Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Latest Articles


  • Vô Sắc Tướng & Năng Lượng Tối Của Vũ Trụ, Và 18 Căn Trần Thức Của Phật

    VÔ SẮC TƯỚNG & NĂNG LƯỢNG TỐI CỦA VŨ TRỤ, VÀ
    18 CĂN TRẦN THỨC CỦA PHẬT GIÁO
    Dark Matter & Dark Energy and Buddhism’s 18 Spheres
    * Lê Huy Trứ 
    2/25/2016
     
    Vừa mới đây, những khoa học gia đã xác nhận rằng những vật hiện hữu được trong vũ trụ chỉ có chừng 5 phần trăm trong vũ trụ.  Phần còn lại 23% là chất tối (dark matter) và 72% là năng lượng tối (dark energy) không trực tiếp thấy được bằng nhục nhãn. 

    Recently, scientists confirmed that the observable ordinary matters in the Universe are made up only 5% of the Universe.  The rest of the Universe are filled with 23% dark matter and 72% dark energy, which cannot be directly observed.  While dark matter permeates every galaxy in the Universe, dark energy is like the powerful gravitational waves ‘pulling’ the expansion of spaces between the galaxies.  However, both dark matter and dark energy are still the biggest mysteries in a Universe.

    Nói theo ngôn ngữ Bát Nhã của Phật Giáo, sắc tất thị 95% không; không tất thị 95% vô sắc tướng.  Trong đó, 23% là vô minh tạng (dark matter) và 72% là năng lượng tối (dark energy.)  Vũ trụ tối (dark universe) ‘đầy cái Không’ quang minh tạng và Không tam hỏa chân muội (emptiness of visible light and known energy.)  Dĩ nhiên, trong Vũ trụ tối đó không bao giờ có ngũ uẩn để mà chiếu kiến mà giai không đừng nói chi đến lục căn, lục trần và lục thức.
     
    I would like to use the concept of Buddhism Heart Sutra to express my thoughts:  Form is 95% emptiness in a dark universe; emptiness is 95% of form where 23% is full of dark matters and 72% is full of dark energy but 5% emptiness of observable forms and known energy.  Where observable side is 95% emptiness of dark matters including dark energy and 5% is full of observable forms and known energy.  Of course, in that dark universe, there is neither 5 aggregates nor 18 spheres existed for us to discuss the ‘existence of their emptiness.’
     
    ‘Nature & Consciousness, Architects of the Universe’ tóm lược những điểm chính của ‘vô tướng sắc’ và ‘chân lực tối’ này như sau:
     
    The ‘Nature & Consciousness, Architects of the Universe’ summarized the following foremost facts about dark matter and dark energy:
     
    ·         Dark matter interacts with gravitational waves
    o       Vô sắc tương tác với sóng nhân duyên và lý nhân quả
    ·         Dark matter does not interact or colliding with observable matters
    o       Vô sắc không tương tác hoặc va chạm với sắc (forms.)  Sắc là sắc, không là không !
    ·         Dark matter does not emit light or absorb light
    o       Vô sắc không phản chiếu ánh sáng hoặc hấp thụ quang minh.  Nhưng vô tướng sắc không phải là vô minh; vô sắc tướng là ‘anh minh.’
    ·         Dark matter permeates the galaxies where billion of them pass through us every second
    o       Vô lượng, vô tướng, vô sắc này nó đi xuyên qua vật chất ngũ uẫn giai không (cấu tạo từ 95% emptiness, lỗ hổng chân như) trong từng sátna. 
    ·         Dark energy is repulsive
    o       Năng lượng tối bất khả tư nghì.
    ·         Dark energy does not come from dark matter as it is repulsive with dark matter (it is believe that dark matter would have ‘pulled’ the galaxies together than pushing them apart).
    o       Năng lượng tối không phải từ vô sắc tướng và như nó xô đẩy với vô sắc.  Thực tại được hiểu là vô sắc tướng ‘kéo’ những giải thiên hà lại với nhau thay vì đẩy ra.  Nghiệp hấp dẫn ‘nghiệp’ và tùy theo nhân duyên mà hợp tan!  Chữ ‘kéo’ (pull) này được dùng rất tuyệt diệu bởi kiến thức của khoa học gia và chỉ có người có chút trí tuệ Phật Đà mới hiểu được chữ ‘kéo’ (pull) này thay vì ‘thu hút’ hay hấp dẫn (attract.) 
     
    Có người tin vô sắc (dark matter) and chân lực vô hình (dark ernergy) có thể là lòng Bồ Đề hay Phật Tâm.  Theo tôi đoán, Bồ Đề Tâm có thể có trước ngũ uẩn và nó nguồn gốc cấu tạo ra toàn thể vũ trụ, sáng cũng như tối.
     
    People believed the dark matter and dark energy could be the consciousness particles or consciousness energy.  But consciousness energy probably precedes consciousness particles as consciousness energy is the source of all creation in a universe.
     
    Lòng Bồ Đề hay tâm thức tạo nên, kiểm soát, và thao túng sắc, vật chất hiện hữu.  Những sum la vạn tượng này tương ứng và tương tác lẩn nhau.  Từ nhân duyên, nghiệp quả từ vô lượng mà đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu để tạo ra hàng hà sa số thiên hà, tinh tú, thái dương hệ, trái đất, thảo mộc, chúng sinh cùng nhân sinh.   Những quá trình tiến hóa cấu tạo này đi từ vy mô đến vỹ mô của vật chất và có thể tưởng tượng như là công trình điêu khắc của Phật ngàn tay, kéo khâu, đan lưới đế châu của vũ trụ.
     
    Consciousness energy creates, controls, and manipulates consciousness particles for such creation.  These consciousness particles are interconnected to or intertwined with each other.  At the beginning of the Universe, some of these consciousness particles are used to create quarks, electrons, and photons...   Later they are formed into protons and neutrons.  Subsequently, the planets, stars, galaxies, solar system including earth and the consciousness particles are formed as well as the sentient beings including human beings.
     
    The remaining consciousness that do not make any particles create the countless circular/spiral waves – from the smallest size of a quark, to the size of a planet, a star, and a galaxy  –  are similar to or the same as the gravitational waves.  These waves are like electrons orbiting the nucleus of atoms, planets orbiting stars, stars moving around the galaxies.  We can imagine the consciousness energy is like the Buddha with thousand hands and the seas of current consciousness particles as a giant three-dimension web, the circular waves are created by the Buddha’s hands, which permeate into, and pulling and stirring a giant Indra's web (also called Indra's jewels net or Indra's pearls, Sanskrit Indrajāla.)
     
    Vasubandhu Thế Thân Bồ Tát
    Vasubandhu Thế Thân Bồ Tát
    Ngài Thế Thân (Vasubandhu) đã chứng minh nguồn gốc của vũ trụ nguyên từ tâm sinh.  Lý thuyết của Thế Thân định nghĩa về Tâm Thức qua dạng chân lực hấp dẫn tạo ra tất cả vạn vật trong vũ trụ kể luôn những luật quản trị vũ trụ.  Chủ thể của tâm là đối tượng của thức.  Mổi hiện tượng tâm lý được xem như là nội dung hoặc con đường đi tới chân lý.  Cái chủ tâm này, cái ý tưởng của tâm thức hình như tự chứa thực tại, sau này nó đã thường sống hiển hiện trong Phật tánh (Tri Kiến Phật.)
     
    Vasubandhu already proved the birth of the Universe is caused by the consciousness energy.  Vasubandhu’s theory is definite in saying Consciousness, in the form of energy, create very thing in the Universe – including the laws governing them.  Consciousness (the subject) is always consciousness-of (the object.)  Every mental phenomenon refers to a content or direction toward an object. This is the intentionality of consciousness, the idea consciousness somehow contains its content, the latter as it were being always manifesting "in" sub-consciousness.
     
    Phật Giáo cũng còn định nghĩa rất rốt ráo về cấu trúc của 18 giới.  Nơi lục căn là nguồn gốc của vũ trụ và kiến trúc của nó dựa vào căn bản của ngũ uẩn.  Sự sống với các uẩn lôi cuốn và bám trụ bởi lục căn tiếp xúc với lục trần tạo ra lục thức và thành ra 18 cái vô minh giới ‘kéo’ (pull) theo cái khổ não (suffering) của chúng sinh.
     
    The Buddhism has also defined very well the architecture of Eighteen Spheres/Elements (Dhaatu) that bear their own characteristics or intrinsic nature (attano sabhaavam dhaarentiiti dhaatuyo) [Vism. p. 41] where the six Consciousness is the source of all creation in the Universe and the architecture is based on the Five Aggregates.  For life forms with sense-organs, they follow the appendage of architecture, which is the Twelve Spaces and the Eighteen Spheres.  The relationship between the 5 aggregates of human personality (pa~nca-kkhandha // pa~nca-skandha) and 12Spaces (aayatana) as well as 18 Spheres (dhaatu) is epistemologically significant.  While 12 Spaces (aayatana) are located within the category of as 18 Spheres (dhaatu,) the six consciousness/6 sense-organs belonging to both of 12 Spaces (aatayana) and of 18 Spheres (dhaatu,) and 6 fold consciousness (vi~n~naa.naa) of 18 Spheres (dhaatu) can be placed under the category of 5 aggregates of sentient being/human personality (pa~nca-kkhandha // pa~nca-skandha.)  Simply, 6 sense-organs +  6 sense-data/ objects + 6 resultant consciousnesses = 18 elements/spheres)
     
    Trong Phá Mê Khai Ngộ, Chương 26. Lục Căn, Lục Trần, Lục Thức, Lê Sỹ Minh Tùng tóm tắc rất rỏ ràng đầy đủ về ngũ uẩn giai không, “Ngũ uẩn tự nó không có được, mà là do nhân duyên kết thành nên tự nó không có tự tánh hay chủ thể tức là vô ngã. Nhưng một khi mà do nhân duyên kết hợp thì nó làm sao cố định cho được. Trước khi nhân duyên hòa hợp nó chưa có, sau khi nhân duyên ly tán thì nó cũng tiêu tan theo.”
     
    Liên quan giữa sắc tướng, ngũ uẩn, lục căn trần và 18 giới thức
    Relation between Naamaruupa, 5 Khandha, 6 Aayatana and 18 Dhaatu
     
    Naama-Ruupa
    (sắc danh)
    5 Pañca-skandha (ngũ uẩn, zh. wǔyùn 五蘊)
    6 Dhaatu
    (6 phân tử)
    12 Aayatana
    (căn trần)
    18 Dhaatu
    (18 giới thức)
    Ruupa
    (sắc, form)
    1. Aggregate of form (zh.色; sa., pi. rūpa), Sắc uẩn
    1. earth (thổ, (pa.thavi)
    2. water (Thủy,aapo)
    3. fire (hỏa,tejo)
    4. air (khí,vaayo)
    5. space (không gian, akaasa)
    1. eye (mắt,cakkhu)
    2. ear (tai,sota)
    3. nose (mũi,ghaa.na)
    4. tongue (lưỡi,jivhaa)
    5. body (thân,kaaya)
    7. the visible (thấy, ruupa)
    8. sound (nghe,sadda)
    9. smell (ngữi,gandha)
    10. taste (nếm,rasa)
    11. touch (sờ,pho.t.thabba)
    12. some Pháp,dhamma
    1. mắt (eye, cakkhu)
    2. tai (ear, sota)
    3. mũi (nose, ghaa.na)
    4. lưỡi (tongue, jivhaa)
    5. thân (body, kaaya)
    7. thấy (visible, ruupa)
    8. nghe (sound, sadda)
    9. ngửi (smell, gandha)
    10. nếm (taste, rasa)
    11. sờ (touch,pho.t.thabba)
    12. pháp (some, dhamma
    Naama
    (danh, name)
    5. Aggregate of consciousness
    (zh. 識, sa. vijñāna, pi. viññāṇa), Thức uẩn
     
    along with
    2. aggregate of feeling (vedanaa-kkhandha) Thọ uẩn
    3. aggregate of perception (zh. 想, sa. saṃjñā, pi. saññā), Tưởng uẩn 
    4. aggregate of disposition (zh. 行, sa. saṃskāra, pi. saṅkhāra), Hành uẩn
    6.consciousness (viññāṇa), Tâm thức
    6. mind (tâm trí, mano)
    12. some Pháp,dhamma
    6. thức (mind, mano)
    12. pháp (some, dhamma
    13. thức thấy (visual consciousness, 
    cakkhu-
    viññāṇa)
    14. thức nghe (auditory consciousness, sota-viññāṇa)
    15. thức ngửi (olfactory consciousness, ghaana-viññāṇa)
    16. thức nếm (gustatory consciousness, jivhaa-viññāṇa)
    17. thức xúc (tactile consciousness, kaaya-viññāṇa) 
    18. tâm thức (mental consciousness, mano-viññāṇa)
     

    Chúng sinh, đặc biệt nhân sinh có cùng cấu tạo lượng tử, tế bào, tính linh giống như vật chất, thiên hà trong vũ trụ.  Tất cả được cấu tạo rất tinh vi từ căn bản của Vũ Trụ Quan với nước (không khí,) thảo mộc, 18 kiến trúc giới trong bộ não của nhân loại, tâm thức nhân tạo trong computer và những ‘tác động lượng tử từ xa’ luôn luôn tương ứng và tương đồng như tiểu vũ trụ trong đại vũ trụ.  Đặc điểm của liên kết lượng tử (quantum entanglement) là chúng được kết nối bằng một phương thức kỳ lạ mà Albert Einstein gọi là “Spooky action at a distance (tác động ma quái từ xa.)”

    Sentient beings, specially human beings have a same origin not only as the single cell organisms but also have the same origin as particles, atoms, planets, stars, and the galaxies.  There is a very well defined architecture that governs this universal creation process and together formed the basis of a Universe’s Cognitive Process existing in particles (spooky actions as Albert Einsteincalled it,) water, plants, Eighteen Sphere structures in human brain, artificial consciousness in computer, which is created by Consciousness.

    Trong Phá Mê Khai Ngộ, Chương 26. Lục Căn, Lục Trần, Lục Thức, Lê Sỹ Minh Tùng viết: “Tâm [phan duyên, tâm vô minh, THL] thì dựa theo Lục căn để nhận biết Lục trần và phân biệt thành Lục thức mà Ngũ uẩn thì biến chuyển rất nhanh thành thử Tâm của con người cũng phải chạy theo [ví như  Tâm viên , ý mã.] Ý niệm đua nhau sinh khởi trong tâm thức của con người. Ý niệm sau thay thế ý niệm trước vì thế mà vọng tưởng không bao giờ dừng lại. Vọng tưởng còn thì chân tâm biến mất.”  Ngược lại, khi không còn vọng tưởng, kỳ tâm xuất hiện.    Đó là lý do, Đức Phật dạy chúng sinh phải giữ tâm của mình cho được thanh tịnh bằng cách loại bỏ tất cả mọi phiền não. Bởi vì vọng tưởng và phiền não biến tâm của chúng ta thành mê muội, mà vô minh là cội nguồn của tham, sân, si ‘kéo’ (pull) theo đau khổ trầm luân trong luân hồi.

    Consciousness is also expressed in the basis of Hundred Dharmas that has the characteristics of existing in the form of energy, working within spaces, and existing in emptiness.  The Hundred Dharmas or the Universe’s creation process started with a Mind where the Mind are of eight kinds – the Eye, Ear, Nose, Tongue, Body, Mind, Manas, Alaya Consciousness.  However, the main creators are the first six Consciousness and the last two are auxiliary. 

    Tâm cũng được diễn tả trong căn bản của 100 Pháp (Hundred Dharmas) với sắc tướng hiện tượng trong dạng năng lượng, bàng bạt trong không gian,  hiện hữu trong chân như.  ‘Thiên pháp’ (Hundred Dharmas) hay chu trình cấu tạo của vũ trụ bắt đầu từ tâm thức.  Tâm thức gồm có mắt, tai, mũi, lưỡi, trí, mạc-na thức, và a lại da thức.  Tuy nhiên, những cái cấu tạo chính là 6 cái căn đứng trước nhất còn 2 cái thức sau cùng chỉ là phụ thuộc.

    Tất cả do tâm tạo! (Ý Phật nói?) “With our thoughts we make the world.  The mind is everything.  What you think, you become.”  Buddha (?) 

    Tâm tạo ra tất cả trong vũ trụ chỉ đúng một nữa.  Có thể, 18 căn trần thức lừa bịp chúng ta bởi cái đo lường không chính xác của chính nó về thế giới hiện tượng và thực tại của nó có thể là ảo, không thực đúng như vậy.  Cho nên, thực tại là không thực tại mà là thực tại ở trong tâm phan.  Thực tại có thể chỉ đơn thuần là cấu trúc của ma trận (matrix) của tâm thức.  Thấy vậy mà không phải như vậy!  Điều có thể xảy ra đó là thực tại của chúng ta thực sự là không gian 2 chiều (X và Y,) không gian 3 chiều (Z,) và 4 chiều (thời gian) chỉ đơn thuần là ảo, trống không, như đã được giải thích rất quái gỡ trong cơ khí lượng tử (quantum mechanics.)

    The thought makes the entire universe is only half truth.  Perhaps, our human six conscious senses are deceiving us by their inaccurate measurements of our world (Samsara,) existence maybe just an illusion, and reality isn't real.  Thus, all of reality exists only in our minds.   Everything we know maybe merely a constructed matrix of our thoughts.  Thing might not appear as we see and think as it is.  One possible implication is that the reality is actually two-dimensional (X and Y,) the three-dimensional space (Z,) and the fourth-dimensional (time) are merely a holography, which would explain some of the wackiness of quantum mechanics. 

    Đáo bỉ ngạn, trở lại bờ bên kia, có nghĩa là bỏ sáng (quang) trở về tối (dark) theo ngôn ngữ quái đản (spooky language) của con người.  Mà bờ tối đó vì không hấp thụ hay phản chiếu quang (ánh sáng) nên có thể không có luôn âm (tiếng động.)  Nếu chúng ta được cấu tạo và tiến hoá (evolution) trong môi trường đen tối đó thì chúng ta sẽ không cần ngũ uẩn và lục căn.  Chúng ta sẽ ‘không mắt, không tai, không mũi, không lưỡi, không thân và không thức’ vì tất cả nhửng giác quan này vô dụng bên bờ bên kia.  Chúng ta sẽ không là con người tầm thường mà có thể là ‘thượng đế?’  Điều này cho thấy Bát Nhã Tâm Kinh đã diễn tả chính xác cái ‘ngũ uẩn giai không,’ cái tánh Không tuyệt diệu bên bờ tối đó mà khoa học đến bây giờ vẫn còn chưa thông nổi ý này. 

    Back to another side, in this case means ‘go to bright side with light’ ‘back to’ the dark side without light with dark energy and dark matters.  Since dark side neither emits light nor absorbs light and probably it produces no noise and if  we are evolved in those environments perhaps we would not need these six sense organs.  We might have no eyes, no ears, no nose, no tongue, no body, may be no mind as expressed beautifully in Buddhism Heart Sutra, which are the five aspects of human existence are empty and six sense organs are non-existence, all things are emptiness.  If that the case then we might not call ourselves as a human being but ‘super-being?’

    Tóm lại, cái quan niệm phổ thông từ trước đến nay của tâm tạo ra tất cả vô lượng vật trong vũ trụ chỉ thật sự đúng trong vũ trụ hiện tượng với vật chất hữu hình có thể thấy, nghe, ngữi, nếm, sờ và biết được bởi tập tục từ vô lượng kiếp đầy vô minh của 18 Pháp giới, đó chỉ là 5% của sắc tướng quáng quang âm trong vũ trụ, trong 5% đó đầy ắp ảo sắc tạo bởi ngũ uẩn qua phản chiếu quang tạng ảo ảnh và những tiếng động (âm) ồn ào không thật tại từ tâm phan duyên được đo lường bởi 18 căn trần thức giới của Phật Giáo.  Nó không đại diện cho ‘bờ bên kia’ không có ngũ uẩn, khác với ‘ngũ uẩn hiện hữu nhưng chỉ là giai không’ kiến bởi ‘Quang Âm’ Bồ Tát ở ‘bến bên này.’ Bờ bên kia của chư Phật không có ngũ uẩn như bờ bên này để chiếu kiến giai không.  Bờ bên kia đầy không, vơi sắc; bến bên này đầy sắc, vơi không. Có không, không có!   

    In short, the concept of ‘consciousness creating everything in the Universe’ is only true for an observable universe, which is only 5% observable matters, and full of non-emptiness that formed by five aggregates and consciously measurable by 18 Buddhism’s Spheres.  It does not accountable for another ‘dark side,’ which is subconsciously full emptiness of five aggregates.  The ultimate truth of ‘emptiness of emptiness’ should be resolved by the modified Heart Sutra (The Prajñāpāramitā Sutra) formula “asBodhisattva Avalokitesvara practiced the profound Prajnaparamita,  Bodhisattva Avalokitesvara saw that the ‘universe’ is ‘emptiness of emptiness.’  That is non-dualism!

    Cho nên phải “Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm diệu viên giác Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến vũ trụ giai ‘không của không’.”  Khi đó mới ‘như thị viên giác’ (thấy rốt ráo với không tánh, bất nhị, anh minh, sáng suốt tròn đầy) thấu đạt được tâm tướng là tâm không; không tâm là tướng tâm!

    Source: TVHS

    Read more »
  • 5 lý do bạn nên uống trà xanh pha mật ong hằng ngày

    Trà xanh và mật ong là những vị thuốc quý có nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe của con người. Tuy nhiên khi pha trà xanh với một

    chút mật ong sẽ mang lại rất nhiều tác dụng phòng và chữa bệnh mà bạn không ngờ tới.

    Cải thiện chức năng não

    Trà xanh và mật ong không chỉ là một thức uống làm trẻ hóa mà còn làm cho bạn thông minh hơn vì nó tốt cho chức năng não của bạn. Caffeine là một trong những thành phần chính có trong trà xanh. Khi kết hợp với mật ong, nó làm tăng cường hương vị cũng như vitamin tốt cho sức khỏe não bộ của bạn.

    Sự hiện diện của hai thành phần này trong trà xanh giúp cải thiện sự tập trung vì các tế bào thần kinh được sử dụng tốt hơn. Trà xanh và mật ong giúp cải thiện thời gian phản ứng não cũng như bộ nhớ của bạn. Trà xanh với mật ong rất tốt cho sức khỏe não bộ của bạn. Hãy nhớ rằng, caffeine có trong trà xanh là với số lượng ít hơn so với cà phê . Do đó, nó làm cho não bộ của bạn ổn định và tăng tính tập trung.

    Đốt cháy chất béo hiệu quả

    Rất nhiều chị em luôn tìm kiếm những thứ có thể giúp họ làm giảm lượng calo dư thừa. Tin tốt cho bạn là uống trà xanh và mật ong có thể giúp bạn thực hiện tốt điều này. Trà xanh làm tăng sự trao đổi chất trong cơ thể trong khi mật ong làm giảm lượng calo vào cơ thể bạn. Bằng cách kết hợp hai thứ này, quá trình đốt cháy chất béo đạt hiệu quả tăng khoảng 17%.

    Ngăn ngừa nguy cơ mắc bệnh ung thư

    Một trong những lợi ích sức khỏe quan trọng của việc uống trà xanh với mật ong là sự kết hợp này sẽ tạo ra chất chống oxy hóa tuyệt vời cần thiết cho sức khỏe. Sự nhân lên các tế bào hư hại của cơ thể trong một thời gian không kiểm soát sẽ dẫn đến ung thư.

    Trà xanh sẽ giúp cơ thể sản xuất chất chống oxy hóa ngăn cản sự gia tăng tế bào hư hại đó. Ngoài ra, uống trà xanh thường xuyên không chỉ ngăn chặn những ảnh hưởng của bệnh ung thư mà còn giảm nhẹ triệu chứng bệnh ung thư.

    Cải thiện sức khỏe răng miệng

    Hầu hết mọi người quan tâm đến sâu răng và các vấn đề răng miệng khác. Catechin có trong trà xanh và mật ong có hiệu quả trong việc cải thiện sức khỏe răng miệng. Mảng bám răng và các vấn đề răng miệng khác gây ra chủ yếu là do vi khuẩn liên cầu mutans.

    Các catechins trong trà xanh kết hợp với mật ong làm giảm tác dụng của các vi khuẩn này, giúp cải thiện sức khỏe răng miệng của bạn. Đây là một trong những lợi ích sức khỏe của việc uống trà xanh với mật ong.

    Tốt hơn cho xương

    Loãng xương là một vấn đề khiến hầu hết mọi người đều sợ. Đặc biệt đối với phụ nữ lớn tuổi có sức khỏe xương đang ngày một suy giảm. Uống trà xanh với mật ong không chỉ làm tăng hương vị nhưng mà còn tốt cho xương của bạn vì cơ thể có thể chủ động sản xuất chất chống oxy hóa và các hoạt chất chống viêm giúp bảo vệ mô cơ và xương tốt hơn, tăng cường khả năng hấp thụ canxi trong cơ thể.

    Những ai không nên uống trà xanh – mật ong?

    Dù mang lại rất nhiều tác dụng, tuy nhiên, hàm lượng caffeine và tanin trong trà xanh có thể gây ảnh hưởng cho những người thiếu máu, thiếu sắt, thần kinh yếu, người mắc bệnh tim, yếu chức năng gan, bị táo bón, phụ nữ đang mang thai hoặc cho con bú… Cùng với đó, những người bị tiểu đường, xơ gan, người bị rối loạn chức năng đường ruột… cũng có thể bị ảnh hưởng xấu khi sử dụng mật ong. Đây chính là những trường hợp không nên uống trà xanh pha mật ong.

    Những lưu ý không thể bỏ qua khi uống trà xanh – mật ong

    • Không uống ngay sau bữa ăn: Do trà xanh có chứa hàm lượng lớn tanin nên nếu bạn uống ngay sau khi ăn, chất này có thể kết hợp với sắt và protein trong thức ăn, làm giảm khả năng hấp thu dinh dưỡng của cơ thể.
    • Không uống lúc đói: Uống trà xanh trong lúc đói sẽ khiến bạn rơi vào tình trạng cồn cào, nôn nao, khó chịu, hoa mắt, chóng mặt…
    • Không sử dụng khi uống thuốc: Các chất trong trà xanh như tanin, caffeine có thể làm giảm, thậm chí gây phản tác dụng của thuốc.
    • Không sử dụng trà xanh để qua đêm: Khi để qua đêm, một số vitamin trong trà xanh sẽ bị phân hủy, gây ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe.
    • Chỉ nên sử dụng một lượng nhỏ mật ong: Thông thường, các bạn chỉ nên pha 1 – 2 muỗng nhỏ mật ong cho mỗi cốc trà xanh. Việc sử dụng quá nhiều mật ong sẽ không mang lại hiệu quả, thậm chí còn có thể gây phản tác dụng.
    Read more »
  • Phương Pháp Chửa Bệnh Tiểu Đường, Diệt tận gốc.

    QUÝ PHẬT TỬ ĐANG MANG CHỨNG BỆNH TIỂU ĐƯỜNG, UỐNG THUỐC HOẶC CHÍCH HẢY THÀNH TÂM TỤNG BAI KINH DƯỚI ĐÂY ÍT NHẤT NGÀY 3 LÂN, CỐ GẮNG ĂN CHAY., KHÔNG NHỮNG SẼ HÓA GIẢI ĐƯỢC NGHIỆP LỰC CHÍNH BẢN THÂN MÌNH, VÀ LÀM LỢI ÍCH CHO MỌI NGƯỜI CHUNG QUANH.

    XIN LƯU Ý: BẤT LUẬN LÀ ĐẠO GIÁO NÀO CŨNG PHẢI THÀNH TÂM NIỆM CẤU THẦN CHÚ NÀY. KHÔNG NHỮNG GIÚP QUÝ VỊ, KHI LÂM CHUNG SẼ VẢNG SANH VỀ QUỐC ĐÔ CÓ NIỀM VUI VÀ AN LẠC

    VÀ MỘT ĐIỀU NỮA XIN GHI KHẮC VÀO TÂM. ĐỪNG SÁT SANH VÀ HẢY THƯỜNG XUYÊN THỰC HÀNH 10 ĐIỀU THIỆN. ĐẶC BIỆT NGƯỜI THEO ĐẠO CÔNG GIÁO, CÓ NIỀM TIN CHƯA ĐỦ. HẢY THƯỜNG THỰC HÀNH 10 ĐIỀU THIỆN, CHẮC CHĂN SẼ SANH VỀ QUỐC ĐÔ CỦA CHÚA.

    -----------------------------------------------BÀI KINH---------------------------------------------------

    Nam Mô Chánh Pháp Sanghata Kinh Như Lai Phật

    Arya Sanghata Sutra Dharma Paryaya

    र्य ंघात ूत्र र्म र्याय

     

    NAMAH SAMANTA BUDDHA NAM

    KAYA VAK CHITTA VAJRA NAM

    OM GHA GHA GHA TAYA GHA TAYA

    SARVA DUSHTAM MARAYA PHAT PHAT

    KILI KILA YA

    SARVA PAPAM HUM HUM HUM

    VAJRA KILI KILA YA

    VAJRA DHAROD AJNAYA PAYATI

    KAYA VAK CHITTA VAJRA KILI KILA YA HUM PHAT

    OM AH KRODHE KA MUDGARA HUM PHAT

    OM VAJRA KRODHA MAHA BALA HANA HANA

    PACHA BIDHAM SAYA

    JATI LAMBO DHARI UCHUSHMA KRODHA HUM PHAT

     


     

    ---------------- PHƯƠNG PHÁP TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG--------------

     

    NHÌN THEO HÌNH CÓ SỐ, VÀ BẤM THEO THỨ TƯ SAU ĐÂY, MỖI NGÀY TỐI THIỂU 3 LẦN, SÁNG TRƯA, TỐI. 3 THÁNG SẼ HẾT BỆNH, KHÔNG CẦN TỐN VIÊN THUỐC.

    THÂN TÂM HỢP NHẤT:  BẤM 8, 1, 189

    THÔNG NGHET KHÍ HUYẾT: BẤM 22, 43, 62, 37, 7,73,58, 127, O (ZERO)

    1- BẤM HUYỆT 73, 3, 15

    2- BẤM 63, 7, 113, 17, 37, 40

    3- LĂN HƠ TAM GIÁC TẠI 3 HUYỆT: 37, 40, 481

    4- LĂN HƠ TAM GIÁC TẠI 3 HUYỆT: 41, 50, 233

    5- HƠ DƯỚI LÒNG BÀN CHÂN

    BẤM HUYỆT BÊN TRÁI TRƯỚC RỒI BÊN PHẢI THEO THỨ TỰ HUYỆT, KHÔNG ĐƯỢC BẤM HUYỆT KHÔNG THEO THỨ TƯ Ở TRÊN, KHI LĂN VÀ HƠ VÙNG TAM GIÁC 1 PHÚT. DƯỚI LÒNG BÀN CHÂN TRÊN 1 PHÚT.

    Khi BẤM huyệt, mỗi huyệt 40 lần. Hơ bằng Ngải cú có bán tại chợ VN.

    6- BẤM CÂN BẰNG ẤM DƯƠNG: 103, 1, 127, 0

     

     

     

     

    Read more »
  • ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA CHÚC MỪNG NĂM MỚI

    Đức Đạt Lai Lạt Ma nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng, người đang trải qua đợt điều trị bệnh nhiếp hộ tuyến tại bệnh viện Mayo Clinic bang Minnesota Hoa Kỳ, hôm 6-2 - 2016 cho biết ngài đang rất khỏe, khi gửi lời chào nhân năm mới.

    "Tôi muốn nói với các bạn rằng tôi đang rất khỏe ... Việc điều trị chỉ mất vài phút mỗi ngày, nhưng sẽ mất nhiều thời gian để hoàn thành việc điều trị. Không có gì phức tạp và cũng không nghiêm trọng.

    "Không có gì phải lo lắng. Tôi thoải mái và thấy việc điều trị cũng dễ chịu", Đức Đạt Lai Lạt Ma nói.

    Đức Đạt Lai Lạt Ma, 80 tuổi, người đang ở bệnh viện Mayo Clinic ở Minnesota trong thời gian hơn 2 tuần, cho biết ngài đang trải qua đợt "điều trị tuyến tiền liệt phòng bị".

    "Tôi muốn nhân cơ hội này gửi lời chào đến mọi người, xuất gia và tại gia, già trẻ, đặc biệt là những người Tây Tạng.

    "Nhân dịp năm mới Tây Tạng, tôi chúc các bạn Tashi Delek (lời chúc Tây Tạng)", ngài bày tỏ và cảm ơn tất cả những ai đã cầu nguyện cho sự bình an của mình.

    "Tôi muốn nói các bạn không phải lo lắng gì cả", ngài nói.

    "Tôi trân trọng tất cả những người đã cầu nguyện cho tôi và nỗ lực vì tôi", ngài nói.

    Ngài kêu gọi mọi người hãy "tạo ra cái nhân của hạnh phúc, và sống vì lợi ích của người khác và không làm hại ai".
    http://economictimes.indiatimes.com/new s/politics-and-nation/spritual-leader-dalai-lama-greets-people-on-the-occasion-of-tibetan-new-year/articleshow/50877209.cms

    SOURCE: TVHS

    Read more »
  • VÀI NHẬN ĐỊNH VỀ BÀI PHÁP THOẠI “UY NGHI GIỚI HẠNH TRONG PHẬT PHÁP” CỦA PHÁP VƯƠNG GYAL WANG DRUKPA

    VÀI NHẬN ĐỊNH VỀ BÀI PHÁP THOẠI 
    “UY NGHI GI
    ỚI HẠNH TRONG PHẬT PHÁP” 
    C
    ỦA PHÁP VƯƠ
    NG GYAL WANG DRUKPA
    Thích Nguyên Liễu

    Thanh Hai
    Thanh Hải

    Vào khoảng thập niên 80-90, có một người tự xưng là Thanh Hải Vô Thượng Sư, được sự chú ý của nhiều người. Tôi cũng bị kích thích tính hiếu kỳ, tìm xem những băng đĩa của bà Vô Thượng Sư ấy. Đây là một người phụ nữ có xiêm y sắc màu với vũ điệu trên màn hình, không khác các bà đồng bóng ở điện Hòn Chén - Huế. Tôi nghĩ thầm, “Vô Thượng Sư” chỉ là một cách xác định bản ngã của một nữ nhân quái kiệt mà thôi.

    Gyal Wang Drukpa
    Gyal Wang Drukpa

    Từ đó về sau, tôi không quan tâm đến vấn đề ấy nữa. Mấy năm gần đây, các vị Lạt Ma Tây Tạng, Nepal, Bhutan qua Việt Nam truyền bá mật tông, thường gọi là Kim Cang Thừa, có một vị tự xưng là Pháp Vương, tôi nghe là lạ khác thường, vì từ này ở Việt Nam xưa nay chỉ dùng trong bài kệ xưng tán Phật:

    Pháp Vương Vô Thượng tôn
    Tam giới vô luân thất
    Thiên nhân chi đạo sư
    Tứ sanh chi từ phụ…

    Nay lại xuất hiện một pháp vương thứ hai. Tôi nghĩ đây chắc là một vị pháp sư có công hạnh đặc biệt lắm.

    Cũng bị kích động tâm thức, tôi quan tâm nghiên cứu về hành trạng của Ngài.

    Như thường lệ, muốn tìm hiểu một vị đạo sư, cần phải nghiên cứu qua hai phương diện, một là ngôn giáo, hai là thân giáo.

    Về ngôn giáo của Ngài Gyal Wang, trước tiên tôi đọc bài pháp thoại “UY NGHI GIỚI HẠNH TRONG PHẬT PHÁP”, phần Việt văn trong cuốn “Conduct in Conformity With the Daharma”. Cần nói thêm rằng, đại đa số người Việt tiếp thu và ứng dụng giáo lý Phật Đà qua các bài giảng tiếng Việt của quí Cao Tăng, Đại Đức. Kinh điển thì nghiên cứu các bản dịch của quí Tôn Đức có sở trường dịch thuật. Tôi, người viết bài này, không ngoại lệ. Tôi diễn giải thêm như thế, bởi vì trong cuốn sách nói trên có nhiều thứ tiếng như Anh, Pháp, Trung văn, Tạng văn vv….Đây là phương thức khoe chữ…?

    Sau đây là một vài nhận định của tôi về bài pháp thoại trên.

    Mở đầu cho bài pháp thoại là bài xưng tán Tổ Sư dòng truyền thừa Drukpa:

    Kính lễ Kim Cương Thượng Sư Tôn!
    Đấng Pháp Vương Drukpa tôn quý.
    Ngài là chủ hết thảy Đạo Sư… 

    Đọc đến câu thứ ba này, tôi nghĩ, có lẽ ông Gyal Wang đã đi tham cứu tất cả các vị Đạo Sư cổ kim, mới có thể khằng định như thế?!

    “Ngài là Chủ hết thảy Đạo Sư”

    Đây là một lời khằng định quy nạp, hàm hồ, thiếu ý thức. Qua câu này, chúng ta thấy rằng ông Gyal Wang cho Tông môn dòng truyền thừa Drukpa là cao hơn hết!!

    Điều này, tôi thấy ông Gyal Wang vướng mắc vào cái ngã chấp, chấp thủ khó dung thứ trong Phật Pháp: “Tôi và Tôn sư tôi là trên hết”. Diễn theo từ Duy Thức học, nó bao hàm ngã và ngã sở - Tôi và cái của tôi. Người tu theo đạo Phật, muốn giải thoát sinh tử khổ não, phải triệt tiêu tận gốc rễ cái ngã. Vì cái ngã là một sở chướng lớn trong việc tìm cầu giải thoát.

    Theo nguyên lý Phật Giáo, bất cứ Tiểu Thừa, Đại Thừa, Kim Cang Thừa hay Tối Thượng Thừa đi nữa, không có thừa nào dung chứa ngã chấp. Không phá ngã chấp, thì không bao giờ giải thoát sinh tử chứng Niết Bàn. Hòa Thượng Thiện Siêu đã dạy rằng: “Vô ngã là Niết Bàn”.

    Theo cuốn “Tinh túy trong sáng của giáo lý Phật giáo” của Phạm Công Thiện, thì Mật tông Tây Tạng được Tổ Sư Thánh Tăng Ấn Độ là Ngài Atisha-Jowo Atisha- truyền sang từ thế kỷ XI năm 1042 và tiếp tục truyền thừa đến đời Đức  Đạt Lai Lạt Ma thứ XIV (trang 57 sđd)

    Vẫn biết trước đó, thế kỉ thứ VIII, đã có Ngài Liên Hoa Sinh (Padmasambava) từ Ấn Độ qua truyền Mật Tông rồi, nhưng ở đây tôi chỉ dựa vào dòng truyền thừa của Đức Đạt Lai Lạt Ma mà luận.

    Dòng truyền thừa Drukpa đến thế kỉ XII mới thành lập, thì có thể là một chi mạc gì đó của dòng truyền thừa chính do Tổ Sư Atisha khai sáng.

    Cho dù Tổ sư dòng truyền thừa chính hay Tổ Sư truyền thừa của Ngài Liên Hoa Sinh đi nữa, cũng đã trên dưới hàng ngàn năm rồi, các Ngài đã viên tịch, đã nhập Vô Dư y Niết Bàn. Ông Gyal Wang dâng lên quý Ngài cái tham vọng làm “chủ” thì có ý nghĩa gì?! Nếu quý Ngài theo hạnh nguyện Bồ Tát, nhập Vô Trụ Xứ Niết Bàn, “Ứng hiện tùy cơ, trục loại tùy hình”, cũng không thể mang theo cái ngã chấp cố hữu như ông Gyal Wang vọng tưởng: “Ngài là Chủ hết thảy Đạo Sư”. Một lời kệ quá tầm thường, không hề thấy trong văn học Phật giáo xưa nay.

    Phần trên, tôi chỉ mới bàn sơ về cái vọng tâm, vọng tưởng của ông Gyal Wang. Câu trích dưới đây lại thể hiện một phàm tình khác nữa: “Ngài (Tổ Sư dòng truyền thừa Drukpa) từ bi hơn tất cả chư Phật và Bồ Tát” (dòng 16, trang 177 sđd)

    Theo truyền thuyết, huyền thoại và huyền ký, thì các Pháp Vương dòng truyền thừa Drukpa là hiện thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Phẩm Phổ Môn trong kinh Pháp Hoa, theo lời Ngài Vô Tận Ý bạch Phật thì Ngài Quán Thế Âm cũng là một Phật Tử:

    Phật Tử hà nhân duyên
    Danh vi Quán Thế Âm
    (Người Phật Tử ấy nhân duyên gì mà được gọi là Quán Thế Âm?)

    Cũng trong đoạn kệ trên, Đức Phật Thích Ca dạy, Ngài Quán Thế Âm ứng thân khắp nơi chốn, đời đời làm thị giả, thờ hằng sa Đức Phật:

    Thiện ứng chư phương sở
    Lịch kiếp bất tư nghì
    Thị đa thiên ức Phật

    Thế mà ông Gyal Wang nói Ngài Quán Thế Âm hóa thân làm bậc Thượng Sư trong dòng truyền thừa Drukpa, lạiTừ Bi hơn tât cả chư Phật và Bồ Tát. Có thể ông ta thuộc diện bất thường?. Đây là một lộng ngôn không thể chấp nhận. Điều này, nói câu này, người có chánh tri kiến hẳn thấy rằng đây là lời của tà giáo, cần phải cảnh giác, đừng bị mê hoặc…

    Từ Bi và Trí Tuệ là thể tánh viên dung trong Như Lai Tạng. Chư Phật, chư Bồ Tát, kể cả chúng sanh đều viên mãn. Nhưng vì chúng sinh bị màn vô minh bao phủ dày đặc không thể hiện rõ được. Chư Bồ Tát do hạnh nguyện lợi tha, có những diệu dụng sai thù. Chẳng hạn, diệu dụng của Ngài Quán Thế Âm là Từ Bi, diệu dụng của Ngài Văn Thù là Trí Tuệ. Người liễu nghĩa Thượng Thừa tuyệt đối không quan niệm rằng: Ngài Quán Thế Âm từ bi hơn Ngài Văn Thù và ngược lại, Ngài Văn Thù trí tuệ thắng Ngài Quán Thế Âm.

    Khái niệm hơn - kém, thuộc diện nhị nguyên, Từ Bi và Trí Tuệ là thể tánh viên dung bất nhị trong Chư Phật và Bồ Tát. Vì là viên dung bất nhị nên ông Gyal Wang xưng tán Tổ Sư dòng truyền thừa Drukpa từ bi hơn tất cả chư Phật và Bồ Tát thì chúng ta phải hiểu rằng “Tổ Sư” trí tuệ cũng thắng chư Phật và Bồ Tát.

    Theo phàm tình mà luận, thì so sánh hơn kém, thắng thua là có ý tranh chấp, tranh giành ảnh hưởng. Tranh giành ảnh hưởng Từ Bi và Trí Tuệ với chư Phật và Bồ Tát thì thuộc diện Ma Vương rồi!

    Người Phật Tử phải có một tầm nhìn sáng suốt nhận chân đâu là chánh, đâu là tà cho việc tu tập của mình khỏi bị lệch hướng đáng tiếc.

    Để kết thúc tiểu tiết này, tôi xin phép tặng ông Gyal Wang hai câu trong bài kệ chúng tôi thường tụng khi lễ Phật:

    Nhữ kim vọng dĩ uế độ kiến
    Lãi trắc Như Lai thanh tịnh tâm
    (Ngươi do vọng tâm nhìn cõi uế, đem so lường tâm thanh tịnh của Như Lai).

    Chúng ta đã thấy sự thiên kiến, chấp thủ sai lệch của ông Gyal Wang trong các phần trên, câu khiêm hạ sau đây của ông Gyal Wang ở phần cuối bài pháp thoại, chúng ta sẽ thấy rõ hơn nữa về một người được xưng tụng là “bậc Toàn Tri Tối tôn quí”:

    “Mặc dù sự hiểu biết tâm linh còn chưa tỏ tường rốt ráo. Tuy nhiên, tôi là người đã xa lìa tất cả bất tịnh ô nhiễm của tám món bận tâm thế tục”. (dòng 1-3 trang 184, sđd)

    Theo tâm lý học, người nào tự nói tâm tôi đã thanh tịnh, giải thoát các triền phược nhiễm ô, thì người ấy tâm còn phiền trược, ô nhiễm nặng nề. Nói thanh tịnh, ly nhiễm chỉ là một thái độ ngụy tín che giấu cái phàm tình bên trong. Đó cũng là một cách xác định bản ngã của người tầm thường thôi.

    Những câu trần tình, bộc bạch như thế không hề nghe thấy trong ngôn ngữ Thiền sư. Chỉ nghe những câu đối vượt thoát phàm tình như thế này:

    Trúc ảnh tảo giai trần bất động
    Nguyệt luân xuyên hải thủy vô ngân

    (câu đối chùa Trà Am – Huế)

    Tạm dịch: Bóng trúc quét thềm bụi không động
    Vầng trăng xuyên biển, nước lặng yên

    Lại nữa, Ngài là “bậc thầy giác ngộ”, là “bậc toàn tri” của dòng Kim Cương Thừa, sao chẳng “thừa” kim cương gì cả. Vẫn biết bản môn Kim Cương Thừa và diệu dụng phá chấp của kinh Kim Cương không đồng đẳng. Song ở đây,  tôi luận về “vô sở trụ”, cho nên cần trích dẫn kinh Kim Cương. Nếu Ngài là “bậc thầy giác ngộ”, thì Ngài phải liễu nghĩa kinh Kim Cương chứ, phải là bậc “Vô Sở Trụ” mới siêu việt. Còn Ngài trụ ở niệm xa lìa “tám món bận tâm thế tục” làm sao có thể sanh tâm, kiến tánh: “Ứng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”. Tâm sanh thì kiến tánh, kiến tánh thì ngộ nhập tánh không của vạn pháp, trực nhận “Bản Lai Vô Nhất Vật”, chỗ nào cho bụi trần bám vào mà xa lìa với không xa lìa?! Trụ ở cái ý niệm xa lìa tám món bận tâm thế tục ấy, thì chẳng bao giờ thấy được bể pháp mênh mông đâu. Xả bỏ nó đi!

    Phật dạy:  ”phàm sở hữu tướng giai thị như vọng” và Phật cũng dạy rằng: ” pháp thượng ưng xả hà huống phi pháp” (pháp còn phải xả bỏ huống hồ là phi pháp). Vướng vào ý niệm ấy là phi pháp rồi.

    Phật Tử Việt có thể xem đây là Bậc Thầy giác ngộ, là hóa thân của chư Phật, chư Bồ Tát được không?

    Một vị Tăng được gọi là “Như Lai sứ giả” đi trao truyền chánh pháp, mà soạn một bài giảng lý chẳng khế, cơ chẳng hợp!!!

    Chúng ta sanh vào thời mạt pháp, gặp nhiều tà sư, tà thuyết. Buồn thay!!!

    Từ Bi thắng sân hận
    Hiền thiện thắng hung tàn
    Bố thí thắng xan tham
    Chân thật thắng hư ngụy
    Pháp cú kệ – Tịnh Minh dịch

    blankPhần trên tôi đã trình bày về phần “ngôn giáo” của ông Gyal Wang. Chúng ta đã thấy rõ thật hư, chân giả của ông ấy. Để sáng rõ hơn nữa, tôi trình bày tiếp khía cạnh Thân Giáo và Hạnh Giáo. Về phương diện này, trước tiên tôi theo dõi những “oai nghi tế hạnh” của Ngài Gyal Wang qua các hình ảnh “biểu diễn” hấp dẫn, ngoạn mục trong cuốn “MANDALA”.

    Đầu tiên tôi quan sát hình ảnh Ngài trên trang bìa. Ngài đội mũ hình tháp cụt màu đen, trang trí những sợi dây màu vàng rất nổi. Miệng Ngài cười tươi như hoa nở, cổ khoác yếm xanh, dưới tay nhiều sợi dây như chuỗi hạt màu vàng chằng chịt. Nhìn toàn cảnh rất ngoạn mục, không khác gì một “ông đồng” ở điện Hòn Chén – Huế, khi lên diễn vũ điệu “Ông Chín Thượng Ngàn” (từ đồng bóng).

    Tôi quan sát rất kỹ tìm xem có nét nào của Thiền Sư hay Đạo Sĩ không? Không thấy, hoàn toàn không thấy!. Đây là đức tướng thứ nhất của Ngài Gyal Wang.

    Thứ đến, tôi lật vào các trang trong, thấy nhiều hình ảnh và màu sắc về Ngài Gyal Wang luôn thay đổi và rất sặc sỡ. Có hình Ngài đội bêrê đỏ, y vàng, y trơn như chiếc y của một chú Sa di ở Việt . Lật vào trong nữa, Ngài đội mũ bêrê xanh, quấn y trơn, y không điều – Điều là từng miếng vải kết lại thành từng ô, tượng trưng chiếc y như mảnh ruộng phước, gọi là Phước Điền Y. Điều cũng biểu thị tính chất đức độ của Tăng, Ni.

    Tôi lật tiếp thêm, thấy Ngài đội mũ đỏ thẳm, quàng y với nhiều hoa văn sặc sỡ vàng, đỏ, tím...

    Nếu có một cái nhìn tổng quát về trang phục, áo mão của ông ta thì thấy, khi thì vàng, khi thì đỏ, khi thì tím, khi thì nhiều hoa văn. Tôi có cảm giác như Ngài là một diễn viên trên sân khấu, thường xuyên hóa trang cho hợp vai diễn của mình. Đặc biệt, tôi nhìn kỹ tấm hình trang 142, ông ta diễn xuất rất điệu nghệ như hình của một diễn viên điện ảnh lành nghề. Nếu là một nghệ sĩ, một ngôi sao màn bạc thì đây là hình ảnh đẹp, tuyệt diệu. Nhưng ngược lại, một Tăng sĩ, một Đạo Sư thì hình ảnh này thiếu oai nghi, khó kính ngưỡng. Nếu không muốn nói là quái Tăng. Một Đạo Sư, hình ảnh phải chính diện, uy nghi, hợp với pháp phục, nghĩa là phải hủy bỏ cái hình ảnh sắc nét, không hợp với pháp phục (hủy kỳ hình hảo, ứng pháp phục cố)

    Một điều cần chú ý nữa là ông Gyal Wang để tóc dài phủ tới khỏi vành tai rất khó coi (h.t 126, 234, 250 sách Mandala). Có phải vì vậy mà Ngài phải luôn đội mũ?

    Giả sử có người tiện tay lột cái mũ của ông ta ra, thì không thấy hình tướng oai nghi của một người đệ tử Phật nữa rồi!

    Chúng ta đã biết rằng, người đệ tử Phật thường mặc áo hoại sắc, đơn giản, mỗi tháng trước hai kỳ Bố Tát phải thế phát tươm tất. Hình ảnh người tu sĩ Phật Giáo nhẹ nhàng, thanh thoát như thế từ trên 2500 năm trước đến nay vẫn không thay đổi.

    Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ XIV – biểu tượng cao nhất của Mật Tông –Tây Tạng – được cả thế giới kính ngưỡng vẫn có trang phục truyền thống của tăng sĩ Phật giáo.

    Vậy ông Gyal Wang có phải là một đệ tử Phật không? Mỗi người chúng ta hãy tự suy nghĩ.

    Trên đây là Thật Tướng (nghĩa đen) của ông Gyal Wang, còn Thật Hạnh thì như thế nào, đợi người đi Nepal về sẽ rõ.

    Một người đồng pháp giới với tôi ở miền Bắc, rất kính ngưỡng Ngài Pháp Vương Gyal Wang Drukpa. Nhưng sau khi đi dự Đại Hội Thường Niên dòng truyền thừa Drukpa về gặp tôi, thầy nói:

    -  “Trăm nghe không bằng một thấy, tôi đã bể cái mộng cầu pháp Kim Cương Thừa  rồi!”

    Tôi hỏi vì sao?

    Thầy kể một cách thất vọng:

    -  “Ông ta ở trong một nữ tu viện, có phòng ốc sang trọng, kín như bưng, với mấy tầng cửa đóng then cài cẩn mật. Nhìn vào tôi tự nghĩ đây là tu viện hay pháo đài? Ông ta còn là một tài xế thiện nghệ, lái xe con chở nữ nhân Việt Nam chạy vù vù qua đường đèo dốc, tôi thấy chẳng đẹp mắt chút nào cả”.

    “Một vị Lạt Ma đã nói với tôi, ông ta là một cư sĩ, để tóc như thế cho tiện việc sinh hoạt đời thường”.

    Tôi nghĩ đây cũng là một Thanh Hải Vô Thượng Sư nữa rồi!

    Trầm ngâm một lúc, thầy tiếp:

    -  Trong lúc đó, đời sống của người dân Nepal quanh tu viện nghèo nàn, xơ xác, nếu không nói là lạc hậu. Nhìn hai cảnh đời, trong tu viện và ngoài dân gian, tôi nhớ hai câu thơ của Đỗ Phủ đời Đường:

    “Châu Môn  tửu nhục xú

    Lộ hữu đồng tử cốt”

    Nhấp một ngụm trà, thầy nói tiếp:

    -  “Nếu là một ông thầy tu Phật Giáo  thì phải có giới luật. Tăng Ni phải ở riêng như chúng ta. Ngài Đại Thiên (Mahadeva) nói một trong năm điều bất toàn của La Hán rằng: “tới bậc A-la-hán thì đoạn diệt hết mọi phiền não, nhưng vì còn có nhục thân, nên có vấn đề sinh lý không phải là hết hẳn, trong khi thụy miên (ngủ nghỉ), bị ác ma dụ hoặc vẫn có lậu thất.”

    Quan điểm của Ngài Đại Thiên tôi không đồng tình, tuy thế thấy ông Gyal Wang – một người vẫn có nhiều nét phàm tình, lại ở trong một nữ tu viện thì ai cũng có thể đặt một nghi vấn: Hẳn ông Gyal Wang thuộc dòng truyền thừa của “phái Mũ Đỏ” mới có thể chung cư trong một nữ tu viện. Phái này có lối tác pháp quái dị, Phật Giáo nghiêm cấm.

    Đặc biệt trong tu viện này không có hình tượng của Đức Phật mà chỉ có hình của ông Gyal Wang và các hình ảnh kỳ dị khác mà thôi?

    Thầy chợt thở dài:

    -  “Thì ra cuộc đời là thế, nếu đứng xa mà nhìn thì rất mỹ hảo, nhưng khi đến cận cảnh thì vỡ mộng!”

    Đến đây, tôi ngắt lời thầy:

    “Thầy ơi, mộng vỡ hay lành cũng chỉ là mộng”
    Đại mộng thùy tiên giác
    Bình sinh ngã tự tri

    Dùng Bát Nhã để quán chiếu là yên hết. Mời thầy dùng trà, trà Olong Tâm Châu chính hiệu đấy”.

    Tôi mỉm cười, đọc hai câu kệ:

    “Trước hữu sa trần hữu
    Vi không nhất thiết không”
    “Có thời có tự mảy may
    Không thời cả thế gian này cũng không
    Kìa xem bóng nguyệt dòng sông
    Ai hay không có, có không là gì?”

     

    Thưa quí vị độc giả Phật Tử.

    Khi viết về hành trạng của Pháp Vương Gyal Wang Drukpa qua phần Ngôn giáo, Thân giáo và Hạnh giáo, tôi cần phải quảng lãm cuốn “MANDALA – sự hợp nhất của từ bi và trí tuệ…”. Tôi thấy nội dung cuốn sách này cũng có một số vấn đề cần phải đàm luận. Mỗi tông phái Phật giáo đều có một nghi thức riêng, Mật Tông gọi là Nghi quỹ, Thiền Tông có Thanh Quy Bách Trượng, vấn đề  này tôi hoàn toàn không đề cập đến, chỉ bàn sơ một vài nét nội dung, một vài nét thôi. Nếu đàm luận đủ chắc phải mất nhiều thời gian, có thể thành một cuốn sách nhỏ.

    Nhìn chung, nội dung cuốn sách, có nhiều truyền thuyết, huyền thoại và huyền ký mang tính “Phong Thần”, khó nghĩ khó bàn.

    Riêng về pháp quán đỉnh, trước đây tôi cứ nghĩ nó thuộc về diện Mật pháp khác với các pháp môn của Thiền tông, Tịnh Độ tông, và Mật Tông Việt . Song, khi đọc bài truyền pháp “quán đỉnh cộng đồng Phật Dược Sư, Đại Thành Tựu Phật A Di Đà” (t 21. Mandala), tôi thấy chẳng có gì khác mấy với các pháp môn tu tập mà Tổ Tổ tương truyền, các Thầy đã giảng ở Việt từ xưa tới nay. Pháp quán đỉnh của ông Gyal Wang giảng tương tự như phương pháp quán tượng niệm Phật, ngồi niệm Phật quán tưởng Đức Phật A Di Đà, ngự trên hoa sen ở trên đỉnh đầu mình. Quán cho đến khi nào ngồi vào niệm Phật là thấy rõ ràng ngay. Thế là đã thành tựu một pháp. Thứ nữa, khi ngồi niệm Phật quán toàn cảnh thế giới Cực Lạc hiện tiền. Theo Pháp quán này, khi ngồi vào niệm Phật, quán thấy toàn cõi Cực Lạc rực rỡ với Đức Phật  A Di Đà đang thuyết pháp. Quán cho đến khi nào ngồi vào niệm Phật là thấy ngay cảnh giới Cực Lạc hiện tiền.

    Các pháp quán này nếu thực hành thành tựu viên mãn, khi lâm chung sẽ có mùi hương lạ lan tỏa khắp chung quanh. Điều này ở Việt đã có kiểm chứng.

    Đây tôi mới bàn luận về pháp quán để thấy rằng pháp quán đỉnh của ông Gyal Wang không xa lạ gì với Phật Tử Việt . Tôi chưa đề cập đến phương pháp trì danh niệm Phật khi đến nhất tâm bất loạn, thì khi cất tiếng niệm Phật là nghe cả bầu trời vang vọng tiếng niệm Phật, thường được gọi là Niệm Phật Tam Muội. Điều nữa, pháp quán tưởng tự tánh Quán Thế Âm, tự tánh A Di Đà, tự tánh Dược Sư, Thầy Tổ đã dạy, đã giảng từ lâu rồi. Chẳng hạn như quán tưởng tự mình là Quán Thế Âm, thì năng lượng từ bi sẽ lan tỏa, thương tha nhân như thương con một của mình, người xung quanh cảm nhận được sự bình an. Nếu quán tưởng tự tánh của ta là Phật A Di Đà, thì tự tâm muốn tiếp độ chúng sanh bình đẳng không sai biệt, và cảm thấy cảnh giới hiện tiền thanh tịnh, an lạc…vv…

    Ông Gyal Wang cứ tưởng nghi quỹ quán đỉnh của mình là đặc thù của dòng truyền thừa Drukpa thôi. Không có chi là đặc thù cả, phổ cập lắm, chỉ sai biệt ngôn ngữ thôi.

    Có một điều đặc biệt cần ghi nhận là ông ta nói về biểu tượng màu sắc. Chẳng hạn, Phật A Di Đà có sắc thân màu đỏ, Phật Thích Ca có sắc thân màu vàng, Phật Dược Sư có sắc thân màu xanh …vv…Mỗi màu sắc tượng trưng cho một năng lượng và diệu dụng khác nhau. Cũng nên nhớ rằng, tượng trưng không phải là hiện thực, ông Gyal Wang biến nó thành hiện thực trên mũ, trên áo là khôi hài.

    Cũng trong bài giảng pháp này (ở trang 28 dòng 8 sách Mandala) ông Gyal Wang thuyết giảng vô căn cứ rằng“Trong Kinh thừa không đề cập đến phương pháp quán tưởng này”.

    Tôi xin cung thỉnh Pháp Vương Gyal Wang Drukpa và Tăng đoàn tùy tùng sang Việt làm thính chúng. Tôi mạn phép làm thuyết trình viên nói về các pháp quán trong Kinh thừa, để quí vị bổ sung vào cái sở tri, sở kiến lầm tưởng cố hữu. Trong lúc chờ đợi, xin quí vị tạm thời nghe qua một số pháp quán trong Kinh Thừa như sau:

    -  Kinh Hoa Nghiêm có ba pháp quán:

    1. Chân Không quán
    2. Lý sự vô ngại quán
    3. Châu biến hàm dung quán

    -   Pháp Hoa tông có ba pháp quán:

    1. Không quán
    2. Giả quán
    3. Trung quán

    -   Thành thật tông có hai pháp quán:

    1. Ngã không quán
    2. Pháp không quán

    Ngoài ra còn nhiều pháp quán như: “Lục diệu pháp môn quán, Bát thắng xứ quán, Bát bối xả quán (các pháp quán này thuộc diện Luận Tông). Những pháp quán sau đây thường được học và được nhiều người thực hành:

    1. Tứ vô lượng tâm quán
    2. Ngũ đình tâm quán; pháp quán này có năm đề mục:
    • Bất tịnh quán
    • Từ bi quán
    • Nhân duyên quán
    • Giới sai biệt quán
    • Sổ tức quán

    3.  Biệt Tướng niệm xứ quán cũng có bốn pháp quán:

    • Bất tịnh quán
    • Thọ thị khổ quán
    • Tâm vô thường quán
    • Pháp vô ngã quán

    Những pháp quán này chỉ mới sơ lược về đề mục, nếu có dịp thuyết trình sẽ được triển khai ý nghĩa và thực hành cụ thể, và sẽ trình bày thêm nhiều pháp quán khác nữa.

    Đến đây, quý vị đã thấy lời thuyết giảng của ông Gyal Wang như người mù đọc sách chữ nổi, rồi thuyết trình với học giả hoặc ông ta như người mù cầm gậy dò đường về đất Phật?! Đáng tiếc thay!

    Ông Gyal Wang cần biết rằng, Phật Giáo Việt , sau một thời gian dài suy đồi; từ Lê – Nguyễn đến thời Pháp thuộc. Hai phần ba thế kỷ nay, việc chấn hưng Phật Giáo của quý Tăng sĩ và Cư sĩ đã đem lại những thành tựu thiết thực. Các trường từ Sơ cấp đến Học viện Đại học Phật Giáo có đủ. Pali tạng và Hán tạng cũng cụ túc. Các Tăng, Ni, Phật Tử có trình độ Đại học Phật Giáo không ít, có vị trí tuệ siêu việt như Thượng Tọa Tuệ Sỹ. Rất nhiều vị có học vị tiến sĩ như Thiền sư Trí Siêu, Thượng Tọa Nhật Từ, vv…

    Có lẽ, quý Ngài ấy không quan tâm đến những cuốn sách bình thường như Mandala này. Chỉ có người sơ căn, trí thiển như tôi mới tiếp cận, luận bàn và chấp bút mà thôi.

    Ông đến Việt mà phát biểu theo thiên kiến mơ hồ, không có cơ sở kiểm chứng rằng:

    - “Ngài là chủ hết thảy đạo sư”.
    - “Ngài Từ Bi hơn tất cả chư Phật và Bồ Tát”
    - “Tôi là người đã xa lìa tất cả bất tịnh ô nhiễm của tám món bận tâm thế tục”
    - “Kinh thừa không đề cập đến phương pháp quán tưởng này”.

    Những lời thuyết giảng như vậy, được ghi lại thành sách, người ta sẽ cho rằng ông Gyal Wang là, nói theo lời dân gian, hơi thô một chút: “Điếc không sợ súng”.

    “Người ngu biết mình ngu
    Nhờ vậy mà thành trí
    Người ngu tưởng có trí
    Thật xứng gọi chí ngu”
    Pháp cú kệ
    H.T Minh Châu dịch

     

    Quý thầy, quý cô thân,

    Nhìn hình ảnh trong cuốn Mandala của ông Gyal Wang thuyết giảng và tùy thuận in ra, tôi thấy quý vị đến dự pháp hội Quán đỉnh và nghe ông ta thuyết giảng khá đông đảo. Tôi có một vài suy nghĩ gởi đến quý vị.

    Phật giáo Việt đã hơn 2000 năm lịch sử truyền thừa. Các tông phái như Thiền Tông, Tịnh Độ tông cũng như Mật Tông đã hiện diện khắp nơi trên đất nước. Các pháp môn tu tập như Thiền quán, Sổ tức quán, và quán tưởng cảnh giới Cực Lạc niệm Phật hay trì danh niệm Phật đều được các cao Tăng truyền dạy khá đầy đủ, cũng có các vị dạy phương thức trì chú rất nghiêm mật trong sách vở cũng như hướng dẫn trực tiếp. Quý vị đã gia công thực hành chu đáo hay chưa?

    Tôi thấy trong hình có tính chất phô trương, thấy quý thầy, quý cô hương hoa tiếp rước, nghe giảng và thọ pháp quán đỉnh với ông Gyal Wang khá đông (h.t 190 - 215)

    Xin thưa rằng, ông ta là một người Tăng chẳng ra Tăng, tục chẳng ra tục, hình tượng giống như một giáo sĩ Bà La Môn. Đệ tử của Phật không có vị Tăng nào tóc dài và pháp phục sặc sỡ, nhiều màu sắc như thế. Quý vị pháp phục trang nghiêm (h.t 190), cúi đầu thọ pháp như vậy, có cảm thấy tổn thương Tông Môn và Thầy Tổ chăng?!!!

    Vẫn biết Phật Tính không có Nam Bắc, Đông Tây nhưng khi truyền pháp phải có lý sự viên dung, mới có thể thành tựu đàn tràng. Nếu quý vị là Tỳ Kheo, khi thọ giới thì Giới Thể và Giới Tướng đã cụ túc, gọi là Cụ Túc Giới, không thể thọ thêm giới pháp nào khác nữa.

    Giả dụ ông ta là một Bồ Tát hóa thân, thì phải “Trục loại tùy hình, ứng hiện sắc thân”. Nghĩa là ông ta phải thế phát, mặc pháp phục một vị Tăng, đệ tử Phật.

    Theo tôi, quý vị nên trở về Bản Môn, “hồi quang phản chiếu”, kiểm thúc thân tâm, phụng hành theo lời Thầy Tổ dạy:“Nội cần khắc niệm chi tâm, ngoại hằng bất tranh chi đức”, viễn ly các ác pháp như tham, sân, si… Chọn một pháp môn thích hợp với căn cơ mình, hành trì bất thối chuyển. Có công phu bất thối, thì sẽ có kết quả như sở nguyện, sở cầu, không cần phải tìm kiếm bên ngoài đâu xa. Thọ pháp với ông Gyal Wang một trăm lần đi nữa, cũng như nước xuôi qua cầu, chẳng có tác dụng gì đâu!

    Phương ngôn có câu: “Phật ở nhà không thiêng”, quý vị hãy chiêm nghiệm ý nghĩa trong câu này.

    Vì danh dự Tông Môn, Thầy Tổ, quý vị hãy coi đây là lời của một pháp lữ, không có ý thức dạy đạo, dạy đời.

    Xin quý thầy, quý cô hãy thức tỉnh và cảm thông.

    Nếu gặp người hiền trí

    Chỉ trách điều lỗi lầm

    Hãy tha thiết cầu thân

    Như người chỉ kho báu

    Kinh Pháp cú

    Tịnh Minh dịch

    Đến đây, xin được tiếp chuyện với hai vị học giả Nguyễn Tường Long và Vô Úy.

    Hôm nay hân hạnh được gặp quý vị trên văn đàn “Mandala”

    Rất tuyệt vời, quý vị là những nhà biên tập và dịch thuật “xuất sắc”, văn chương có cú pháp chặt chẽ, bóng bẩy, gợi cảm như nước chảy, mây trôi. Sau đây, tôi xin trích một vài câu, một số đoạn trong cuốn Mandala, ít câu trong bài pháp thoại để chứng minh và cùng thưởng thức:

    -  “Bậc Toàn Tri Tối Tôn Quý – Đức Pháp Vương Gyal Wang Drukpa đời thứ XII”

    -  “Còn hạnh phúc nào hơn! Trong biển khổ trầm luân vô định, thật may mắn cho những ai được quy y tu học dưới sự hướng đạo của bậc Thầy Tôn Quý, Đức Pháp Vương Gyal Wang đời thứ XII, Bậc Khai Sáng, lãnh đạo truyền thừa Drukpa quang vinh, hóa thân chân thật của Bồ Tát Quán Thế Âm.”

    -  “Thật may mắn cho đất nước Việt Nam nói chung, Phật Tử Việt Nam nói riêng, đã có phúc duyên ba lần được Ngài thăm viếng, trao truyền quán đỉnh, khẩu truyền và trực tiếp hướng đạo, dưới ân đức gia trì của Đức Pháp Vương Gyal Wang Drukpa.”

    -   “Ngài là bậc thầy giác ngộ, là hóa thân của chư Phật, chư Bồ Tát…xin quý Phật Tử hãy uống cạn dòng sữa pháp ngọt ngào, từ trái tim thấm đậm yêu thương của vị Bồ Tát để khôn lớn, để trưởng thành…”

    (Những đoạn trích trên đây trong “lời mở đầu” sách Mandala của Vô Úy)

    Xin tiếp tục:

    -  “…quán tưởng bậc Thầy đang truyền quán đỉnh cho chúng ta chính là Phật Dược Sư.” (t 27) (Đây là phương thức tự thần thánh hóa của ông Gyal Wang Drukpa)

    Thêm nữa, ở trang 28, ông ta lại giảng một cách thiếu căn cứ:

    -  “… trong Kinh thừa không có đề cập đến phương pháp quán tưởng này…”

    Để có một cái nhìn tổng thể, tôi xin trích thêm một số câu trong bài pháp thoại:

    -  “Ngài là chủ hết thảy Đạo Sư.”
    -  “Ngài từ bi hơn tất cả chư Phật và Bồ Tát”
    -  “…Tôi là người đã xa lìa tất cả bất tịnh nhiễm ô của tám món bận tâm thế tục.” vv…

    Có người khi đọc cuốn Mandala và bài pháp thoại trên, gạch đỏ dưới những dòng đã trích trên, đến với tôi nói rằng: “Chắc Nguyễn Tường Long, Vô Úy và ông Gyal Wang đã bị bệnh hoang tưởng hay loạn tưởng nặng rồi. Cần chữa trị mới được.” (Bài này có thể là một liệu pháp).

    Tôi thì không nghĩ như thế, song tưởng cũng nên ghi lên đây lời của ông Jean Claude Carrière (*) tán thán Đức Đạt Lai Lạt Ma  thứ XIV, trong cuốn “sức mạnh của đạo Phật” cho quý vị học tập để khi có dịp, viết hiện thực hơn, chứ không viết theo kiểu phóng đại, tô màu mang hình thức quảng cáo, người trí coi thường.

    “Tôi sinh năm 1931, hơn Ngài (Đức Đạt Lai Lạt Ma) 4 tuổi... Ngài là một đứa trẻ được chỉ định một cách huyền bí vào chức trách mà hiện nay Ngài đang nắm giữ, ấy vậy mà đôi khi, tôi có cảm giác rằng, người đàn ông đang đàm thoại với tôi, khi thì tươi cười, lúc lại đăm chiêu và thường thân mật nắm tay tôi, phải hơn tôi đến hai hoặc ba ngàn năm tuổi. Ngài mang trong mình cả một châu lục tư tưởng, hình ảnh, âm thanh, tình cảm của ngàn xưa, được duy trì qua thiền quán hàng ngày và vì thế mà luôn sống động” (t94 sđd)

    Đọc đoạn văn trên, ông Jean Claude Carrière không đề cập đến huyền thoại, huyền ký hay thần thánh gì cả. Nhưng tôi, cũng như người Tây Tạng, luôn thấy Ngài là một vị Phật sống.

    Riêng quý vị thì lại thổi phồng, cường điệu nhân vật Gyal Wang với nhiều nét thần thánh. Người có chánh tri kiến thì khó có thể tin tưởng và người sơ cơ lại mù quáng, mê muội tin theo…

    Quý vị nên đọc cuốn “Tự truyện Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV”, để thấy hội đồng Lạt Ma Trưởng Lão đi tìm Đức Đạt Lai Lạt Ma hóa thân một cách thiết thực và có kiểm chứng được. Và cũng nên đọc cuốn “Các Lạt Ma hóa thân”của Ngài Lobsang Ramba. Đây cũng là tự truyện của Ngài Lobsang Ramba. Ngài là con thủ tướng Tây Tạng thời Đức Đạt Lai Lạt Ma XIII. Ngài xuất gia lúc 7 tuổi. Lobsang Ramba được Đức Đạt Lai Lạt Ma XIII chỉ định luyện thần nhãn và học y khoa để sau này làm thị giả cho Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV lưu vong (các Ngài Trưởng Lão Tăng đã tiên tri như thế).

    Hai cuốn sách này cũng có nhiều điểm huyền bí, nhưng rất hiện thực và tin tưởng được.

    Tất nhiên, tôi rất kính ngưỡng Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV và các đệ tử của Ngài, riêng các vị Lạt Ma ở Tây Tạng hiện nay ngoài tri kiến của tôi…

    Về sự truyền thừa của Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV, “lược sử Phật Giáo Ấn Độ” của Ngài Thích Thanh Kiểm ghi nhận như sau:

    “Các phái kế thừa của Ngài Atisha, sau dần dần loại bỏ giáo lý Hiển Giáo, chỉ chú trọng ở giáo lý Mật giáo, đi vào lối tác pháp cực đoan của Kim Cương thừa, nên Mật Giáo dần dần bị trụy lạc, tức Mật Giáo đi vào con đường dị đoan của Tà đạo… May có Ngài Tôn Khách Ba (Tson Kha Pa) cải cách Mật Giáo. Ngài nghiêm trì giới luật, đưa hệ thống Mật Giáo thành một tổ chức mới. Hệ thống phái cải cách này, gọi là Hoàng Mạo phái (phái Mũ Vàng). Còn phái cũ gọi là Hồng Mạo phái (phái Mũ Đỏ. Đúng rồi, ông Gyal Wang thuộc phái Mũ Đỏ này)

    Trước khi viên tịch, Ngài Tôn Khách Ba đem giáo pháp di chúc cho hai đệ tử Thượng thủ là: Da Lai Blama (Đạt Lai Lạt Ma) và Pan Chen Blama (Ban Thiền Lạt Ma).” (trang 243 – sách lược sử Phật Giáo Ấn Độ)

    Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV thuộc dòng truyền thừa này.

    Qua những phần đã bàn luận trên, tôi có vài dòng tổng kết ngắn gọn như sau:

    Dựa trên 32 hiện tướng của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát trong phẩm Phổ Môn chúng ta thường tụng, nhiều người lạm xưng là Quán Thế Âm hiện thân, Quán Thế Âm hóa thân. Nhưng trên thực tế, Thật tướng đức Quán Thế Âm không thấy, Tự tánh đức Quán Thế Âm không thấy thể hiện, chỉ thấy những người vì danh, vì lợi, lạm dụng phô trương, quảng cáo mà thôi.

    Chúng ta hãy nghe Ngài Tuyên Hóa giảng về tự tánh Quán Thế Âm:

    -  “Có một số người nói họ hành đạo Bồ Tát, nhưng đúng ra là họ cốt biểu diễn cho bà con thấy. Mỗi cử chỉ, mỗi lời nói ra, họ đều phô trương cho mọi người thấy chứ không phải chính họ” (nghĩa là không thực hành tự tánh Quán Thế Âm gì cả).

    -  “Người tu hành hãy hiểu rõ “sai một ly, đi một dặm”, phải tự nhắc mình dụng công đi đúng hướng, tránh rẽ ngang, khỏi đi vào đường bàng môn ngoại đạo và lâm vào tình trạng tà tri – tà kiến. Phải luôn giữ Chánh Tri Kiến thì chánh niệm mới hiện tiền”.

    Về Mật Giáo và Kim Cang Thừa, tôi không hiểu biết nhiều, xin ghi nhận thêm vài đoạn trong cuốn “Lược sử Phật Giáo Ấn Độ” của Ngài Thích Thanh Kiểm, trang 233, phần cuối trang để chúng ta cùng tham cứu:

    “Hệ thống “Chân Ngôn thừa” và “Kim Cương thừa” (Vajrayana) của Mật Giáo sau khi xuất hiện, thì tư tưởng Mật Giáo phát triển mạnh mẽ trên lãnh thổ Ấn Độ.  Trong hai hệ thống này, “Chân Ngôn thừa” thì chú trọng phần lý luận, nên kém phát triển ở phương diện thực tế, trái lại “Kim Cương thừa”, chú trọng phần thực tế, nên kém phát triển ở phương diện lý luận. Từ khoảng thế kỷ X trở về sau, vì “Kim Cương thừa” kết hợp với phái “Sàkta” của Ấn Độ Giáo (*), nên phái này bày đặt ra nhiều lối hành pháp theo tà giáo, dần dần đi vào vòng đọa lạc, lấy chủ nghĩa khoái lạc, dục vọng cho là diệu lý chí nhân, làm mất hẳn cái bản lai chân tướng của Phật Giáo”.

    “…Sự tướng của Mật Giáo như các cách tụng thần chú, quán Du Già vv… Không phải là lối tác pháp đặc biệt của Mật Giáo mà cũng là chịu ảnh hưởng tập tục cổ truyền của dân tộc Ấn Độ và Bà La Môn giáo. Thí dụ như pháp Thiền định của Phật Giáo thì chú trọng ở chỗ đạt tới trí tuệ, nhưng phép quán Du Già của Mật Giáo lại chú trọng ở mục tiêu cầu phúc, trừ tai hoạ cho thế gian”.

    Sau hết là sự quan hệ mật thiết giữa phái Sàkta (tính lực phái) của Ấn Độ Giáo, và phái “Kim Cương thừa” (Vajrayana) của Mật Giáo. Nguyên lai phái Sàkta thì sùng bái nữ thần Durga, nghi thức của phái này rất bí mật, có nhiều trò ma thuật, nhiều hình thức dâm đãng. Sau lối hành pháp của phái này lạm nhập vào lối hành pháp của “Kim Cương thừa” nên phái Kim Cương thừa dần dần bị đọa lạc vào vòng tà đạo, và cũng là nguyên nhân đọa lạc của Mật Giáo.

    Sự giao thiệp giữa Mật Giáo và Ấn Độ giáo cứ mỗi ngày mỗi rõ rệt, một mặt thì Mật Giáo tiếp nhận các yếu tố hành pháp của Ấn Độ Giáo, một mặt thì Ấn Độ Giáo tiếp nhận các lối hành pháp của Mật Giáo, nên hai giáo phái trở thành một trạng thái hỗn hợp khó thể phân biệt rõ ràng. (t231 – 232)

    Để đúc kết bài nhận định này, tôi ghi lên đây lời phê ngắn gọn, súc tích của Hòa Thượng Trí Quang, khi Ngài dịch và giới thiệu tập “Đại Thừa Khởi Tín Luận” của Ngài Mã Minh để chúng ta hãy cùng suy ngẫm: “Khi Mật Tông thịnh hành thì Đại Thừa trở thành tào tạp.”

    Tôi là người có căn sơ, trí thiển, “Lời quê góp nhặt dông dài”, luận bàn có chỗ nào “bất tương ưng”, xin quý vị cao minh hỷ xả.

    “Đạo khả đạo phi thường đạo”
    “Danh khả danh phi thường danh”

    Lão Tử

    “Mai sau tín chủ nào nghe
    Tìm lên xin hỏi một bè mây xanh”

    Huế, mùa An Cư Tân Mão, 2011

    THÍCH NGUYÊN LIỄU

    Kính bút.

    Chú thích:

    (*) Jean Claude Carrière, người viết cuốn sách “Sức mạnh của Đạo Phật”, là nhà văn đồng thời là nhà soạn kịch, nhà viết kịch bản phim. .. Ông đã viết kịch bản cho hơn 60 bộ phim và là nhà văn có khối lượng tác phẩm đồsộ. Năm 1983, ông đạt giải thưởng  César dành cho phim có kịch bản hay nhất. Với những đóng góp nghệ thuật, ông đã được nhà nước Pháp tặng huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh.

    (*) Bà La Môn Giáo, Ấn Độ Giáo và Hindu là một, do biến thiên của từng thời đại mà có tên gọi khác nhau.

    (*) Tha phương thử giới

    Trục loại tùy hình
    Ứng hiện sắc thân
    Diễn dương diệu pháp
    Ngài Quy Sơn

    Phương này, phương kia, tùy hình thể chúng sanh mà Bồ Tát ứng hiện sắc thân cho phù hợp để diễn dương diệu pháp.

    SOURCE: TVNHS

    Read more »
RSS