Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Latest Articles


  • Các pháp hữu vi là vô thường

    Các pháp hữu vi là vô thường, có được rồi cũng sẽ mất, có thành thì phải biến hoại, có sinh thì ắt sẽ bị già bệnh chết. Đây là sự thật, là quy luật vận động tự nhiên của vũ trụ và nhân sinh. Không ai và không có sự vật gì vượt thoát quy luật này. 

    Thế Tôn đã khẳng định, dẫu Như Lai có ra đời hay không thì các pháp vẫn như vậy. “Chư hành vô thường” mà cầu thường hằng thì chẳng thể được. Thân tâm này vốn sinh diệt mà cầu trường sinh là chẳng thể được.

    Thế Tôn là bậc Giác ngộ nhưng tấm thân tứ đại của Ngài cũng già bệnh theo năm tháng, rồi phải bỏ thân dưới hai cây sa-la nơi rừng Câu-thi-na. Như cỗ xe sử dụng lâu ngày cũng hư mục, đến một lúc nào đó phải bỏ đi, vì níu giữ là điều chẳng thể được. Biết rõ vô thường, không giữ được bất cứ thứ gì lâu dài thì không nên nặng nề bám víu, chấp thủ. Ai nhận ra sự thật “chẳng thể được” của thế gian thì người ấy có trí tuệ. Từ tuệ giác này, nếu nỗ lực tu tập ngũ căn - ngũ lực đến viên mãn sẽ thành tựu giải thoát, Niết-bàn.

    “Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà vườn Cấp Cô Độc.

    Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

    - Thế gian có năm việc tuyệt chẳng thể được. Thế nào là năm? Vật đáng mất muốn cho không mất, điều này chẳng thể được; pháp diệt tận muốn cho không tận, điều này chẳng thể được; phàm pháp già muốn cho không già, điều này chẳng thể được; phàm pháp bệnh muốn cho không bệnh, điều này chẳng thể được; phàm pháp tử muốn cho không tử, điều này chẳng thể được. Đó là, này Tỳ-kheo! Có năm việc này tuyệt chẳng thể được. Nếu Như Lai ra đời hay không ra đời, thế giới này hằng trụ như cũ, mà không hư bại có tiếng mất diệt, sanh, lão, bệnh tử; hoặc sanh, hoặc chết đều trở về gốc. Đó là, này Tỳ-kheo! Có năm việc khó được này. Hãy cầu phương tiện tu hành năm căn. Thế nào là năm? Nghĩa là tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn, và tuệ căn. Đó là Tỳ-kheo hành năm căn này rồi liền thành Tu-đà-hoàn, hướng Tư-đà-hàm, chuyển tiến thành Tư-đà-hàm, chuyển tiến diệt năm kiết sử thành A-na-hàm, ở đó nhập Niết-bàn, không trở lại đời này nữa, chuyển tiến hữu lậu tận thành vô lậu, tâm giải thoát, trí tuệ giải thoát, tự thân chứng được và tự du hóa, không còn thọ thai nữa, như thật mà biết. Nên tìm phương tiện trừ năm việc trước, tu hành năm căn. Như thế, Tỳ-kheo, nên học điều này.

    Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm.

    (Kinh Tăng nhất A-hàm, tập II, phẩm 34.Đẳng kiến,

    Source: TVNHS

    Read more »
  • HÃY TÍCH-LŨY PHƯỚC-ĐỨC, MỖI NGÀY MỘT CHÚT

     

    HÃY TÍCH-LŨY PHƯỚC-ĐỨC, MỖI NGÀY MỘT CHÚT
    Câu Chuyện Về Ông Nhà Giàu Bilālapādaka,
    Kệ 122 - Kho Báu Sự Thật, Kinh Pháp Cú
    Minh Họa - Weragoda Sarada Maha Thero 
    Chuyển Ngữ: Nguyễn Văn Tiến 
    Hình Vẽ: P. Wickramanayaka - Source-Nguồn: www.buddhanet.net

    (Merit Grows Little By Little - The Story Of Bilālapādaka, Verse 122 - Treasury Of Truth, Illustrated Dhammapada - Weragoda Sarada Maha Thero - Illustrations by Mr. P. Wickramanayaka)

     BÀI KỆ 122:

     122. Māvamaññetha puññassa
    na maṃ taṃ āgamissati
    udabindu nipātena
    udakumbho’ pi pūrati
    pūrati dhīro puññassa
    thokathokam pi ācinaṃ. (9:7)

    Đừng xem-thường điều-thiện nhỏ,
    "Vì nghĩ rằng, kết-quả tốt-lành sẽ không đến với mình',
    Hãy xem kìa, một giọt nước nhỏ mỗi ngày
    sẽ làm cho đầy bình nước.
    Người từ-bi và trí-tuệ tích-lũy được nhiều phước-lành,
    là nhờ mỗi ngày làm một điều-thiện nhỏ.

    Trong khi cư trú tại Tu Viện Kỳ Viên (Jetavana), Đức Phật đã nói bài kệ nầy, về Bilālapādaka, một người đàn ông giàu có.

    Trước kia, có một người đàn ông ở Sāvatthi, sau khi ông nghe xong một bài pháp thoại của Đức Phật, lời giảng của ngài đã tạo ra nhiều cảm kích trong lòng ông, rồi ông quyết định thực hành theo những điều Đức Phật vừa dạy bảo. Lời khuyên của Đức Phật là khi làm từ thiện, chúng ta hãy kêu gọi những người khác cùng chung-sức với mình, như thế chúng ta vừa được nhiều phước-lành hơn, và chúng ta cũng vừa được nhiều người theo-giúp mình trong kiếp kế-tiếp. Do đó ngày hôm sau, người đàn ông nầy xin cúng-dường thực-phẩm đến Đức Phật cùng với chư tăng ở Tu Viện Kỳ Viên. Sau đó, ông đi đến từng nhà, rồi ông thông-báo cho mọi người biết, là ngày hôm sau sẽ là ngày cúng-dường thực-phẩm đến Đức Phật cùng với chư tăng, cho nên họ có thể chung-sức đóng-góp cùng với ông, theo ý mong muốn của họ.

     Ông nhà giàu Bilālapādaka trông thấy ông-cúng-dường đi từ nhà nầy sang nhà khác, vì ông-nhà-giàu không tán-thành hành động nầy của ông ta, nên ông chán ghét ông ta, rồi ông tự nhủ thầm, "Ông-cúng-dường nầy là một người khổ sở! tại sao ông ta lại mời quá nhiều nhà sư, vượt ra ngoài khả năng mà ông ta có thể làm được, cho nên, bây giờ ông ta phải đi xin xỏ những người khác!" Vì vậy, ông Bilālapādaka yêu cầu ông-cúng-dường mang bát của ông ta đến, rồi ông bỏ vào bát của ông ta chỉ một chút ít gạo, chỉ một chút ít bơ, và chỉ một chút ít mật-mía. Ông-cúng-dường sau đó nhặt-nhạnh những món thực phẩm nầy để riêng-biệt ra, vì ông ta không muốn chúng trộn lẫn vào những món thực phẩm của người khác. Ông-nhà-giàu Bilālapādaka không hiểu tại sao những món thực phẩm của ông lại bị để riêng-biệt ra như thế, nên ông-nhà-giàu nghĩ rằng ông-cúng-dường nầy muốn cho mọi người biết, một người giàu có như ông mà đã cúng dường rất ít-ỏi như thế đó, và để làm cho ông-nhà-giàu bị xấu hổ. Vì vậy, ông-nhà-giàu đã sai bảo một người đầy tớ của ông đi tìm hiểu thêm về chuyện nầy.

     Người đàn ông mà kêu gọi mọi người cúng dường, đã đặt những món thực phẩm của ông-nhà-giàu, mỗi thứ một chút vào các nồi khác nhau như nồi nấu cơm, nồi nấu cà-ri, và nồi nấu thịt (cho ngọt thịt), để giúp cho ông-nhà-giàu có thêm nhiều phước-đức. Người đầy tớ của ông-nhà-giàu về báo-cáo lại những gì ông ta trông thấy; nhưng ông Bilālapādaka vẫn chưa hiểu rõ việc làm của ông-cúng-dường có ý nghĩa gì. Tuy nhiên ngày hôm sau, ông-nhà-giàu đi đến nơi mà có thực phẩm sẽ được cúng dường. Đồng thời, ông cầm theo con dao, với mục đích là ông sẽ giết chết người đàn ông kêu gọi mọi người cúng dường, nếu ông ta tiết lộ cho mọi người biết là người giàu có như ông lại đóng góp ít-ỏi đến như thế.

    Tuy nhiên, người đàn ông kêu gọi mọi người cúng dường nói với Đức Phật như sau, "Bạch Thế Tôn, buổi từ thiện nầy là một buổi cúng-dường của tất cả mọi người; cho nên người nào đã cúng dường nhiều, người nào đã cúng dường ít, là điều không quan trọng; mỗi người đều cúng dường với niềm tin, và với lòng rộng-lượng; do đó, tất cả chúng con mong rằng mọi-người đều được hưởng phước-lành đồng-đều, giống như nhau." Sau khi Bilālapādaka nghe thấy những lời nói trên, ông hiểu ra rằng mình đã nghĩ sai về ông-cúng-dường, ông xấu hổ vì đã lầm lỗi, nên ông xin ông-cúng-dường tha thứ cho ông, vì ông hãi-sợ rằng nếu ông không làm điều nầy, thì ông sẽ phải đọa vào một trong bốn cõi thấp-kém (apāyas, thí dụ như là cõi địa ngục, cõi ngạ quỷ, cõi súc sinh, và cõi A Tu La). Vì thế, ông nhà giàu Bilālapādaka nói rằng, "Ông bạn tôi ơi, tôi đã phạm một lỗi lầm to lớn, vì tôi nghĩ xấu về ông; xin ông tha thứ cho tôi." Đức Phật nghe người đàn ông giàu có xin tha thứ, nên ngài hỏi ông cho biết lý do tại sao. Sau đó, Đức Phật nói rằng, "Nầy các đệ tử của ta, các ông đừng nên xem thường điều-thiện, dù cho điều nầy có nhỏ-nhoi đến đâu chăng nữa, bởi vì từ các điều-thiện nhỏ, tích-lũy lâu ngày sẽ thành các điều-thiện to, nếu chúng ta làm điều-thiện nhỏ mỗi ngày."

    GIẢI THÍCH BÀI KỆ 122 TỪ TIẾNG PALI:

    taṃ maṃ na āgamissati puññassa mā avamaññaetha
    udabindu nipātena api udakumbho pūrati thokathokaü
    api ācinaṃ dhīro puññassa pūrati

    taṃ: việc-làm thiện-lành đó; maṃ: về phía tôi; na āgamissati: sẽ không mang lại kết quả tốt-lành; puññassa: việc-làm thiện-lành; mā avamaññaetha: đừng xem thường; udabindu nipātena api: (mỗi-ngày) từng giọt nước một; udakumbho: bình nước; pūrati: được làm cho đầy; thokathokaṃ api: ngay cả từng chút một; ācinaṃ: thu thập (vào); dhīro: người (đàn ông) cao-quý; puññassa: có phước đức; pūrati: được làm cho đầy.

    Một số người có khuynh hướng xem thường việc-làm thiện-lành, vì họ nghĩ rằng việc-làm nầy sẽ không mang lại kết-quả tốt-lành. Quan điểm nầy hoàn toàn không đúng-đắn. Các điều-thiện do chúng ta làm, sẽ được tích-lũy từng chút một. Quá-trình nầy giống như là việc-làm đầy bình nước, bằng cách nhỏ vào bình mỗi-ngày một giọt. Cũng như thế, nhờ các điều-thiện nhỏ được tích-lũy mỗi ngày, giúp cho người-làm việc-thiện có tràn-đầy các phước-lành.

     Bài kệ 122 trong Kinh Pháp Cú nầy, đã được anh Tâm Minh Ngô Tằng Giao chuyển dịch thành thơ như sau:

    (122) Chớ khinh điều thiện nhỏ nhoi. Cho rằng: “Quả báo mình thời hưởng đâu!”. Nhớ rằng giọt nước nhỏ lâu. Mỗi ngày một chút cũng mau đầy bình, Người hiền trí chứa tâm mình. Bao điều thiện nhỏ dần thành phước to.

     BÌNH LUẬN:

     māppamaññaetha; mā avamaññaetha: đừng nên xem thường. Mục đích của Bài Kệ nầy là để nhấn mạnh rằng việc-làm thiện-lành, dù cho có nhỏ-nhoi đến đâu chăng nữa, chúng ta cũng đừng nên xem thường. Bởi vì các hành-động tốt-lành nầy sẽ mang lại kết-quả là hạnh-phúc, do đó, cho dù chúng ta làm một điều-thiện dù nhỏ-nhoi đến đâu, cũng là một điều hữu ích.

    Source-Nguồn: http://www.buddhanet.net/pdf_file/dhammapadatxt1.pdf

     

    Merit Grows Little By Little
    The Story Of Bilālapādaka, Verse 122 - Treasury Of Truth,
    Illustrated Dhammapada - Weragoda Sarada Maha Thero - Illustrations by Mr. P. Wickramanayaka - Source-Nguồn: www.buddhanet.net

    VERSE 122:

     122. Māvamaññetha puññassa
    na maṃ taṃ āgamissati
    udabindu nipātena
    udakumbho’ pi pūrati
    pūrati dhīro puññassa
    thokathokam pi ācinaṃ. (9:7)
    Think lightly not of goodness,
    ‘It will not come to me’,
    for by the falling of water drops
    a water jar is filled.
    The sage with goodness fills himself,
    he soaks up little by little.

    While residing at the Jetavana Monastery, the Buddha spoke this verse, with reference to Bilālapādaka, a rich man.

     Once, a man from Sāvatthi, having heard a discourse given by the Buddha, was very much impressed, and decided to practice what was taught by the Buddha. The exhortation was to give in charity not only by oneself but also to get others to do so and that by so doing one would gain much merit and have a large number of followers in the next existence. So, that man invited the Buddha and all the resident monks in the Jetavana Monastery for alms-food the next day. Then he went round to each one of the houses and informed the residents that alms-food would be offered the next day to the Buddha and other monks and so to contribute according to their wishes.

     The rich man Bilālapādaka seeing the man going round from house to house disapproved of his behaviour and felt a strong dislike for him and murmured to himself “O this wretched man! Why did he not invite as many monks as he could himself offer alms, instead of going round coaxing people!” So he asked the man to bring his bowl and into this bowl, he put only a little rice, only a little butter, only a little molass. These were taken away separately and not mixed with what others had given. The rich man could not understand why his things were kept separately, and he thought perhaps that man wanted others to know that a rich man like him had contributed very little and so put him to shame. Therefore, he sent a servant to find out.

     The promoter of charity put a little of everything that was given by the rich man into various pots of rice and curry and sweetmeats so that the rich man may gain much merit. His servant reported what he had seen; but Bilālapādaka did not get the meaning and was not sure of the intention of the promoter of charity. However, the next day he went to the place where alms-food was being offered. At the same time, he took a knife with him, intending to kill the chief promoter of charity, if he were to reveal in public just how little a rich man like him had contributed.

     But this promoter of charity said to the Buddha, “Venerable, this charity is a joint offering of all; whether one has given much or little is of no account; each one of us has given in faith and generosity; so may all of us gain equal merit.” When he heard those words, Bilālapādaka realized that he had wronged the man and pondered that if he were not to own up his mistake and ask the promoter of charity to pardon him, he would be reborn in one of the four lower worlds (apāyas). So he said, “My friend, I have done you a great wrong by thinking ill of you; please forgive me.” The Buddha heard the rich man asking for pardon, and on enquiry found out the reason. So, the Buddha said, “My disciple, you should not think lightly of a good deed, however small it may be, for small deeds will become big if you do them habitually.

     EXPLANATORY TRANSLATION (VERSE 122)

    taṃ maṃ na āgamissati puññassa mā avamaññaetha
    udabindu nipātena api udakumbho pūrati thokathokaü
    api ācinaṃ dhīro puññassa pūrati

    taṃ: that act of merit; maṃ: towards me; na āgamissati: will not come bringing good results; puññassa: act of merit; mā avamaññaetha: do not underestimate; udabindu nipātena api: only drop by drop; udakumbho: the water pot; pūrati: gets filled; thokathokaṃ api: even little by little; ācinaṃ: collected; dhīro: the great man; puññassa: with merit; pūrati: gets filled.

    Some tend to think that virtue can be taken lightly, and that virtue practiced is not likely to bring about any spectacular good results. This view is not quite correct. The good done by an individual accumulates little by little. The process is very much like the filling of a water-pot, drop by drop. As time goes on, the little acts of virtue accumulate, until the doer of good is totally filled with it.

     COMMENTARY

    māppamaññaetha; mā avamaññaetha: do not under estimate. The intention of this Stanza is to stress that wholesome action, however trifling it may seem, is not to be under-estimated. Since the action yields results in terms of happiness, even a modicum of good can be helpful.

    Source: TVHS

    Read more »
  • Công nghệ" chế biến sả bằm

     

     

    Kinh hoàng "công nghệ" chế biến sả bằm

    Cây, lá sả già, héo úa, thâm sì, bẩn và siêu bẩn, chỉ cần một muỗng hóa chất không rõ nguồn gốc là trở nên trắng sạch bắt mắt. Thương lái ở TP.HCM kiếm lời nhanh chóng.

    "Sạch" trong thoáng chốc

    Sau nhiều ngày trong vai người học việc, chúng tôi xin vào làm công nhân tại vựa chế biến sả của bà P. ở chợ đầu mối nông sản Thủ Đức, TP.HCM. Vựa nằm ở mép chợ, có hàng chục công nhân làm việc suốt ngày đêm, xung quanh lúc nào cũng có những đống sả to tướng.

    Khu vực chế biến sả.

     

    Khu vực chế biến sả.

    Mặt sàn khu vực chế biến đầy rác, vỏ cây, đồ dùng cá nhân lẫn lộn, bao bọc xung quanh là bốn bức tường thép đầy mạng nhện, bồ hóng, mỗi khi đụng vào bụi rơi xuống khắp mặt sàn nơi chứa sả. Đặc biệt, nơi này chỉ cách nhà vệ sinh công cộng của chợ khoảng 100 mét, mỗi khi công nhân từ đó ra, bước vào làm sả chẳng ai bỏ dép mà giẫm luôn lên mặt sàn chứa sả.

    Sả bằm được chế biến như thế nào?

     

     

    Người mua về đổ thẳng vào nồi nấu, đâu biết sả bằm chế biến trong điều kiện mất vệ sinh thế này.

     

    Người mua về đổ thẳng vào nồi nấu, đâu biết sả bằm chế biến trong điều kiện mất vệ sinh thế này.

    Trong thời gian học việc, chúng tôi nổi da gà trước quy trình chế biến sả theo cách chẳng ai ngờ tới: sả cây được nhập từ miền Tây, sau đó chuyển vào vựa. Công đoạn đầu tiên là dùng dao chặt bớt phần lá dài khoảng 2cm trên đầu mỗi cây sả và ở gốc, trong lúc làm, công nhân sẽ chủ động lọc thân và phần lá già bỏ riêng. Sả được đưa vào bịch 10 ký chuyển về các chợ trong thành phố; ai mua lẻ, họ sẽ bán theo ký.

    Sả bằm được chế biến như thế nào?

     

     

     

    Để sả bằm xanh tươi và không bị hư qua nhiều ngày, người chế biến cho thêm

     

    Để sả bằm xanh tươi và không bị hư qua nhiều ngày, người chế biến cho thêm "chất lạ" vào.

    Còn lá sả già sau đó được đưa vào chế biến, trở thành sả bào, sả xay. Tại khu vực này, sả phế phẩm như: lá già, úa, sả ke (loại cây nhỏ bỏ đi) sẽ được gom lại thành đống dưới mặt sàn đầy bụi, ở hai đầu có máy bào, sau đó công nhân "phù phép" biến thành sả sạch.

    Trong lúc cơ quan chức năng đang làm việc phía trước, chủ lò âm thầm tuồn chà bông bẩn đã chế biến giấu ở lùm cây bên hông nhà.

    Thấy sả phế phẩm dính đầy đất, bụi bẩn vẫn được mang vào xay, chúng tôi hỏi thì công nhân tên K. trả lời: "Ở đây có khi nào mang sả đi rửa đâu, họ thu hoạch xong bán lại cho vựa bao nhiêu thì mang vào lọc ra đem xay thôi. Mỗi ngày xay cả tấn rửa sao xiết, dùng thuốc tẩy thì dù bẩn đến đâu cũng trắng trở lại như lúc đầu".

    Sau đó, anh này chỉ tôi vào kho chứa đồ lấy ra một thùng bột màu trắng có mùi hắc rất khó chịu và bảo: "Thuốc giúp cho việc tẩy trắng đấy! Sả bào, xay dù thâm sì thế nào chỉ cần một muỗng cho vào trộn đều, vài phút sau cả đống sẽ chuyển sang màu trắng bắt mắt".

    Để thị phạm, K. múc một muỗng hóa chất trong thùng ra vãi đều lên đống sả đã xay để trên mặt đất, sau đó dùng gàu hốt rác dạng hai chân đang còn dép đứng giữa đống sả trộn đều để thuốc ngấm vào. Vừa làm K. vừa hút thuốc khiến tàn rơi đầy vào đám sả đang trộn.

    Thành phẩm về đâu?

    Trộn xong thuốc, K. chỉ tay vào đám sả trên sàn quả quyết: "Khoảng hai phút sau toàn bộ mớ sả này sẽ trắng như mới. Trong các công đoạn thì việc cho sả ngậm thuốc là quan trọng nhất, đòi hỏi phải cẩn thận vì nó ảnh hưởng đến tiến độ, năng suất, lợi nhuận của cả quá trình".

    Quả đúng như lời K. tuyên bố, đám sả sau khi "ngậm" hóa chất chỉ trong ít phút từ màu xám đã chuyển sang trắng. Theo tìm hiểu của chúng tôi, loại hóa chất mà vựa bà P. dùng để "phù phép" biến sả bẩn thành "sạch" được mua từ một đầu nậu ở chợ Kim Biên, quận 5. Khi chúng tôi đề cập đến sự độc hại của hóa chất trên, K. nhấm nhẳng: "Hóa chất nào chả độc hại. Đã làm ở đây thì không ai dám ăn sả bào, xay hết. Nếu thích thì dùng sả nguyên cây rồi tự chế biến thôi".

    Ở vựa bà P. từ 4 giờ chiều mọi hoạt động chế biến sả diễn ra sôi động. Đến khoảng 8 giờ tối, các loại sả cây, bào, xay được đưa đi phân phối đến các sạp lẻ trong chợ đầu mối bằng xe máy. Mỗi ký sả bào, xay dao động từ 6.000 - 8.000 đồng tùy thời điểm.

    Ngoài ra, cánh tài xế chuyên mua nông sản đến từ Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh cũng là đầu mối quen thuộc với vựa này. Trường hợp sả xay không bán hết, bạn hàng trả lại thường đã ngả màu, bốc mùi, công nhân tại đây tiếp tục độn với sả mới để giao lại cho đầu mối khác. Vựa bà P. còn dùng xe tải mang đi tiêu thụ tại nhiều chợ TP.HCM mỗi tối hàng tấn sả bào, xay...

    Chúng tôi tiếp tục tìm đến vựa của ông T. ở chân cầu vượt Gò Dưa, cơ sở này được làm từ những miếng ván ép tuềnh toàng, ở khu chứa sả mặt sàn luôn ẩm ướt, chỉ cách nhà vệ sinh khoảng 5 mét. Lúc chúng tôi đến, vựa ông T. có 5 công nhân nam đang cởi trần, một người đứng máy bào lá sả, những người khác trộn thuốc, đóng gói, vận chuyển, vô tư mang dép giẫm lên đống sả xay đang chờ đóng gói. Họ hút thuốc vô tội vạ khiến tàn và đầu lọc văng khắp nơi, lẫn cả vào sả xay.

    Những bao

     

    Những bao "chất lạ" tại cơ sở chế biến sả bằm.

    Khi chúng tôi nói cần lấy sả xay về làm sa tế, T. cho biết: "Ở đây có hai loại: một có dùng thuốc tẩy, loại không". Chúng tôi hỏi: "Có loại nào vừa rẻ vừa trắng không?". "Đấy là có thuốc tẩy, loại này trên thị trường đều có hết. Ở đây còn có loại trắng mà không dùng thuốc, hàng này độc quyền. Muốn mua loại nào tôi cũng lo được giấy kiểm định, cứ yên tâm". Theo đó, cơ sở ông T. bán giá chợ từ 6.000 - 7.000 đồng/ký sả xay. Cũng theo lời chủ vựa này, tại đây ngoài sả tươi, khô, còn có khổ qua sấy, hành, tỏi...

    Hoạt động chế biến, thâu gom sả độc hại diễn ra công khai, sôi nổi suốt thời gian dài nhưng chẳng hiểu sao các cơ quan chức năng không xử lý triệt để?

    Read more »
RSS