Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Latest Articles


  • Chủ động cái chết để tái sinh trong một kiếp sống tốt đẹp hơn

     

    Chủ động cái chết để tái sinh trong một kiếp sống tốt đẹp hơn
    Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
    Dịch giả: Hoang Phong
    Người đọc: Hùng Thanh, Kiều Hạnh,
    Kim Phượng, Thy Mai, Ngọc Mỹ, Nam Trung
    chu dong cai chet dat lai lat ma
    Nội dung:
    1. Lời Mở Đầu Và Ý Thức Về Cái Chết
    2. Tự Giải Thoát Khỏi Sự Sợ Hãi
    3. Chuẩn Bị Cho Cái Chết
    4. Vượt Qua Những Chướng Ngại Cản Trở Một Cái Chết
    5. Tạo Những Điều Kiện Thuận Lợi Vào Giờ Phúc Lâm Chung
    6. Thiền Định Trong Khi Chết
    7. Cấu Trúc Bên Trong
    8. Ánh Sáng Trong Suốt Của Cái Chết
    9. Phản Ứng Trong Giai Đoạn Chuyển Tiếp
    10. Hướng Về Sự Tái Sinh Tích Cực
    11. Phụ lục: Bố Cục Bài Thơ Và Tóm Lược Những Lời Khuyên

     

    Read more »
  • Nhà sư trẻ gốc Việt trở thành “Cao tăng” Tây Tạng

    Nhà sư trẻ gốc Việt trở thành “Cao tăng” Tây Tạng

     
    Lati Rinpoche, trái, vị thầy được Ðức Ðạt Lai Lạt Ma giao nhiệm vụ dạy kèm các vị tái sinh, trong đó có Thầy Don, phải. Đây là điều đặc biệt vì nhà sư là người đầu tiên rời Hoa Kỳ qua Ấn Độ xuống tóc trong một tu viện Tây Tạng vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, khi mới 12 tuổi. Đặc biệt hơn nữa, đây là người Việt Nam đầu tiên được truyền thừa trong lịch sử hơn ngàn năm của Phật giáo Tây Tạng.
     
    CTTTGV_01.jpgCTTTGV_02.jpg
    Kusho Tenzin Drodon. Cháu ruột của MC Nam Lộc và nhà văn Nhã Ca, chủ nhiệm nhật báo Việt Báo.  Sinh tại Quận Cam, ở miền Nam California trong một gia đình khá giả, lên tám tuổi, cậu bé họ Phạm đã muốn trở thành một Geshe Tây Tạng.

    Mà Geshe là gì?
     Geshe là học vị trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, tương đương với bằng Tiến Sĩ về Phật học của Tây phương. Bình thường ra thì phải mất hai chục năm mới xong và nhiều người không xong nổi. Thế giới hiện chỉ có chừng 200 vị Geshe thôi.
    Muốn được thành một Geshe thì phải thấm nhuần năm ngành học là Bát Nhã Ba La Mật (Prajnaparamita), Trung Quán Luận (Madhyamika), Giới Luật (Vinaya), A Tỳ Đạt Ma Luận (Abidharma) và Lý luận căn bản (Pramana Vidya).
    Thấm nhuần ở đây là phải nhập tâm, bằng Tạng ngữ, trong vài chục năm tu tập gian nan, hầu có thể ứng đối tranh luận trong mọi tình huống về mọi chủ đề trong các cuộc khảo hạch thường xuyên và từ đó đi hoằng pháp cho nhân thế.
    Đã vậy, từ thấp lên cao, học vị Geshe còn có bốn cấp là Dorampa, Lingtse, Tsorampa và cao nhất là Lharampa và trung bình thì phải sáu năm mới lên tới cấp tối ưu.
    Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, Kyabje Lati Rinpoche, được Đức Đạt Lai Lạt Ma yêu cầu hướng dẫn chú bé gốc Việt họ Phạm
    Vị cao tăng Tây Tạng đã hướng dẫn chú bé họ Phạm là một Lharampa Geshe, một hóa thân của danh tăngGongkar Rinpoche.
    Ngài được tôn là châu báu trong hàng Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, pháp danh là Kyabje Lati Rinpoche, hiện là cố vấn về Lý luận (Tsen-shabs) của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Môn sinh của Tulku Lati Rinpoche thường chỉ là những nhà sư được xác nhận là báo thân của một cao tăng, một vị đạo sư, một Guru từ kiếp trước nguyện tái sinh để tiếp tục hạnh nguyện.
    CTTTGV_03.jpg
    Và Đức Đạt Lai Lạt Ma là người trực tiếp yêu cầu Tulku Lati Rinpoche dìu dắt chú bé.
    Vì sao một chú bé sinh trong một gia đình Việt Nam tại Hoa Kỳ lại được nhận vào tu viện Tây Tạng, rồi được chínhĐức Đạt Lai Lạt Ma trao phó cho một vị cao tăng hàng đầu của Ngài việc hướng dẫn tu học đó?
    Có lẽ phải đi từng bước để nhìn ra con đường học đạo của vị tăng người Việt này.
    Với người Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma là hóa thân của Đại Từ Đại Bi Bồ Tát Quán Thế Âm. Việt Nam ta quen gọi vị Bồ Tát ấy là Phật Quan Âm, vì vậy, nhiều người cũng gọi Ngài là Phật Sống Tây Tạng.
    Người Tây Tạng tôn Ngài là "Kundun" với ý nghĩa ấy.
    Trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, một Lạt Ma được coi là hiện thân của Phật, và Bồ Tát nguyện tái sinh để cứu độ chúng sinh. Bậc hóa thân ấy được tôn là Tulku ("Chu cô" theo cách phiên âm Hán-Việt). Danh hiệu Lạt Ma chỉ được dành cho những người giảng dạy giáo pháp và có thẩm quyền thực hành nghi lễ của Phật giáo. Trong số những người được chứng nhận là Lạt Ma, những vị uyên thâm và cao quý nhất thì được tôn là Rinpoche (nghĩa là "vô cùng quý báu").
    Trong hàng giáo phẩm và triều đình Tây Tạng, người ta thấy nhiều cao tăng được tôn vinh là Rinpoche.
    CTTTGV_04.jpg
    Bây giờ, chúng ta có Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 - một vị Phật Sống - ủy thác cho một Tulku Rinpoche việc dẫn đạo cho một nhà sư trẻ của Việt Nam...
    Nhà sư này phải có gì đặc biệt mà có lẽ người thường như chúng ta chưa thấy hết được.
    Cách đây bốn năm, nhật báo Orange County Register đã gửi một phái đoàn gồm hai nhà báo Anh Đỗ và Teri Sforza cùng đoàn nhiếp ảnh và truyền hình qua tận Ấn Độ để làm loạt phóng sự bốn kỳ về chú tiểu họ Phạm này. Người ta có thể tham khảo loạt bài được biên tập và trình bày công phu dưới tựa đề "The Boy Monk" tại trang nhà của tờ báo trong bốn số ra ngày 19 đến 22 tháng Giêng 2003.
    Từ ngày đó đến nay, việc tu học của nhà sư này đã có sự tăng tiến.
    Một người Mỹ xuất gia sang Ấn Độ tu Phật giáo đã là hiếm, nhưng vẫn có. Một người sinh tại Mỹ - thuộc thế hệ thứ nhì vì cha mẹ là người Việt tỵ nạn - thì lại hiếm hơn. Đây lại là người Mỹ đầu tiên được nhận vào tu viện Tây Tạng Gaden Shartse, trong tỉnh Mundgod của tiểu bang Karnataka ở miền Nam Ấn Độ để được tu học thành Sa Di. TênMỹ - Việt Donald Phạm đổi thành Konchog Osel.
    CTTTGV_05.jpg
    Người thân thì gọi là Kusho. Konchog có nghĩa là hiếm quý, Osel là tịnh quang, ánh sáng trong lành, và Kusho là một cao tăng.
    Thế rồi, sau khi khảo hạch thì chính Tulku Lati Rinpoche đã thỉnh Đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ thọ giới Cụ túc cho chú tiểu sa môn. Có mặt trong buổi lễ cử hành vào đúng ngày Phật Đản còn có bốn vị Rinpoche khác.
    Chú được ban pháp danh là Tenzin Drodon, nghĩa là "Người nắm giữ Phật pháp" (Tenzin) "cứu độ chúng sinh"(Drodon).
    Drodon là một pháp danh ít có trong hệ thống Tăng già Tây Tạng.
    Ngày nay, Phật giáo Tây Tạng có một nhà sư dung mạo sáng rỡ, nói sành sõi tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Tây Tạng với phương ngữ quý phái của Kinh đô Lhasa, ở bên kia đỉnh núi tuyết ngàn trùng.
    Vào mùa Xuân Đinh Hợi 2007, ở tuổi 21, Kusho sẽ thọ giới Tỳ Kheo với Đức Đạt Lai Lạt Ma, một điều kỳ lạ nữa. Trong lịch sử Tây Tạng, đây là người Việt đầu tiên được chính Đức Đạt Lai Lạt Ma truyền thừa và truyền giới.
    Có thể là sau này người ta mới được biết thêm rằng nhà sư trẻ cũng là hóa thân của một hành giả, nguyện tái sinh trong một gia đình Việt Nam tại Mỹ và tu học trong tu viện Tây Tạng tại Ấn vì lợi ích của chúng sinh.
    Ba vị cao tăng đã lần lượt hướng dẫn nhà sư là Lharampa Geshe Tsultim Gyeltsen tại tu viện ở Long Beach, làLharampa Geshe Lati Rinpoche, một vụ Tulku tại tu viện Gaden Shartse ở Ấn Độ và Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14.
      
    Bây giờ, chúng ta mới tìm hiểu về nhân vật này.
    Vừa ra đời, Donald Phạm đã chững chạc như người lớn. Chú bé là học sinh ưu tú, thích âm nhạc, viết văn, trượt nước và chơi Nitendo! Là học trò giỏi tại trường Aliso Viejo Middle School, chú bé đủ thứ game trong nhà và thừa điều kiện thành công trong một môi trường đầy cơ hội là Hoa Kỳ. Ước nguyện ban đầu của chú là thành nhà văn hay bác sĩ.
    Nhưng, khác mọi đứa trẻ cùng tuổi, chú ít nói, kín đáo nhìn mọi sự chung quanh và đặc biệt quan tâm đến người khác. Cha mẹ chú là những người khá giả và chăm sóc kỹ lưỡng tâm hồn các con. Mẹ chú sùng đạo từ khi còn ở Việt Nam.
    Tại Hoa Kỳ thì cả gia đình thường đến ngôi chùa Tây Tạng ở Long Beach, do Đức Đạt Lai Lạt Ma đặt tên làThubten Dhargye Ling, để tu học Phật pháp.
    Đây là một việc không dễ vì từ nhà đến chùa là 90 cây số và một tuần, gia đình lên chùa ba lần.
    Donald vào chùa là có phản ứng khác lạ.
    Tưởng đứa con lơ đãng nhìn quanh, bà mẹ ngạc nhiên vì chú nghe được hết và nói lại rành mạch những khái niệm rất lạ. Thí dụ như hiện tượng "tâm viên ý mã" trong lúc thiền định!
    Người lớn nghe đã thấy khó lãnh hội, huống hồ một đứa trẻ ở tuổi mẫu giáo!
    Năm chú lên bốn, bà mẹ đọc báo thấy có tin là vị Đạo sư Lati Rinpoche sẽ đến thuyết pháp ở Los Angeles.
    Quá mừng khi được cơ hội gặp vị cao tăng mà mình đã đọc lời giảng trong sách từ khi còn mang thai chú bé, bà dẫn chú đi nghe và năm đó Donald đã quy y với Tulku Lati Rinpoche!
    Khi chú lên năm, cô em kém chú hơn một tuổi bỗng khóc òa vì làm vỡ cái đĩa.
    Chú bé đứng cao hơn quầy bếp đã lên giọng trấn an:
    "Đừng lo, đó chỉ là đồ vật thôi. Nếu chấp vào vật nhỏ như vậy thì khi chết, làm sao cái tâm bỏ được cái thân này?"
    Rồi sau đó, thay vì là nhà văn hay bác sĩ, năm lên tám, chú muốn thành một Geshe!
    Thấy con mình có ý đi tu để thành Geshe, bà mẹ trình bày với vị Hoà thượng trụ trì tu viện Phật giáo Tây Tạng tạiLong Beach là Lharampa Geshe Tsultim Gyeltsen, thường được Phật tử quý mến gọi là Geshe La.
    Hoà thượng Geshe La khuyên là hãy kiên nhẫn tìm hiểu tâm tư chú bé đã.
    Cho con vào chùa là chuyện thường tình ở Á châu và Tây Tạng, nhưng chúng ta đang ở tại Hoa Kỳ, trong một khu vực trù phú lịch sự. Con đường tới chùa là một chặng đường khá xa cần phải tìm hiểu. Mà cách tìm hiểu hay nhất là chính họ phải qua tận Ấn Độ thăm viếng một ngôi chùa Tây Tạng đủ lâu để thấy hết tận mắt.
    CTTTGV_06.jpg
     
    Thày dạy, tu viện là một đại dương, có rất nhiều ngọc nga châu báu vật đấy nhưng cũng có cá mập.
    Hãy tìm hiểu rồi mới quyết định cho chú bé.
    Khi Donald Phạm lên chín, năm 1995, cha mẹ chú quyết định sang thăm tu viện, cách đó đúng là vạn dậm. Bước đầu là từ California bay qua Ấn Độ, rồi đi xe buýt leo đèo băng suối tới một tu viện trong khu định cư của người Tây Tạng tại Mundgod, thuộc tiểu bang Karnatala ở miền Nam Ấn Độ. Đó là tu viện Gaden Sharte của dòng Gelugpa Phật giáo Tây Tạng. Khu vực định cư cho dân tỵ nạn thường không là một vùng đất trù phú thịnh vượng. Sự nghèo khổ và thiếu thốn là quy luật chung. Huống hồ là nơi tu hành.
    Người viện trưởng của Tu viện chính là ngài Tulku Lati Rinpoche mà gia đình họ Phạm đã đọc rồi đã gặp tại Los Angeles.
    Phép sinh hoạt nơi đây là sự khắc khổ nghiêm ngặt. Mọi người thức giấc từ năm giờ sáng, chư tăng áo đỏ tụng kinh đến bảy giờ rồi ăn sáng. Thực đơn khác hẳn bữa điểm tâm trong một ngôi nhà khang trang ở Laguna Niguel tạiCalifornia. Bánh mì chấm trà có pha đường, bơ tẩm muối.
    Sau đó là học ngôn ngữ và tranh luận đến trưa.
    Quá ngọ là buổi học với các đạo sư cho đến chiều.
    Cơm tối là cháo. Xong cơm là học tiếp về Phật pháp qua tranh luận, có khi đến nửa đêm...
    Giáo trình đào tạo còn nặng hơn mọi trường tư thục ưu tú nhất của Mỹ!
    Và không có các màn giải trí qua truyền hình, chơi game, nghe nhạc từ DVD... Cũng không có quà vặt, máy giặt máy xấy, nước nóng phòng riêng...
     
    Làm sao cho con mình vào sống nơi đó?
    Gia đình ở lại 6 tuần và chú Donald Phạm cho biết là muốn học đạo ở nơi đây. Trường hợp của chú hiển nhiên đã được Geshe La và Tulku Rinpoche chú ý. Phải tìm lời giải trong phép khảo chứng bí truyền của Tây Tạng. Vị cao tăng thực hiện buổi lễ linh thiêng ấy chính là Tuku Rinpoche. Lời giải là chú bé này là một đứa trẻ đặc biệt, sẽ vào chùa thành một vị sư Tây Tạng. Donald Phạm cũng cảm thấy như vậy., Việc cháu Donald muốn đi tu đã gây nhiều phản ứng và tranh luận trong đại gia đình. Đầu tiên thì chị và em không muốn xa Donald. Còn ông ngoại thì hoàn toàn không vui! Điều ấy cũng thật dễ hiểu. Nhưng ý của chú đã quyết và cha mẹ cũng thông cảm và hỗ trợ nên mọi người quen dần với quyết định này.
    Gần bốn năm trôi qua, rồi vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, cả gia đình Donald Phạm đã theo Hoà thượng Geshe La quaẤn Độ. Chú sẽ ở lại nơi đây.
    Tết Nguyên Đán Kỷ Mão thì xuống tóc, trở thành Sa di Kusho Konchog Osel.
    Tu viện có 1.500 người cùng học nhưng chú được chính Đức Đạt Lai Lạt Ma ân cần phó thác cho vị Viện trưởng Tulku Lati Rinpoche trực tiếp hướng dẫn. Mọi người ân cần gọi chú là Kusho-la. Hai năm sau, Kusho được đưa lênDharamsala, miền cực Bắc Ấn Độ, vào học viện Lý luận Phật giáo, Institute of Buddhist Dialectics. Có 300 sinh viên, học viện này nằm gần thị trấn McLeod Ganj của Ấn. Thị trấn được gọi là "Little Lhasa", trụ sở của Chính quyền Lưu vong Tây Tạng, và học viện IBD là nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma thường giảng pháp.
    Trong học viện, tiểu Sa Di Kusho là người trẻ nhất và được chú ý vì khả năng lãnh hội lẫn tranh luận. Chú còn được khen là từ tốn khiêm nhường và thường trầm lặng trước mối quan tâm của truyền thông báo chí. Nhiều người đã luận rằng Kusho có thiện nghiệp để trở thành sư, và có phúc duyên được hướng dẫn bởi những vị cao tăng để theo đuổi Phật học đến chỗ thâm sâu.
    Ngày nay, Kusho đã thành một vị sư 21 tuổi, và Xuân này sẽ thọ giới Tỳ Kheo với chính Đức Đạt Lai Lạt Ma,thành Shakya Bikshu Tenzin Drodon.
    Trong khi ấy, gia đình ở nhà cũng thay đổi. Càng luống tuổi, ông ngoại của Kusho càng thấy ra hai lẽ. Phần mình, thì đời người quả là hữu hạn. Phần cháu ngoại Donald, thì việc cháu trở thành sư là một điều lành.
    Đầu năm 2007, ông cụ lâm trọng bệnh và từ Ấn Độ, Kusho trở về thăm ông, có thể là lần cuối. Hai ông cháu gặp nhau trong một cảnh ngộ cảm động. Được hỏi về chuyến thăm viếng, nhà sư trẻ giải thích là vì muốn cầu nguyện cho tâm của ông ngoại được thảnh thơi, vững mạnh, và buông xả hết mọi ưu phiền. Kusho không tin là mình có "thần lực" hay khả năng hộ niệm để ông "siêu sinh tịnh độ" như ta thường nói. Cháu chỉ muốn gặp ông, hàn huyên để ông vui với tuổi già, có cái nhìn lạc quan tích cực về mọi chuyện.
    Riêng mình, thì đứa cháu rất cảm động nghe ông nói, rằng mình mừng cho cháu đã đi tìm hạnh phúc trong sự tu tập, vì hạnh phúc thật là khi mưu cầu cho hạnh phúc của người khác. Hai ông cháu đã hoàn toàn cảm thông và cùng nhìn vào một hướng.
    Nói đến chuyện "thần lực" hay "hóa thân", đề tài kỳ diệu khi ta nghĩ đến Phật giáo Tây Tạng, Kusho cười hiền hoà và giải thích bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh: Không, chú không là hoá thân hay đang tu tập để có thần lực thi hành được những việc siêu nhiên. Việc tu tập để tìm thần lực hay khả năng siêu nhiên là điều sai. Nhưng, khi tu tập,Kusho thấy hay nghĩ "mình là ai?" Là một chú bé Việt Nam, một thiếu niên Mỹ hay một Sa Di Tây Tạng - Là tất cả!
     
    Ban đầu, khi ở trong Tu viện Gaden thì còn mơ hồ vì có lúc thấy mình là một thiếu niên Mỹ, một đứa trẻ Việt Nam, và nhất là khác lạ với chúng bạn người Tây Tạng chung quanh. Thế rồi một cách tiệm tiến và nhẹ nhàng tự nhiên, chú thấy mình tách rời với tất cả những "hành trang" ấy của quá khứ mà cảm nhận ra một sự thể gì bao nhiếp tất cả. Một sự an nhiên kỳ lạ khiến mình thấy thư thái và tự do hơn.
    Cảm giác gọi là "giải thoát" ấy xuất phát từ sự tu tập hay từ ý chí của mình?
    - Có lẽ, phép tu tập giúp cho ý chí ấy thành vững mạnh hơn và quan trọng nhất, giúp cho mình thấy được cách suy nghĩ tích cực và nuôi dưỡng nghị lực tích cực.
    Kusho suy nghĩ rồi nói bằng tiếng Anh: "Positive Energy". Nhưng, trong tu viện Gaden hay trong học viện ởDharamsala, Sa môn Kusho có biết hay được biết gì về thế giới bên ngoài không, về "đời sống thật" không? Ban đầu, trong tu viện thì chỉ học về kinh điển và phép luận giải, chứ qua học viện tại Dharamsala thì các học viên đều có thể xem truyền hình và đọc báo để biết về những gì đang xảy ra trên thế giới, Chính Đức Đạt Lai Lạt Ma đã muốn các học viên chứng đắc Phật pháp bằng cách hiểu được cộng đồng và thế giới.
    Ngoài ra, giáo trình của học viện chẳng khác gì nhiều nếu so với một Đại học tân tiến, học viên được giáo dục để biết về thế giới cũng như Phật pháp.
    Sau khi hoàn tất khóa học rất dài tại Dharamsala, Kusho sẽ trở lại tu viện Gaden và lúc ấy mới lại sống như một vị tăng trong chùa. Nhưng, khi biết rằng thế giới này "khổ" - vì nạn đói ở Phi Châu hay khủng bố tại Trung Đôngchẳng hạn - học viên nghĩ sao? Và muốn làm gì để giải trừ cái khổ ấy? Nhà sư trẻ suy nghĩ giây lát mới giải thích. Trước hết, những tin tức ấy có giá trị "khích lệ", là yếu tố càng thúc đẩy học viên phải tu tập để góp phần giải trừ cái khổ.
    Nhưng, nhìn từ các tu viện, cái khổ ấy có là một ý niệm trừu tượng xa vời của "chúng sinh" hay của người khác không? Thí dụ như một bác sĩ vẫn có thể chữa chạy cho bệnh nhân sau khi học về những triệu chứng hay hậu quả của bệnh. Một nhà xã hội cũng có thể học về khủng hoảng để góp phần giải quyết dù mình chẳng là nạn nhân... Liệu cảm nhận về cái khổ này có là một khái niệm tách bạch xa vời vì không trực tiếp liên hệ đến mình ở trong chùa hay trong học viện?
    Kusho tìm chữ diễn tả, cả Việt lẫn Anh, rằng sự hiểu biết về cái khổ ấy tác động rất mạnh vào tâm trí, nhưng theo hướng khác. Ý thức về những vấn đề ấy khiến mình càng thêm tin tưởng vào Phật pháp và càng thôi thúc mình làm một cái gì đó để cứu giúp người khác. Đây cũng là bước cần thiết để chứng nghiệm đức tin của mình.
    Nếu tu học để thành sư mà không nghĩ đến việc giúp đỡ người khác thì là một sự lãng phí!
    Phật giáo Tây Tạng rất chú ý đến việc tu dưỡng Bồ Đề Tâm, đến Bồ Tát Hạnh và coi việc giúp đỡ người khác là một bổn phận trọng yếu, một phần không thể tách rời trong đức Từ Bi của người Phật tử. Nói đến người khác, Kushocó nghĩ đến người Việt và Phật giáo Việt Nam không?
    Vị Sa môn trẻ này cám ơn mẹ cha là những Phật tử đã khuyến khích và giúp đỡ mình trên con đường học đạo. Chính là tấm lòng yêu thương của bà mẹ đã khiến chú cố gắng tu tập để có thể làm tròn bổn phận với Việt Nam. Vì vậy, sau giai đoạn tu chứng, nhà sư trẻ còn phải đi một bước rất xa là học hỏi thêm về Việt Nam và Phật giáo Việt Nam.
    Phật giáo Tây Tạng theo Kim Cang Thừa (Varayana) của Đại Thừa Mahayana, nhưng cũng áp dụng phép tu có đặc tính Mật Tông và cả Bồ Tát Hạnh trong những giáo lý nền tảng của Phật giáo Nguyên thủy Theravada.
    Vì vậy, trong giáo trình đào tạo và tu học, các học viên đều phải thấm nhuần những lý giải Tiểu Thừa hay Nguyên thủy.
    Sau này, Kusho sẽ học thêm về những đặc tính đa diện của Phật giáo Việt Nam và phải thông thạo tiếng Việt để tiếp xúc với Phật tử người Việt. Một con đường rất dài... Khi viết, Kusho xử dụng cả hai tay, trái và phải, để viết chữ Tây Tạng hay tiếng Anh. Khi học, có lẽ cũng phải nhớ đến tương lai là tìm đến Phật giáo Việt Nam. Vả lại, chính Đức Đạt Lai Lạt Ma đã căn giặn như vậy.
    Hôm đó, sau khi được Ngài truyền giới, vị tiểu sa môn được Đức Đạt Lai Lạt Ma gọi riêng ra chụp chung tấm hình.
    "Con giữ tấm hình này cho quê hương con. Cho nước Việt Nam".
     
    CTTTGV_07.jpg
     
    Kusho treo tấm hình trong trai phòng tại học viện, như một nhắc nhở hàng ngày.
    Việc nhà sư Tenzin Drodon này sẽ chứng đắc học vị Geshe có thể chỉ là thời gian vì tâm nguyện như vậy.
    Nhưng, việc một người có tâm hồn và giáo dục Việt Nam được tu học thành nhà sư Tây Tạng mới là một hạnh ngộ hiếm hoi.
    Lời khuyên của Tulku Lati Rinpoche là Kusho hãy cố gắng tinh tấn tu học để trở thành một sa môn đầy đủ Bồ Tát Hạnh là Bi, Trí, Dũng để hoằng pháp lợi sanh cho nhân thế.
    Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rõ hơn trong từng buổi gặp gỡ: "Đừng quên Việt Nam. Lòng từ bi và trí tuệ của con sẽ giúp ích rất nhiều cho quê hương con."
    Pháp danh Drodon quý hiếm này, có lẽ Ngài chọn cho Kusho để hướng tới trách nhiệm với Việt Nam.
    Sông Mekong xuất phát từ vùng đất Kham đã tái sinh của hai vị cao tăng Tây Tạng là Gehse La và Tulku Rinpoche. Nơi con sông này đổ ra biển chính là Việt Nam.

    Phải chăng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thấy vạn sự từ đầu nguồn tiền kiếp, mà chưa đến lúc nói ra?

    Read more »
  • BA LẦN CẢNH CÁO KHI SẮP NHẬP NIẾT BÀN CỦA PHẬT THÍCH CA

    BA LẦN CẢNH CÁO
    KHI SẮP NHẬP NIẾT BÀN CỦA PHẬT THÍCH CA
    Thích Duy Lực

     

    Lúc bấy giờ Đức Thế Tôn từ Sơ thiền rồi Nhị Thiền, Tam thiền lần lượt thuận nghịch như vậy ra vào chín bậc thiền định xong, nói với đại chúng rằng:

    "Ta dùng Bát Nhã thâm sâu quán khắp tất cả lục đạo trong tam giới, căn bản tánh lìa, cứu cánh tịch diệt, đồng với tướng hư không, vô danh vô thức, tình chấp đoạn diệt, vốn là bình đẳng, chẳng cao chẳng thấp, chẳng thấy chẳng nghe, chẳng tri chẳng giác, chẳng thể trói buộc, chẳng thể giải thoát, vô chúng sanh, vô thọ mạng, chẳng sanh chẳng khởi, chẳng tận chẳng diệt, phi thế gian, phi phi thế gian, Niết bàn sanh tử đều bất khả đắc, nhị tế (trước, sau) bình đẳng, các pháp bằng nhau, việc làm đồng như chẳng làm, cứu cánh yên tịnh. Từ pháp vô trụ, hành theo pháp tánh, dứt tất cả tướng, chẳng có một vật, pháp tướng như thế, đều bất khả đắc. Những kẻ biết được gọi là người xuất thế gian; việc này chẳng biết gọi là sanh tử bắt đầu. Các người cần phải đoạn dứt vô minh, diệt sự bắt đầu của sanh tử."

    Lại nói với đại chúng rằng:

    "Ta dùng Ma Ha Bát Nhã quán khắp hữu tình vô tình trong Tam giới, tất cả người và pháp đều là cứu cánh, chẳng có kẻ trói buộc, chẳng có người giải thoát, vô trụ vô y (chẳng nơi nương tựa) chẳng thể nhiếp trì, chẳng vào tam giới, chẳng ra tam giới, vốn là thanh tịnh, chẳng cáu bẩn, chẳng phiền não, bằng như hư không, bất bình đẳng, phi bất bình đẳng, tất cả tư tưởng động niệm trong tâm đều ngưng nghỉ, pháp tướng như thế gọi là Đại Niết Bàn, chơn thật thấy được pháp này gọi là giải thoát, phàm phu chẳng thấy gọi là vô minh."

    Nói xong nhập Siêu thiền lần thứ ba, từ Sơ thiền cho đến Diệt Tận Định, rồi từ Diệt Tận Định trở ngược lại cho đến Sơ thiền, thuận nghịch như vậy vào Siêu thiền xong, lại nói với đại chúng rằng:

    "Ta dùng Phật nhãn quán khắp tất cả pháp trong tam giới, thực tế của vô minh, tánh vốn giải thoát, tìm khắp mười phương đều bất khả đắc. Vì căn bản của vô minh chẳng có, nên nhánh lá của vô minh đều saün giải thoát; vì vô minh giải thoát nên lão tử đều được giải thoát. Do nhân duyên này, nay ta an trụ nơi Thường Tịch Diệt Quang (ánh sáng thường tịch diệt), gọi là Đại Niết Bàn."

    Lời cảnh cáo kể trên là lời khai thị do lòng đại bi bất khả tư nghị của Đức Phật nói ra. Kẻ gặp được sự dạy bảo này, nên lấy xương mình làm bút, lột da mình làm giấy, chích máu mình làm mực, viết ra để bên cạnh mình, chẳng nên giây phút tạm quên, chẳng nên sát na mất sự chiếu soi.

    Ví như trong lần khai thị thứ nhất rằng: "Quán khắp tất cả chúng sanh lục đạo, núi sông đất đai trong tam giới, căn bản tánh lìa, cứu cánh tịch diệt."

    Lời khai thị thứ nhì: "Quán khắp hữu tình vô tình trong tam giới, tất cả người và pháp đều là cứu cánh."

    Lời khai thị thứ ba: "Quán khắp tất cả các pháp trong tam giới, thực tế của vô minh, tánh vốn giải thoát."

    Cho nên, khắp pháp giới, tận mười phương, tất cả hữu tình, vô tình, hữu tánh, vô tánh, núi sông đất đai, cỏ, cây, người hay súc vật, chẳng ở trong tam giới, chẳng ngoài tam giới; chẳng theo sanh tử, chẳng trụ Niết Bàn, đều đồng một chơn như, nhất tâm diệu tánh. Tín giải như thế, đốn vào Nhất Thừa, ngoài ý chỉ kể trên chẳng có bí quyết nào vậy.

    Hỏi: “Theo tục đế thì thánh phàm khác nhau, phàm phu vọng chấp thấy nghe, ngoài tâm kiến lập các pháp, bậc Thánh đã liễu ngộ nhất tâm, lại sao lại đồng thấy nghe như phàm phu?

    Đáp: “Bậc Thánh dù có thấy nghe, nhưng chẳng có chấp trước, luôn luôn diễn đạt vạn vật chẳng thật, đồng như huyễn hóa”. 

    Như Kinh Đại Niết Bàn, Bồ Tát Ca Diếp bạch Phật rằng: “Thế Tôn, nếu phiền não từ điên đảo tưởng sinh ra, thì tất cả các bậc Thánh đều thật có điên đảo tưởng, mà tại sao chẳng có phiền não, vậy nghĩa này là thế nào ?”. 

    Phật hỏi: “Tại sao nói bậc Thánh có điên đảo tưởng ?”. 

    Ngài Ca Diếp nói: “Thế Tôn, tất cả bậc Thánh thấy trâu cũng gọi là trâu, thấy ngựa cũng gọi là ngựa, thấy nam nữ, lớn nhỏ, nhà cửa, xe cộ và khứ lai đều cũng vậy, thế là điên đảo tưởng rồi !”.

    Phật nói : “Phàm phu có hai thứ tưởng, một là thế lưu bố tưởng (thế gian phổ biến lưu hành), hai là trước tưởng (tư tưởng chấp thật). Bậc thánh chỉ có thể lưu bố tưởng, chẳng có trước tưởng. Phàm phu vì sự cảm giác sai lầm, nơi thế lưu bố mà sinh ra trước tưởng, bậc Thánh vì hay chiếu soi thật tướng; nơi thế lưu bố chẳng sinh trước tưởng, nên phàm phu gọi là điên đảo tưởng bậc Thánh dù biết nhưng chẳng gọi là điên đảo tưởng. Lại cảnh vốn tự không, đâu cần phải phá hoại sắc tướng rồi mới là không ! Vì chơn tâm của bậc Thánh thường tự chiếu, chẳng nhờ nhân duyên mới sinh khởi, phàm phu thì chấp trước tri kiến, có năng có sở”. Nên Triệu Luận nói : “Hễ có sở tri thì có sở bất tri, chơn tâm của bậc Thánh vô tri nên vô sở bất tri, cái tri của bất tri mới được gọi là Nhất thiết tri”.

    Vậy kinh nói: “Chơn tâm của bậc thánh vô tri, vô sở bất tri là đáng tin lắm. Cho nên bậc thánh nơi tâm trống rỗng mà sự chiếu soi chẳng thiếu sót, suốt ngày tri mà chưa từng tri là vậy. Cũng như nước trong thì thấy bóng, đâu có sinh tâm năng sở, cảnh và tâm đều không, chẳng có cái tư tưởng giác tri”.

    Trong kinh Lăng Già, Phật nói với Bồ Tát Đại Huệ rằng: “Cảnh thế gian như bóng tượng trong gương, và cảnh giới chiêm bao, nhưng chẳng phải trước mắt của bậc thánh không có cảnh thế gian. Phàm phu vì tư tưởng mê lầm nên đuổi theo cảnh chấp thật, gọi là vô minh điên đảo, chẳng phải minh trí. Bậc Thánh thấy cảnh đồng như phàm phu, mà chẳng có tâm niệm chấp trước, nên chẳng gọi là điên đảo”.

    Giải thích rằng: Như thí dụ kể trên tỏ rõ cảnh chỉ có một, mà sự thấy có khác. Bậc Thánh chẳng phải không thấy cảnh thế gian, mà khi thấy đồng như thấy mặt trăng trong nước và bóng tượng trong gương vậy.

    Hỏi: Sự thấy của phàm phu có năng thấy sở thấy, nên tâm và cảnh rõ ràng, vậy thì so với sự thấy của bậc Thánh làm sao phân biệt?

    Đáp: Sự thấy của bậc Thánh Có và Không đồng thời chiếu soi, trong ngoài chẳng trụ, như tiếng dội trong hang, bóng hiện trong gương mà chẳng khởi tâm tác ý, sáng tỏ nhiệm mầu, tịch mà thường chiếu, nên nói là thường ở trong chánh niệm, cũng gọi là chánh tri. Kỳ thật, chẳng phải hữu niệm hữu tri, cũng chẳng phải vô niệm vô tri. Nếu chỉ vô niệm thì tịch mà mất sự chiếu soi, nếu chỉ có chiếu soi thì chiếu mà mất sự thường tịch, cả hai đều chẳng chánh. Chánh là ở chỗ Tịch và Chiếu đi song song với nhau.

    Trong Hoàn Nguyên Tập nói : “Tự tánh khởi chiếu, chiếu soi tất cả, liễu liễu tri mà vô sở tri, liễu liễu kiến mà vô năng kiến, trong ngoài sáng tỏ,cùng khắp pháp giới, cũng gọi là vô chướng ngại, nhãn của Phật Tỳ Lô Giá Na, tràn khắp mười phương chiếu soi tất cả quốc độ Phật” tức là nghĩa này vậy.

    Lại nói: Tâm hay làm Phật, hay làm chúng sinh, hay làm thiên đàng, hay làm địa ngục, hễ tâm có sai biệt thì muôn ngàn cảnh giới sinh khởi, hễ tâm bình đẳng thì pháp giới trống rỗng yên tịnh. Tâm phàm thì tam độc nổi lên, tâm thánh thì lục thông tự tại, tâm không thì nhất đạo trong sạnh, tâm hữu thì muôn cảnh tung hoành, như tiếng vang trong hang, lời hùng dội tiếng mạnh, như gương soi tướng, hình lõm hiện bóng co, thế thì biết vạn hạnh do tâm, tất cả tại ta. Bên trong hư thì bên ngoài chẳng thật, bên ngoài tế thì bên trong chẳng thô, thiện nhân tất gặp thiện duyên, ác hạnh khó tránh ác cảnh, sự vui  của thiên đàng, sự khổ của địa ngục đều là tự tâm làm ra, chẳng phải người khác lãnh thọ, chẳng do trời sinh, chẳng do đất mọc, chỉ tại nhất niệm ban đầu của mình, nên có sự thăng trầm như thế.

    Muốn được bên ngoài an hòa thì bên trong cần phải bình tĩnh, tâm không thì cảnh tịch, niệm khởi thì pháp sinh, nước đục thì làn sóng đen tối, nước trong thì bóng trăng sáng tỏ. Sự cần thiết của người tu hành đều chẳng ra ngoài những việc kể trên, gọi là cửa ải của chúng diệu, cũng là quê nhà của vạn linh, căn bản của thâm trầm và nguồn gốc của họa phước. Chỉ cần tự tâm luôn luôn được chánh niệm, đâu thể nghi ngờ cảnh giới bên ngoài ! Cho nên, hễ lìa được tội hạnh, phước hạnh, bất động hạnh của chúng sinh, thì chẳng có quả báo khổ vui của tam giới, hễ lìa được kiến văn giác tri của chúng sinh thì đâu có cảnh giới của ngũ uẩn, lục căn, lục trần và lục thức! Nên biết, mê ngộ do thức, nhiễm tịnh do tâm, ấy cũng là mục tiêu của tiền triết hậu học, chỉ thị của muôn ngàn Kinh Luận vậy.

    Trong kinh Lăng Già có bài kệ rằng: “Tâm niệm như nắm đất, làm ra như chén bát (chén bát dụ cho chúng sinh, nắm đất dụ cho tự tâm), mỗi thứ dụ khác nhau, tất cả do tâm tạo”. Nếu nhất niệm chẳng sinh thì các duyên tự dứt, nên nói: “Nhất niệm tâm chẳng sinh thì các duyên tự dứt, nên nói: “Nhất niệm tâm chẳng sinh, vạn pháp không sai”. Hiện nay, hoặc tham sinh sợ chết; hoặc lo sống lo già; hoặc bỏ vọng bỏ thân, tùy theo tư tưởng mà tạo tác, nghiệp quả xoay chuyển mãi không dừng. Nếu liễu đạt sinh tử vô sinh, vọng tức vô vọng, một niệm tâm tịch, vạn lự (tất cả tâm và pháp) đều tiêu. Vậy thì biết hễ tâm ngộ là xong, chẳng còn pháp nào hơn nữa.

    Nguồn: TT. Thích Đồng Thường gửi (http://old.thuvienhoasen.org)

    Read more »
  • Lời Dạy Của Đức Drubwang Konchok Norbu Rinpoche Vế Việc Ăn Thịt

     

    LỜI DẠY của ĐỨC Drubwang Konchok Norbu Rinpoche 
    VỀ VIỆC ĂN THỊT 
    Konchok Tenzin Drolma dịch sang Anh ngữ 
    Shen Shian hiệu đính văn phạm và phân đoạn. Liên Hoa Việt dịch

    Ngày 8 tháng 12 năm 2003 tại Chùa Than Hsiang, Peang, Malaysia trong Khóa Nhập thất Trì tụng 100 Triệu Thần chú Sáu-Âm

    1. Là Phật tử, chúng ta thực hành để làm lợi lạc cho bản thân và những người khác. Vì thế, chúng ta thực hành trì tụng thần chú Sáu-Âm (Om Mani Padme Hung). Tuy nhiên, khi chúng ta ăn thịt – thịt gà, thịt heo, cá hay trứng trong đời sống hàng ngày của ta, chúng ta đang tạo vô số nghiệp xấu.

    2. Nếu một mặt, chúng ta trì tụng thần chú và mặt khác, chúng ta ăn thịt chúng sinh, thì như thế lời nói và hành động của chúng ta không đi đôi với nhau. Chúng ta không thực hành như ta đã thuyết giảng. Điều này có thể được coi là lòng từ ái và bi mẫn đối với chúng sinh? Đây có phải là làm điều tốt và tránh làm điều xấu? Chúng ta quy y Phật là bởi Giáo Pháp của Ngài có thể làm lợi lạc tất cả chúng sinh. Là Phật tử, chúng ta nên thấu suốt cốt tủy của trí tuệ và giáo lý của Đức Phật, đó là làm điều tốt và tránh không phạm vào những điều ác. Tránh làm điều ác có nghĩa là ta phải tuân giữ những giới luật. Vì thế chúng ta không nên ăn thịt.

    3. Khi chúng ta bệnh, già hay gần chết, chúng ta đi bác sĩ – ta thực hành và làm mọi điều có thể và kéo dài thọ mạng của ta. Tuy nhiên, khi ta ăn thịt, ta đang giết chết những chúng sinh đang còn khỏe mạnh. Lòng bi mẫn và từ ái của ta vĩ đại ra sao nếu ta đối xử với chúng sinh theo cách thức như thế? Ta nên tránh sát sinh bởi điều đó phát sinh vô số nghiệp xấu. Thay vào đó, ta nên phát triển lòng từ ái và bi mẫn đối với tất cả chúng sinh.

    4. Trong vô số lần tái sinh, tất cả chúng sinh đã từng là cha mẹ của ta. Khi ta tái sinh trong loài người, ta có những cha mẹ trong nhân loại; khi ta tái sinh trong loài thú, ta có những cha mẹ súc sinh và v.v.. Luân hồi sinh tử là như thế. Chúng ta cần phát triển một ý thức về lòng biết ơn đối với cha mẹ trong đời này và những cha mẹ của ta trong những đời quá khứ. Vì thế, chúng ta nên là những người ăn chay và tránh dùng thịt. Theo cách thức đó, chúng ta làm điều tốt lành và mang lại ý nghĩa cho việc thực hành của ta. Nhờ làm như thế, việc thực hành thần chú Sáu-Âm của ta sẽ có thể làm lợi ích cho bản thân ta và những người khác, và cũng trợ giúp cho việc phát triển Giáo Pháp.

    5. Một số người nói rằng bác sĩ khuyên họ đừng ăn chay, bởi họ sẽ bị suy sinh dưỡng. (Sự thật là thực đơn chay quân bình thì tốt hơn một thực đơn không-chay nhiều.) Đây là một dấu hiệu cho thấy sự quyết định của những người này không đủ mạnh mẽ. Bởi nếu họ có quyết định mạnh mẽ thì họ sẽ tránh làm những ác hạnh bằng mọi giá và trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

    6. Vì thế trong đời sống hàng ngày của ta, ta nên tránh phạm vào ác hạnh ăn thịt. Trên nền tảng này, những công đức phát sinh từ việc quy y và thực hành thần chú Sáu-Âm của ta sẽkhông thể tưởng tượng nổi. Chúng ta nên nỗ lực thay đổi cách sống để thành người ăn chay. Chắc chắn là ta sẽ gặp những khó khăn khi trở thành những người ăn trường chay. Tuy nhiên, khi những chướng ngại như thế xuất hiện, ta nên nhớ tưởng mỗi một chúng sinh vào một lúc nào đó đã từng là cha mẹ của ta ra sao. Khi nhớ tới điều đó, ta sẽ không ăn thịt giống như ta không ăn thịt cha mẹ ta trong đời này.

    Nguyên tác: “Teachings by His Eminence Drubwang Konchok Norbu Rinpoche about Meat-Eating” 
    http://myhealinghands.com.sg/thedharma/teachingsbyhiseminencedrubwangkonchok.htm 
    Konchok Tenzin Drolma dịch sang Anh ngữ, Shen Shian hiệu đính văn phạm và phân đoạn. 

    Bản dịch Việt ngữ của Liên Hoa

    Teachings by His Eminence Drubwang Konchok Norbu Rinpoche about Meat-Eating 
    on 8 Dec 2003 at Than Hsiang Temple, Penang, Malaysia 
    during 100 Million Six-Syllable Mantra Recitation Retreat

    1. As Buddhists, we practiced so as to benefit oneself and others. Hence, we do the six-syllable (Om Mani Pad Me Hung) mantra practice. However, when we eat meat - be it chicken, pork, fish or eggs in our daily lives, we are creating immense negative karma. 

    2. If on the one hand, we chant the mantra and on the other hand, we eat the meat of another sentient being, then our words and actions do not tally with one another. We are not practicing as we preached. Can this be considered as loving-kindness and compassion towards sentient beings? Is this doing good and abstaining from evil? We take refuge in the Buddha because His teachings could benefit all sentient beings. As Buddhists, we should understand the essence of the Buddha's wisdom and teachings, which is to do good and abstain from committing evil deeds. Abstaining from evil means that we have to keep our precepts. Hence we should not take meat. 

    3. When we are sick, old or near death, we would go to a doctor - we would practise and do anything possible and extend our life span. However, when we take meat, we are killing sentient beings that are healthy. How great is our compassion and loving-kindness if we treat sentient beings in such a manner? We should abstain from killing because it generates immense negative karma. Instead, we should develop loving-kindness and compassion towards all sentient beings. 

    4. In countless rebirths, all sentient beings have been our parents. When we took rebirth in the human realm, we had human parents; when we took rebirth in the animal realm, we had animal parents and so forth. Samsara is such. We need to generate a sense of gratitude towards our parents in this lifetime and those of our past lives. Hence, we should be vegetarians and abstain from taking meat. In such a way, we would do good and give meaning to our practice. By doing so, our practice of the six-syllable mantra would be able to benefit ourselves and others, and also aid in the flourishing of the Dharma. 

    5. There are some people who say that their doctor has advised them against becoming vegetarians, as they would suffer from malnutrition. (The truth is a balanced vegetarian diet is much better than a non-vegetarian diet.) This is a sign that the determination of these people is not strong enough. For if one has strong determination, one would avoid doing evil deeds at all cost and under any circumstances. 

    6. Hence in our daily lives, we should stop committing the negative deed of eating meat. On this basis, the merits generated from our refuge and practice of the six-syllable mantra would be inconceivable. We should try to change our lifestyle towards vegetarianism. We would certainly face difficulties in becoming full vegetarians. However, when such obstacles arise, we should remember how every sentient being had at one point or another been our parents. When we remember this, then we would not take meat just as we would not eat the meat of our parents of this lifetime. 

    -Translated by Konchok Tenzin Drolma | Grammatically corrected and paragraphed by Shen Shian, with notes in parentheses

    Read more »
  • Thời trang lễ chùa !

     Tiếc cái xân hồng

    Lạy Trời, lạy Phật, lạy nàng
    Con đang quỳ lạy ở hàng thứ hai
    Xin thề "học máu Anh Đài"
    Nếu con nhắm mắt Thiên Lôi búa liền

    Thiên Lôi nghe thấy nổi điên:
    "Ông búa cái đứa vô duyên trước mầy"
    Đi chùa lễ Phật thế này
    Làm sao Sư - Sãi được ngày bình yên?

    Cho dù có lạy... cầu duyên
    Cớ sao tơ hớ làm phiền mắt ông?
    Người đời chỉ trỏ dòm trông
    Hỏi còn bao cái xuân hồng mà phơi
     

                                     ********************************************
    À há!!! Giờ tui mới hiểu tại sao thời nay, người ta tạc tượng
     Phật nhắm mắt Thiền Định chứ khg còn

    "Điểm Nhãn"
    mở mắt như xưa nửa.

    Ô hô!! Ai Tai!!

    Bá Ngọ "Con Chim" đâu lạc lối,
    Đễ cho "Chú Tiểu" bỏ chùa rồi !!!!


     
    Thời trang lễ chùa.
     
    Trông như giò lụa thế này ,

    Sư nào mà nỡ la rầy, phỏng em  ???? 


    > 
      
     


    Vòng hai quả là hơi to,                         

    Chắc là khoe rốn tròn vo đây mà !!!                         
     
     


    Bà đồng đội trống lên chùa,                         

    Thịt da ngồn ngộn chả đùa được đâu !!!

      


    Năm cô rủ nhau đi chùa,

    Một cô hở thịt bỏ bùa cho sư !!!

     
      
     


    Thành kính lễ Phật cầu may,                         

    Phật mà nhắm mắt trình bày được chăng? 
     
      


    Một công đôi việc thôi mà,                         

    Em đi leo núi, tiện là thắp hương 
      


    Lạy Thần, lạy Thánh trên cao,                         

    Ban ơn mưa móc phủ vào thân em !!!                         

     
      
     


    Yếm hồng phải hở lưng ong,                         

    Thời trang là thế, các ông chớ cười  !!!
     
      


    Em này nghe nói là ‘sao’,                         

    Thế nên hở rốn để chào lũ fan ….

     
      


    Mùa hè nóng nực cả ngày,                         

    Hai dây cho mát, Sư thầy đừng la  ….

      
     


    Chả biết ở ta, hay Tàu 

    Tuần này vắng khách, dãi dầu lòng em ….                         
     
      
     
     


    Thành kính khấu đầu mấy phen,                         

    Chíp lòi do cạp trễ quen thôi mà !!!!
    Read more »
RSS