nửa trái của cơ thể là Dương, phần nửa mặt là Âm. Người Trung Quốc nói nam tả nữ hữu, điều nầy cũng đến từ lý thuyết đó và rất là hợp lý. Vì cơ thể con người tự nó sẵn có Dương và Âm và qua sự liên quan giữa Dương và Âm, nó có thể tự đạt được sự quân bình, và như vậy, nó có thể sanh ra nhiều sanh mệnh.
Đó chứng tỏ một điều là chúng ta có thể tu đạt đến một cấp rất cao mà không cần sử dụng đến phương pháp nam nữ song tu. Nếu tu luyện theo phương pháp nầy và sử dụng không đúng, người ta sẽ bị nhập ma và nó sẽ trở thành một đường lối tu tà. Nếu Mật tông ở cấp rất cao dùng nam nữ song tu, nó đòi hỏi vị thầy tu hoặc lạt ma phải đã đạt được một cấp tu rất cao. Lúc bấy giờ, vị Thầy của họ sẽ hướng dẫn họ trong sự tu luyện như vậy. Vì trình độ Tâm tính của họ đã cao, họ có thể tự kềm chế được và không bị rơi vào đường tà. Tuy nhiên, một người mà Tâm tính ở cấp thấp quyết không thể dựa vào phương pháp nầy. Nếu không, họ chắc chắn sẽ đi theo một sự tu luyện con đường tà. Nó chắc chắn trở thành con đường tà nếu được sử dụng. Vì trình độ Tâm tính có hạn của một người, họ chưa buông bỏ được những tham muốn và dục vọng của con người thường của họ, và trình độ Tâm tính của họ chỉ đến đó, nếu dùng nó thì bảo đảm là ngã tà. Vì vậy, chúng tôi đã nói rõ, truyền bá một cách cẩu thả phương pháp nầy ở những trình độ thấp, đó là truyền bá pháp tà.
Những năm gần đây, không ít những thầy khí công truyền bá đường lối tu luyện nam nữ song tu. Có điều gì kỳ lạ? Trong phái Đạo gia cũng thấy xuất hiện những phương pháp như vậy. Hơn nữa, sự xuất hiện nầy không phải có từ gần đây thôi nhưng từ thời nhà Đường. Làm sao mà Đạo gia lại có thể có nam nữ song tu? Thể theo lý thuyết Lão giáo về thái cực, cơ thể con người là một tiểu vũ trụ và nó đã tự sẵn có đầy đủ Âm Dương. Tất cả các pháp môn chánh đã được truyền bá xuống đời đời trải qua một thời gian lâu dài. Một sự thay đổi vô cớ hoặc một sự thêm vào vô cớ sẽ gây rối loạn cho tất cả đường lối tu luyện đặc biệt của nó và khiến cho nó không còn có thể tu thành chánh quả. Vì vậy, không bao giờ được tu luyện phương pháp nam nữ song tu nếu pháp môn không có nó. Nếu không, quí vị sẽ đi lạc đường và sẽ tạo nhiều vấn đề rắc rối. Nhất là trong Pháp môn Pháp Luân Đại Pháp của chúng ta, không có sự nam nữ song tu và chúng tôi cũng không có dạy nó. Đó là quan niệm của chúng tôi về vấn đề nầy.