Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

News - Tin tức


  • Phật giáo và dân tộc

     

    PHẬT GIÁO VÀ DÂN TỘC

    Có không ít nhận định rằng Phật giáo Việt Nam hiện nay không dấn thân vào các sinh hoạt xã hội hay kinh tế, chính trị của đất nước và điều này khiến hình ảnh của người Phật tử được xem như chỉ biết thuần thành trong phạm vi tu tập và quên đi vấn đề nhập thế mà nhà Phật đã truyền bá cách đây hàng ngàn năm.

    Có thể nói hiện nay Chùa Giác Ngộ là một trong vài nơi hiếm hoi vẫn giữ tông chỉ nhập thế và truyền bá Phật pháp qua các hoạt động giáo dục, hoằng pháp, văn hóa và từ thiện lẫn chính trị. Trong bài thuyết giảng khóa tu “Ngày an lạc” với sự tham gia của hơn 650 tu sinh cùng Tăng đoàn chùa Giác Ngộ, Thượng tọa Thích Nhật Từ đã huấn từ những gì mà Phật tử thường hiểu lầm từ bấy lâu nay:

    “Trải qua nhiều thế kỷ, người ta cứ nghĩ Phật giáo là tôn giáo tu rục, tu rị, đó là một cái nhìn rất thiển cận và sai lầm về tính đa diện của đạo Phật minh triết và đạo đức.

    Trải qua nhiều thế kỷ, người ta cứ nghĩ Phật giáo là tôn giáo tu rục, tu rị, đó là một cái nhìn rất thiển cận và sai lầm về tính đa diện của đạo Phật minh triết và đạo đức. – Thượng tọa Thích Nhật Từ

     

    Nói một cách nôm na Phật giáo bao gồm: thế giới quan, nhân sinh quan, xã hội quan, đạo đức quan, tu tập quan và giải thoát quan. Việc đánh giá sai lầm của một số quần chúng chỉ liên hệ đến một phương diện trong nhóm vừa nêu, đó là: tu tập quan. Còn các phương diện rất quan trọng mà đức Phật đóng góp cho tư tưởng của nhân loại đó là: thế giới quan, nhân sinh quan, xã hội quan, đạo đức quan qua hệ thống triết học đặc biệt của Ngài mà hầu như giới chính trị giới kinh doanh, giới tri thức, giới bình dân ít biết đến.

    Một phần là do đạo Phật bị ảnh hưởng bởi nghi thức đọc tụng được sử dụng trong các chùa chỉ chọn lọc vài ba kinh tín ngưỡng lại được diễn đạt bằng ngôn ngữ Hán-Việt vốn rất xa lạ với cộng đồng Phật giáo Việt Nam trong nước và nước ngoài.”

    Lý do gì khiến Phật tử Việt Nam trở nên co lại trong khuôn viên tu tập và quên đi sự khổ nạn của chúng sinh, điều mà Đức Phật răn dạy từ xưa?

    Người Phật tử còn nhớ tháng 5 năm 1994 khi giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất tổ chức cứu trợ đồng bào bão lụt miền Tây thì chính quyền ra lệnh bắt phái đoàn gồm 60 tăng ni và 300 Phật tử. Trong vụ này Hòa thượng Thích Quảng Độ bị kết án năm năm, Thượng tọa Thích Không Tánh, Thích Nhật Ban và cư sĩ Nhật Thường bị ba đến năm năm tù.

    Điều này đã gây chấn động lương tâm người theo đạo Phật và đồng thời ngăn cản mọi ý nghĩ hoạt động xã hội trong giáo hội Phật giáo Việt Nam.

    Giải thích lý do người theo phật giáo hững hờ với xã hội, Hòa thượng Thích Không Tánh cho biết:

    “Người ta cứ nói rằng 80-90% Phật tử Việt Nam là con số rất lớn nhưng tại sao lại không có một tiếng nói nào để nói lên tiếng nói bảo vệ nhân quyền hay bảo vệ môi trường, môi sinh cho bà con đồng bào?

    Tôi thay mặt cho Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở trong nước, sự thực trong nước đứng về phía Phật giáo thì có tới hai tổ chức. Tổ chức Phật giáo của nhà nước lập nên là Giáo hội Phật giáo quốc doanh thì gần như 80-90% tăng ni Phật tử từ sau năm 1975 thì họ đàn áp triệt tiêu gần hết giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất truyền thống đã có lâu đời ở Việt Nam, họ quốc doanh hóa hết rồi họ bắt các nhà sư Việt Nam phải nằm trong Mặt trận Tổ quốc coi như đa phần đã bị quốc doanh hóa hết rồi.”

    Vụ Formosa nổ ra như một trái bom gây thảm họa cho môi trường biển miền Trung nơi có giáo phận Vinh nằm trải dải trên hầu hết các nơi bị tác động trực tiếp đến giáo dân cũng như dân chúng. Ngày 17 tháng 8 trong dịp lễ Đức mẹ hồn xác lên trời, hơn bốn chục ngàn giáo dân trong giáo phận đã tập trung tham dự thánh lễ và diễu hành ôn hòa chống lại Formosa đã trực tiếp gây hại cho người dân. Bài giảng của Giám mục Nguyễn Thái Hợp cũng gây tiếng vang cho cả nước về tấm gương dấn thân của lãnh đạo tôn giáo trước vấn đề chung của dân tộc.

    Vai trò người lãnh đạo

    Đối với Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất, theo chúng tôi được biết ngay từ khi dự án bauxite Tây nguyên được xét duyệt thì Giáo hội đã có văn bản chính thức phản đối và kêu gọi nhà nước phải ngưng ngay dự án này. Vụ Formosa cũng vậy, theo Hòa thượng Thích Không Tánh xác nhận thì Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng đã lên tiếng chống đối từ những ngày đầu.

    Tuy nhiên sự phản đối lẻ loi của Giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất so với sự im lặng gần như hoàn toàn của 80% Phật tử và tăng lữ Việt Nam còn lại là một thách đố lương tâm của người Phật tử thuần khiết cũng như các vị lãnh đạo tinh thần khác, cố kêu gọi sự tham gia vào nguy cơ của toàn xã hội trong các vấn đề đang diễn ra tác động đến cuộc sống người dân.

    Câu hỏi “Phật giáo ở đâu trong lòng dân tộc” một lần nữa được đặt ra trong bối cảnh nguy cấp hiện nay. Ông Trương Nhân Tuấn nhà nghiên cứu Biển Đông cũng là người khơi mào cho câu hỏi này cho biết nhận xét của mình dưới lăng kính của một Phật tử:

    “Vấn đề phật giáo ở đâu trong lòng dân tộc có thể nhìn từ nhiều phía.

    Nhìn từ dân chúng, thì dân Việt Nam đa số theo Phật giáo. Những ngày lễ tết, hay ngày rằm, hay Vu lan vừa rồi ta thấy chùa nào cũng đông nghẹt Phật tử. Ta cũng thấy chùa, thiền viện… mới xây cất ở khắp nơi mà cái nào cũng nguy nga, tráng lệ như cung điện. Chùa nào, tu viện nào cũng đông đảo tín hữu. Tôi cũng thấy một số chùa đã trở thành trung tâm du lịch, thu hút nhiều khách viếng thăm.

    Ở điểm này thì tôi thấy lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã dùng tôn giáo làm món hàng kinh doanh. Họ đã đưa những thứ xa hoa, thế tục vào chùa, vào tu viện để câu khách. Chùa, tu viện vốn là nơi thanh tịnh, lại trở thành nơi thế tục. Những gì xấu xa trong xã hội đều thấy trong chùa.

    Ở điểm này thì tôi thấy lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã dùng tôn giáo làm món hàng kinh doanh. Họ đã đưa những thứ xa hoa, thế tục vào chùa, vào tu viện để câu khách. – Ông Trương Nhân Tuấn

     

    Tức là, ở cái nhìn này, phật giáo đã bị phàm tục hóa, nếu không nói là chính trị hóa. Lãnh đạo Cộng sản Việt Nam đã biến phật giáo vn thành liều thuốc an thần, khiến cho Phật tử vô cảm trước mọi vấn đề của đất nước, dân tộc”

    Nhìn sang vai trò của người lãnh đạo Phật giáo hiện nằm dưới sự chỉ đạo của tổ chức Mặt trận Tổ quốc, ông Trương Nhân Tuấn chia sẻ:

    “Ở cái nhìn của người lãnh đạo tinh thần. Những vấn nạn lớn của dân tộc như vụ ô nhiễm biển ở miền Trung, hay nạn hạn hán ở đồng bằng sông Cửu Long, đã làm cho hàng chục triệu người dân Việt Nam lâm vào cảnh nghèo khó, khốn cùng. Đây là một vấn đề của đất nước, tức cũng là vấn đề của những người lãnh đạo tôn giáo.

    Ở đây ta có thể kết luận là lãnh đạo phật giáo có cùng thái độ với lãnh đạo Cộng sản. Cả hai đều chối bỏ, hay trốn tránh trách nhiệm của mình. Tôn giáo có trách nhiệm về tinh thần trong khi lãnh đạo Cộng sản có trách nhiệm về chính trị.

    Ta còn có thể có những kết luận nặng nề hơn, khi thấy cảnh ông Hồ, ông Đỗ Mười được phong thành bồ tát, được đưa vào thờ trong chùa. Đây là một sự sỉ nhục đến đạo phật và toàn thể Phật tử.

    Dưới cái nhìn này thì Phật giáo rõ ràng đã tách rời khỏi dân tộc”

    Báo chí soi rọi những điều đang xảy ra trên đất nước không khác gì một bức tranh với nhiều hình ảnh đối nghịch nhau, trong đó cảnh sống khó khăn chật vật của người dân đang bị ảnh hưởng trực tiếp từ miền Trung với Formosa, miền Tây với những cánh đồng khô hạn và miền Bắc với bão lũ hiện nay, khác xa với cảnh ăn chơi trác táng xảy ra trên các tụ điểm giải trí và không ít đồng tiền phung phí vào mê tín, dị đoan đang phân hóa mãnh liệt đời sống của người dân từ thành thị tới thôn xóm xa xôi của đất nước

    RFA

    Read more »
  • Một tiến sĩ phát ngôn sai lệch về ngài Mục Kiền Liên

    Mới đây, trong chương trình Cuộc sống 24H phát trên kênh truyền hình kỹ thuật số VTC14 vào ngày 17-8-2016 có một đoạn phỏng vấn giữa phóng viên chương trình và một vị được giới thiệu là Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Mai đến từ Viện Nghiên cứu Tôn giáo Việt Nam thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Nội dung  cuộc phỏng vấn liên quan đến lễ Vu Lan,(*) hiện đang bị giới Phật tử Việt Nam không đồng ý. Chúng tôi giới thiệu bài viết dưới đây của Cư sĩ Minh Mẫn.

     

    MỘT TIẾN SĨ PHÁT NGÔN SAI LỆCH VỀ 
    NGÀI MỤC KIỀN LIÊN 

    Minh Mẫn

     

    Mùa Vu Lan năm nay, có nhiều việc bất thường, vui  cũng nhiều mà buồn không ít.

    Cũng như Tổng Thống Obama qua Việt Nam, không ai rũ ai, thế mà cùng nhau đứng dưới mưa đón chào TT Obama một cách nhiệt thành, trái với chuyến đi của Tập Cận Bình một cách lặng lẽ, buộc các bé học sinh phải phe phẩy cờ một cách buồn bã. Cũng thế, từ Bắc chí Nam, từ Cao nguyên đến đồng bằng, từ thành thị đến thôn quê, mọi người đi chùa ồ ạt một cách bất thường vào mùa Vu Lan năm nay.

    Những chùa lớn như Vĩnh Nghiêm, Hoằng Pháp, lượng người đi không thể đếm xuể, suốt đêm 14 đến cả ngày rằm, mặc dù không phải là ngày cuối tuần, thế mà, số người đi lễ cứ như đêm giao thừa, và có lẽ hơn cả đêm giao thừa. Những nhà sát đường dẫn đến chùa Hoằng Pháp không thể ngủ vì tiếng động cơ xe máy rầm rập suốt đêm.

    Việc quá tải cho những ngôi chùa không rộng lắm, chen chúc với khói hương, nhưng chuyện lạ là không hề dẫm đạp nhau như những lễ giổ đền Hùng hay giành giựt "pháp ấn" mà không năm nào ổn định được trật tự ở phía Bắc. Chùa Hương, chùa Phúc Khánh, chùa Quán Sứ , chùa Liên Phái...cũng như những chùa nổi tiếng ở Hà Nội, trong những dịp lễ lớn như thế, không hề xẩy ra hổn loạn, phải chăng văn hóa lễ hội Phật giáo cũng đã tác động không nhỏ đến ý thức của người dân. Đây là chuyện đáng mừng. Ngoài việc lễ chùa, những quán, tiệm, nhà hàng chay cũng không thể phục vụ cho thực khách quá tải, đến độ, sau rằm là họ phải nghỉ bán vài hôm.

    Tại nhà riêng, cho dù không phải Phật tử đi chùa, mọi người dân không tôn giáo cũng bày lễ cúng tháng bảy khá trang trọng; không phải tự dưng họ bắt chước người theo đạo Phật mà cúng, phải chăng, tinh thần báo hiếu và mùa Vu lan đã hòa hợp như sữa với nước trong giòng máu dân tộc cả nghìn năm nay! Mặc dù họ không biết kinh, không hiểu nguồn gốc báo hiếu từ nhà Phật, nhưng chắc chắn họ cũng hiểu loáng thoáng về hình ảnh đại hiếu của ngài Mục Kiền Liên khi biết mẹ chịu nạn nơi cỏi u buồn. Chỉ cần có thế chứ đâu cần hiểu quá mức như bà TS Nguyễn Ngọc Mai (Chuyên Gia Văn Hóa - Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo Việt Nam) nói về nguyên nhân lể Vu Lan và lể Xá Tội Vong Nhân, để rối, làm cho ngoại đạo xuyên tạc ý nghĩa Vu Lan báo hiều của nhà Phật.

    Trong chương trình VTC 14 phỏng vấn  bà TS Nguyễn Ngọc Mai về lễ Vu Lan và báo hiếu, vào ngày 17/8/2016, bà trả lời một cách "thông thái" tạo cho người nghe, chưa hiều về Phật giáo, một cảm phục thông tuệ của nhà Nghiên cứu Tôn giáo tại Việt Nam, một chuyên gia Văn hóa Việt Nam, mà người trong Phật giáo cảm thấy ngỡ ngàng, vì từ lâu, có lẽ mình chưa hiểu thấu đáo tới truyện tích Mục Liên-Thanh đề đến chỗ rốt ráo như bà TS Nguyễn Ngọc Mai chăng.

    - Bà TS nói: Ngài Mục Kiền Liên là đệ tử "cưng" của đức Phật. Riêng vấn đề nầy, bà đã hạ nhục tình cảm của Đức Phật đối với hàng ngàn Tăng sĩ trong giáo đoàn lúc bấy giờ. Một bậc xuất trần như đức Bổn sư, không đệ tử nào được cưng nhất, cưng nhì như tình cảm thế tục, tất cả đều bình đẵng. Và bẻ cong giáo lý bất nhị của đạo Phật.

    - Bà TS nói rằng - một đệ tử thông tuệ của đức Phật, xin được "thỉnh kinh Vu Lan và dùng thần thông phá ngục cứu mẹ". Có lẽ các nhà nghiên cứu giáo lý Phật giáo cần tìm hiểu sâu hơn, lục tung Tam tạng giáo điển để tìm cho ra cái phát minh của bà TS viện nghiên cứu Tôn giáo đã phán như một truyền tích độc nhất vô nhị về đạo Phật- Làm gì có kinh Vu Lan mà xin Đức Phật được thỉnh lúc bấy giờ, và ngài Mục Kiền Liên làm gì có quyền phép vượt qua nhân - quả  để phá ngục cứu mẹ! Chứng tỏ bà TS chưa học về luật nhân quả của nhà Phật. Ngay cả đức Phật, trong kinh Vu Lan đã  bảo: " Dầu ông thần-lực nhiệm-mầu, Một mình không thể ai cầu được đâu." 

    Kinh chưa thất truyền mà đã có người xuyên tạc về luật nhân quả của đạo Phật như thế thì thử hỏi, lâu dài, Viện Nghiên cứu Tôn giáo gồm toàn Tiến sĩ  thông bác như thế sẽ đưa Phật giáo đi về đâu, và dĩ nhiên, nguời đời sau, không hiểu đạo Phật sẽ nghĩ đạo Phật là loại Thần thoại mê tín chuyên cầu đảo??? Nhân quả không ai có thể vượt qua, dù cho Thần lực như đức Phật, giải quyết nhân quả  bằng phúc báu và công đức tu tập để chuyển hóa chứ không thể dùng thần thông để "xóa án". 

    Một TS  chuyên nghiên cứu Tôn giáo mà không hiểu luật nhân quả sơ đẵng của Phật giáo là chuyện không thể có, thế tại sao bà TS Nguyễn Ngọc Mai cho phép Mục Kiền Kiên dùng Thần thông phá ngục đưa mẹ lên? đã thế, khi thoát ngục lại biến thành con chó  theo quấn quýt  bên chân Mục Kiền liên - thà để bà chịu tội dưới ngục còn hơn làm con chó , một bà mẹ được cứu  để rồi làm chó thì đạo lý hiếu để của người bình thường không thể có hà huống một Thánh Tăng nhà Phật biến mẹ thành chó??? quấn quýt  bên chân con để hối lỗi, một tội nặng phải bị giam cầm thế mà chỉ cần làm chó để hối lỗi được thoát kiếp đọa kể cũng lạ. Vậy ai muốn khỏi đọa địa ngục khi phạm tội, cứ nguyện làm chó  cho khỏe!!! dĩ nhiên đây không phải là giáo lý của nhà Phật mà là giáo lý của bà TS Nguyễn Ngọc Mai, viện nghiên cứu Tôn giáo Việt Nam. Thế rồi ngài lại cho phép bà thành người trở lại; nếu có quyền năng vĩ đại như thế thì cứ đưa thẳng từ ngục về làm người để rồi hai mẹ con ăn chay niệm Phật rồi lại bay về Trời, hà cớ Phật dạy làm chi: 

    Lòng hiếu thảo của ông dầu lớn,
    Tiếng vang đồn thấu đến Cửu-thiên
    Cùng là các bậc Thần-kỳ
    Tà, ma ngoại-đạo, bốn vì Thiên-vương
    Cộng ba cõi sáu phương tu-tập,
    Cũng không phương cứu-tế mẹ ngươi.
    Muốn cho cứu đặng mẹ người.
    Phải nhờ thần-lực của mười phương Tăng.
    Pháp cứu-tế ta toan giải nói,
    Cho mọi người thoát khỏi ách-nàn!"

    Kinh dạy rõ ràng như thế, chả hiều bà TS móc đâu ra chuyện tếu đầy xuyên tạc Phật giáo như  vậy???

    Trên đây là những  ý cơ bản mà bà TS Viện nghiên cứu Tôn giáo đã sai lầm hay cố tình sai lầm, thì thử hỏi, chuyên sâu triết lý nhà Phật sẽ bị bà TS xuyên tạc, bẻ cong đến mức độ nào. Ban Tôn giáo chính phủ nói chung, vụ Phật giáo nói riêng sẽ hãnh diện chăng nhà nước và ban chuyên ngành đã đaò tạo thành công một chuyên gia Tôn giáo như thế? Những người Phật tử Việt Nam còn hiểu được trình độ và ý đồ của một chuyên gia Tôn giáo như thế thì những nhà nghiên cứu Tôn giáo trên thế giới sẽ hiểu gì về viện đào tạo chuyên gia nghiên cứu Tôn giáo của Việt Nam hiện nay? Những tưởng một tiến sĩ  Tôn giáo cách đây không lâu, được chọn làm người hướng dẫn, giải thích về tín ngưỡng Phật giáo tại chùa Ngọc Hoàng quận Nhất  Sài gòn đã sai lầm, nay lại thêm một TS tầm cở hiểu Phật giáo một cách sai lầm tầm cở.

    Thật ra, những mẫu người được đào tạo với mục đích gì không quan trọng, nhưng ít ra phải nắm vững lãnh vực của mình đang phục vụ một cách khách quan, nếu có dụng ý xuyên tạc, bôi nhọ Phật giáo,  thì ít ra cũng như Giáo sư Tiến Sĩ Nguyễn văn Trung,  người Kito giáo trước 1975 tại miền Nam Việt Nam, đã thể hiện trình độ uyên bác siêu việt như thế chứ. Tiếc thay, từ trí thức đến các tầng lớp xã hội hiện nay đã xuống cấp một cách trầm trọng. Một ít Tu sĩ  Tôn giáo, nhất là Phật giáo đã sa sút về nhân cách, một vài trí thức, chuyên gia sa sút về trình độ, một vài bộ phận trong xã hội đánh mất đạo đức cơ bản, ai đó, một lãnh đạo đã chưa thể hiện phong cách nho nhã của một nữ lưu Việt Nam...thì thử hỏi tương lai đất nước đi về đâu?

    Tôn giáo đại diện không những tâm linh mà còn là nề nếp đạo đức, văn hóa, nền tảng cho xã hội mà còn bị bóp méo như thế, đạo Phật dưới cặp mắt của bà TS Nguyễn Ngọc Mai là chuyện Thần thoại thì người dân chưa hiểu đạo Phật, sẽ xem đạo Phật là loại mê tín không thích hợp với trình độ nhân loại hiện nay.

    Lượng số người đến với Phật giáo bằng niềm tin, qua những lễ hội, cho thấy nhu cầu tâm linh và niềm tin Tôn giáo đang là chiếc phao cứu nạn cho cuộc sống đầy phiền muộn, mong rằng, hãy để niềm tin đó được trong sáng với đức tin kiên cố, nếu Phật giáo chưa đóng góp gì cho đất nước phát triển và hội nhập hiện nay thì đạo Phật cũng không hề làm thương tổn đạo đức xã hội, không đánh mất  lương tâm nhân quả của cuộc sống để làm băng hoại nhân loại, vì Albert Einsten đã xác nhận: 

    “Tôn giáo tương lai sẽ là tôn giáo toàn cầu, vượt lên mọi thần linh giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy vừa phải bao quát phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm trọng thể gồm mọi phương diện trên, trong cái nhất thể đầy ý nghĩa. Chỉ có đạo Phật đáp ứng đủ điều kiện đó

    Nếu có một tôn giáo nào đương đầu được mọi nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo.

    Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa những khám phá mới của khoa học.

    Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để theo khoa học vì Phật giáo bao gồm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học.”

    Như vậy, hà cớ bà Ts và còn ai đó nữa manh tâm xuyên tạc Phật giáo một cách trắng trợn và hạ cấp như thế.

    Vui là quần chúng đang quay về với các Tôn giáo, buồn là những nhà nghiên cứu Tôn giáo lại dẫn quần chúng lệch hướng trên các phương tiện truyền thông của nhà nước. Đúng ra, sẽ không có tiếng nói nầy nếu không có sự phản ứng mạnh của độc giả trên các trang mạng. Xin lỗi đã quá lời, mong những ai đang lãnh trách nhiệm kiến thức Tôn giáo trong các ban ngành nhà nước, hãy miễn thứ.

    MINH MẪN

    27/8/2016

    (*)  Cụ thể, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Mai phát biểu như sau: 
    Cái lễ Vu lan bắt nguồn từ một cái tích trong Phật giáo. Đó là có một người đi tu tên là Mục Kiền Liên, là sau khi mà tu thành chánh quả, thành vị đại Bồ-tát thì trí tuệ rất là thông tuệ. Đấy là một trong những đệ tử được ‘cưng’ nhất của Đức Phật. Khi ông ấy đạt được mức độ thông tuệ thì ông đã dùng tâm nhãn của mình để nhìn thấu xuống dưới địa ngục. Khi nhìn xuống dưới địa ngục thì thấy rằng là mẹ đẻ của mình bị đọa đầy rất là khổ sở. Thế thì Mục Kiền Liên mới tâu với Đức Phật xin được thỉnh kinh Vu lan và làm các phép thần thông để phá ngục cứu mẹ. Khi cứu mẹ như thế thì mẹ của Mục Kiền Liên được cứu ra.

    Và chuyện còn kể rằng khi được cứu ra thì bà biến thành một con chó và hằng ngày quấn quýt bên ông ấy để thể hiện một sự hối lỗi của mình. Mục Kiền Liên sau đó dùng một phép thuật của mình để biến mẹ trở thành người. Và ông ấy đã dùng tâm đức của Phật giáo để mà khuyên giải mẹ và từ đấy bà mẹ đã ngộ được ra cái chân lý và hai mẹ con cùng ăn chay niệm Phật. Và sau đó đến một ngày đẹp trời thì bà ấy được trở về trời

    Read more »
  • Công nghệ" chế biến sả bằm

     

     

    Kinh hoàng "công nghệ" chế biến sả bằm

    Cây, lá sả già, héo úa, thâm sì, bẩn và siêu bẩn, chỉ cần một muỗng hóa chất không rõ nguồn gốc là trở nên trắng sạch bắt mắt. Thương lái ở TP.HCM kiếm lời nhanh chóng.

    "Sạch" trong thoáng chốc

    Sau nhiều ngày trong vai người học việc, chúng tôi xin vào làm công nhân tại vựa chế biến sả của bà P. ở chợ đầu mối nông sản Thủ Đức, TP.HCM. Vựa nằm ở mép chợ, có hàng chục công nhân làm việc suốt ngày đêm, xung quanh lúc nào cũng có những đống sả to tướng.

    Khu vực chế biến sả.

     

    Khu vực chế biến sả.

    Mặt sàn khu vực chế biến đầy rác, vỏ cây, đồ dùng cá nhân lẫn lộn, bao bọc xung quanh là bốn bức tường thép đầy mạng nhện, bồ hóng, mỗi khi đụng vào bụi rơi xuống khắp mặt sàn nơi chứa sả. Đặc biệt, nơi này chỉ cách nhà vệ sinh công cộng của chợ khoảng 100 mét, mỗi khi công nhân từ đó ra, bước vào làm sả chẳng ai bỏ dép mà giẫm luôn lên mặt sàn chứa sả.

    Sả bằm được chế biến như thế nào?

     

     

    Người mua về đổ thẳng vào nồi nấu, đâu biết sả bằm chế biến trong điều kiện mất vệ sinh thế này.

     

    Người mua về đổ thẳng vào nồi nấu, đâu biết sả bằm chế biến trong điều kiện mất vệ sinh thế này.

    Trong thời gian học việc, chúng tôi nổi da gà trước quy trình chế biến sả theo cách chẳng ai ngờ tới: sả cây được nhập từ miền Tây, sau đó chuyển vào vựa. Công đoạn đầu tiên là dùng dao chặt bớt phần lá dài khoảng 2cm trên đầu mỗi cây sả và ở gốc, trong lúc làm, công nhân sẽ chủ động lọc thân và phần lá già bỏ riêng. Sả được đưa vào bịch 10 ký chuyển về các chợ trong thành phố; ai mua lẻ, họ sẽ bán theo ký.

    Sả bằm được chế biến như thế nào?

     

     

     

    Để sả bằm xanh tươi và không bị hư qua nhiều ngày, người chế biến cho thêm

     

    Để sả bằm xanh tươi và không bị hư qua nhiều ngày, người chế biến cho thêm "chất lạ" vào.

    Còn lá sả già sau đó được đưa vào chế biến, trở thành sả bào, sả xay. Tại khu vực này, sả phế phẩm như: lá già, úa, sả ke (loại cây nhỏ bỏ đi) sẽ được gom lại thành đống dưới mặt sàn đầy bụi, ở hai đầu có máy bào, sau đó công nhân "phù phép" biến thành sả sạch.

    Trong lúc cơ quan chức năng đang làm việc phía trước, chủ lò âm thầm tuồn chà bông bẩn đã chế biến giấu ở lùm cây bên hông nhà.

    Thấy sả phế phẩm dính đầy đất, bụi bẩn vẫn được mang vào xay, chúng tôi hỏi thì công nhân tên K. trả lời: "Ở đây có khi nào mang sả đi rửa đâu, họ thu hoạch xong bán lại cho vựa bao nhiêu thì mang vào lọc ra đem xay thôi. Mỗi ngày xay cả tấn rửa sao xiết, dùng thuốc tẩy thì dù bẩn đến đâu cũng trắng trở lại như lúc đầu".

    Sau đó, anh này chỉ tôi vào kho chứa đồ lấy ra một thùng bột màu trắng có mùi hắc rất khó chịu và bảo: "Thuốc giúp cho việc tẩy trắng đấy! Sả bào, xay dù thâm sì thế nào chỉ cần một muỗng cho vào trộn đều, vài phút sau cả đống sẽ chuyển sang màu trắng bắt mắt".

    Để thị phạm, K. múc một muỗng hóa chất trong thùng ra vãi đều lên đống sả đã xay để trên mặt đất, sau đó dùng gàu hốt rác dạng hai chân đang còn dép đứng giữa đống sả trộn đều để thuốc ngấm vào. Vừa làm K. vừa hút thuốc khiến tàn rơi đầy vào đám sả đang trộn.

    Thành phẩm về đâu?

    Trộn xong thuốc, K. chỉ tay vào đám sả trên sàn quả quyết: "Khoảng hai phút sau toàn bộ mớ sả này sẽ trắng như mới. Trong các công đoạn thì việc cho sả ngậm thuốc là quan trọng nhất, đòi hỏi phải cẩn thận vì nó ảnh hưởng đến tiến độ, năng suất, lợi nhuận của cả quá trình".

    Quả đúng như lời K. tuyên bố, đám sả sau khi "ngậm" hóa chất chỉ trong ít phút từ màu xám đã chuyển sang trắng. Theo tìm hiểu của chúng tôi, loại hóa chất mà vựa bà P. dùng để "phù phép" biến sả bẩn thành "sạch" được mua từ một đầu nậu ở chợ Kim Biên, quận 5. Khi chúng tôi đề cập đến sự độc hại của hóa chất trên, K. nhấm nhẳng: "Hóa chất nào chả độc hại. Đã làm ở đây thì không ai dám ăn sả bào, xay hết. Nếu thích thì dùng sả nguyên cây rồi tự chế biến thôi".

    Ở vựa bà P. từ 4 giờ chiều mọi hoạt động chế biến sả diễn ra sôi động. Đến khoảng 8 giờ tối, các loại sả cây, bào, xay được đưa đi phân phối đến các sạp lẻ trong chợ đầu mối bằng xe máy. Mỗi ký sả bào, xay dao động từ 6.000 - 8.000 đồng tùy thời điểm.

    Ngoài ra, cánh tài xế chuyên mua nông sản đến từ Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng Tàu, Tây Ninh cũng là đầu mối quen thuộc với vựa này. Trường hợp sả xay không bán hết, bạn hàng trả lại thường đã ngả màu, bốc mùi, công nhân tại đây tiếp tục độn với sả mới để giao lại cho đầu mối khác. Vựa bà P. còn dùng xe tải mang đi tiêu thụ tại nhiều chợ TP.HCM mỗi tối hàng tấn sả bào, xay...

    Chúng tôi tiếp tục tìm đến vựa của ông T. ở chân cầu vượt Gò Dưa, cơ sở này được làm từ những miếng ván ép tuềnh toàng, ở khu chứa sả mặt sàn luôn ẩm ướt, chỉ cách nhà vệ sinh khoảng 5 mét. Lúc chúng tôi đến, vựa ông T. có 5 công nhân nam đang cởi trần, một người đứng máy bào lá sả, những người khác trộn thuốc, đóng gói, vận chuyển, vô tư mang dép giẫm lên đống sả xay đang chờ đóng gói. Họ hút thuốc vô tội vạ khiến tàn và đầu lọc văng khắp nơi, lẫn cả vào sả xay.

    Những bao

     

    Những bao "chất lạ" tại cơ sở chế biến sả bằm.

    Khi chúng tôi nói cần lấy sả xay về làm sa tế, T. cho biết: "Ở đây có hai loại: một có dùng thuốc tẩy, loại không". Chúng tôi hỏi: "Có loại nào vừa rẻ vừa trắng không?". "Đấy là có thuốc tẩy, loại này trên thị trường đều có hết. Ở đây còn có loại trắng mà không dùng thuốc, hàng này độc quyền. Muốn mua loại nào tôi cũng lo được giấy kiểm định, cứ yên tâm". Theo đó, cơ sở ông T. bán giá chợ từ 6.000 - 7.000 đồng/ký sả xay. Cũng theo lời chủ vựa này, tại đây ngoài sả tươi, khô, còn có khổ qua sấy, hành, tỏi...

    Hoạt động chế biến, thâu gom sả độc hại diễn ra công khai, sôi nổi suốt thời gian dài nhưng chẳng hiểu sao các cơ quan chức năng không xử lý triệt để?

    Read more »
  • Nhà sư trẻ gốc Việt trở thành “Cao tăng” Tây Tạng

    Nhà sư trẻ gốc Việt trở thành “Cao tăng” Tây Tạng

     
    Lati Rinpoche, trái, vị thầy được Ðức Ðạt Lai Lạt Ma giao nhiệm vụ dạy kèm các vị tái sinh, trong đó có Thầy Don, phải. Đây là điều đặc biệt vì nhà sư là người đầu tiên rời Hoa Kỳ qua Ấn Độ xuống tóc trong một tu viện Tây Tạng vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, khi mới 12 tuổi. Đặc biệt hơn nữa, đây là người Việt Nam đầu tiên được truyền thừa trong lịch sử hơn ngàn năm của Phật giáo Tây Tạng.
     
    CTTTGV_01.jpgCTTTGV_02.jpg
    Kusho Tenzin Drodon. Cháu ruột của MC Nam Lộc và nhà văn Nhã Ca, chủ nhiệm nhật báo Việt Báo.  Sinh tại Quận Cam, ở miền Nam California trong một gia đình khá giả, lên tám tuổi, cậu bé họ Phạm đã muốn trở thành một Geshe Tây Tạng.

    Mà Geshe là gì?
     Geshe là học vị trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, tương đương với bằng Tiến Sĩ về Phật học của Tây phương. Bình thường ra thì phải mất hai chục năm mới xong và nhiều người không xong nổi. Thế giới hiện chỉ có chừng 200 vị Geshe thôi.
    Muốn được thành một Geshe thì phải thấm nhuần năm ngành học là Bát Nhã Ba La Mật (Prajnaparamita), Trung Quán Luận (Madhyamika), Giới Luật (Vinaya), A Tỳ Đạt Ma Luận (Abidharma) và Lý luận căn bản (Pramana Vidya).
    Thấm nhuần ở đây là phải nhập tâm, bằng Tạng ngữ, trong vài chục năm tu tập gian nan, hầu có thể ứng đối tranh luận trong mọi tình huống về mọi chủ đề trong các cuộc khảo hạch thường xuyên và từ đó đi hoằng pháp cho nhân thế.
    Đã vậy, từ thấp lên cao, học vị Geshe còn có bốn cấp là Dorampa, Lingtse, Tsorampa và cao nhất là Lharampa và trung bình thì phải sáu năm mới lên tới cấp tối ưu.
    Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, Kyabje Lati Rinpoche, được Đức Đạt Lai Lạt Ma yêu cầu hướng dẫn chú bé gốc Việt họ Phạm
    Vị cao tăng Tây Tạng đã hướng dẫn chú bé họ Phạm là một Lharampa Geshe, một hóa thân của danh tăngGongkar Rinpoche.
    Ngài được tôn là châu báu trong hàng Thánh tăng Tây Tạng ngày nay, pháp danh là Kyabje Lati Rinpoche, hiện là cố vấn về Lý luận (Tsen-shabs) của Đức Đạt Lai Lạt Ma. Môn sinh của Tulku Lati Rinpoche thường chỉ là những nhà sư được xác nhận là báo thân của một cao tăng, một vị đạo sư, một Guru từ kiếp trước nguyện tái sinh để tiếp tục hạnh nguyện.
    CTTTGV_03.jpg
    Và Đức Đạt Lai Lạt Ma là người trực tiếp yêu cầu Tulku Lati Rinpoche dìu dắt chú bé.
    Vì sao một chú bé sinh trong một gia đình Việt Nam tại Hoa Kỳ lại được nhận vào tu viện Tây Tạng, rồi được chínhĐức Đạt Lai Lạt Ma trao phó cho một vị cao tăng hàng đầu của Ngài việc hướng dẫn tu học đó?
    Có lẽ phải đi từng bước để nhìn ra con đường học đạo của vị tăng người Việt này.
    Với người Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma là hóa thân của Đại Từ Đại Bi Bồ Tát Quán Thế Âm. Việt Nam ta quen gọi vị Bồ Tát ấy là Phật Quan Âm, vì vậy, nhiều người cũng gọi Ngài là Phật Sống Tây Tạng.
    Người Tây Tạng tôn Ngài là "Kundun" với ý nghĩa ấy.
    Trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng, một Lạt Ma được coi là hiện thân của Phật, và Bồ Tát nguyện tái sinh để cứu độ chúng sinh. Bậc hóa thân ấy được tôn là Tulku ("Chu cô" theo cách phiên âm Hán-Việt). Danh hiệu Lạt Ma chỉ được dành cho những người giảng dạy giáo pháp và có thẩm quyền thực hành nghi lễ của Phật giáo. Trong số những người được chứng nhận là Lạt Ma, những vị uyên thâm và cao quý nhất thì được tôn là Rinpoche (nghĩa là "vô cùng quý báu").
    Trong hàng giáo phẩm và triều đình Tây Tạng, người ta thấy nhiều cao tăng được tôn vinh là Rinpoche.
    CTTTGV_04.jpg
    Bây giờ, chúng ta có Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 - một vị Phật Sống - ủy thác cho một Tulku Rinpoche việc dẫn đạo cho một nhà sư trẻ của Việt Nam...
    Nhà sư này phải có gì đặc biệt mà có lẽ người thường như chúng ta chưa thấy hết được.
    Cách đây bốn năm, nhật báo Orange County Register đã gửi một phái đoàn gồm hai nhà báo Anh Đỗ và Teri Sforza cùng đoàn nhiếp ảnh và truyền hình qua tận Ấn Độ để làm loạt phóng sự bốn kỳ về chú tiểu họ Phạm này. Người ta có thể tham khảo loạt bài được biên tập và trình bày công phu dưới tựa đề "The Boy Monk" tại trang nhà của tờ báo trong bốn số ra ngày 19 đến 22 tháng Giêng 2003.
    Từ ngày đó đến nay, việc tu học của nhà sư này đã có sự tăng tiến.
    Một người Mỹ xuất gia sang Ấn Độ tu Phật giáo đã là hiếm, nhưng vẫn có. Một người sinh tại Mỹ - thuộc thế hệ thứ nhì vì cha mẹ là người Việt tỵ nạn - thì lại hiếm hơn. Đây lại là người Mỹ đầu tiên được nhận vào tu viện Tây Tạng Gaden Shartse, trong tỉnh Mundgod của tiểu bang Karnataka ở miền Nam Ấn Độ để được tu học thành Sa Di. TênMỹ - Việt Donald Phạm đổi thành Konchog Osel.
    CTTTGV_05.jpg
    Người thân thì gọi là Kusho. Konchog có nghĩa là hiếm quý, Osel là tịnh quang, ánh sáng trong lành, và Kusho là một cao tăng.
    Thế rồi, sau khi khảo hạch thì chính Tulku Lati Rinpoche đã thỉnh Đức Đạt Lai Lạt Ma làm lễ thọ giới Cụ túc cho chú tiểu sa môn. Có mặt trong buổi lễ cử hành vào đúng ngày Phật Đản còn có bốn vị Rinpoche khác.
    Chú được ban pháp danh là Tenzin Drodon, nghĩa là "Người nắm giữ Phật pháp" (Tenzin) "cứu độ chúng sinh"(Drodon).
    Drodon là một pháp danh ít có trong hệ thống Tăng già Tây Tạng.
    Ngày nay, Phật giáo Tây Tạng có một nhà sư dung mạo sáng rỡ, nói sành sõi tiếng Việt, tiếng Anh và tiếng Tây Tạng với phương ngữ quý phái của Kinh đô Lhasa, ở bên kia đỉnh núi tuyết ngàn trùng.
    Vào mùa Xuân Đinh Hợi 2007, ở tuổi 21, Kusho sẽ thọ giới Tỳ Kheo với Đức Đạt Lai Lạt Ma, một điều kỳ lạ nữa. Trong lịch sử Tây Tạng, đây là người Việt đầu tiên được chính Đức Đạt Lai Lạt Ma truyền thừa và truyền giới.
    Có thể là sau này người ta mới được biết thêm rằng nhà sư trẻ cũng là hóa thân của một hành giả, nguyện tái sinh trong một gia đình Việt Nam tại Mỹ và tu học trong tu viện Tây Tạng tại Ấn vì lợi ích của chúng sinh.
    Ba vị cao tăng đã lần lượt hướng dẫn nhà sư là Lharampa Geshe Tsultim Gyeltsen tại tu viện ở Long Beach, làLharampa Geshe Lati Rinpoche, một vụ Tulku tại tu viện Gaden Shartse ở Ấn Độ và Đức Đạt Lai Lạt Ma đời thứ 14.
      
    Bây giờ, chúng ta mới tìm hiểu về nhân vật này.
    Vừa ra đời, Donald Phạm đã chững chạc như người lớn. Chú bé là học sinh ưu tú, thích âm nhạc, viết văn, trượt nước và chơi Nitendo! Là học trò giỏi tại trường Aliso Viejo Middle School, chú bé đủ thứ game trong nhà và thừa điều kiện thành công trong một môi trường đầy cơ hội là Hoa Kỳ. Ước nguyện ban đầu của chú là thành nhà văn hay bác sĩ.
    Nhưng, khác mọi đứa trẻ cùng tuổi, chú ít nói, kín đáo nhìn mọi sự chung quanh và đặc biệt quan tâm đến người khác. Cha mẹ chú là những người khá giả và chăm sóc kỹ lưỡng tâm hồn các con. Mẹ chú sùng đạo từ khi còn ở Việt Nam.
    Tại Hoa Kỳ thì cả gia đình thường đến ngôi chùa Tây Tạng ở Long Beach, do Đức Đạt Lai Lạt Ma đặt tên làThubten Dhargye Ling, để tu học Phật pháp.
    Đây là một việc không dễ vì từ nhà đến chùa là 90 cây số và một tuần, gia đình lên chùa ba lần.
    Donald vào chùa là có phản ứng khác lạ.
    Tưởng đứa con lơ đãng nhìn quanh, bà mẹ ngạc nhiên vì chú nghe được hết và nói lại rành mạch những khái niệm rất lạ. Thí dụ như hiện tượng "tâm viên ý mã" trong lúc thiền định!
    Người lớn nghe đã thấy khó lãnh hội, huống hồ một đứa trẻ ở tuổi mẫu giáo!
    Năm chú lên bốn, bà mẹ đọc báo thấy có tin là vị Đạo sư Lati Rinpoche sẽ đến thuyết pháp ở Los Angeles.
    Quá mừng khi được cơ hội gặp vị cao tăng mà mình đã đọc lời giảng trong sách từ khi còn mang thai chú bé, bà dẫn chú đi nghe và năm đó Donald đã quy y với Tulku Lati Rinpoche!
    Khi chú lên năm, cô em kém chú hơn một tuổi bỗng khóc òa vì làm vỡ cái đĩa.
    Chú bé đứng cao hơn quầy bếp đã lên giọng trấn an:
    "Đừng lo, đó chỉ là đồ vật thôi. Nếu chấp vào vật nhỏ như vậy thì khi chết, làm sao cái tâm bỏ được cái thân này?"
    Rồi sau đó, thay vì là nhà văn hay bác sĩ, năm lên tám, chú muốn thành một Geshe!
    Thấy con mình có ý đi tu để thành Geshe, bà mẹ trình bày với vị Hoà thượng trụ trì tu viện Phật giáo Tây Tạng tạiLong Beach là Lharampa Geshe Tsultim Gyeltsen, thường được Phật tử quý mến gọi là Geshe La.
    Hoà thượng Geshe La khuyên là hãy kiên nhẫn tìm hiểu tâm tư chú bé đã.
    Cho con vào chùa là chuyện thường tình ở Á châu và Tây Tạng, nhưng chúng ta đang ở tại Hoa Kỳ, trong một khu vực trù phú lịch sự. Con đường tới chùa là một chặng đường khá xa cần phải tìm hiểu. Mà cách tìm hiểu hay nhất là chính họ phải qua tận Ấn Độ thăm viếng một ngôi chùa Tây Tạng đủ lâu để thấy hết tận mắt.
    CTTTGV_06.jpg
     
    Thày dạy, tu viện là một đại dương, có rất nhiều ngọc nga châu báu vật đấy nhưng cũng có cá mập.
    Hãy tìm hiểu rồi mới quyết định cho chú bé.
    Khi Donald Phạm lên chín, năm 1995, cha mẹ chú quyết định sang thăm tu viện, cách đó đúng là vạn dậm. Bước đầu là từ California bay qua Ấn Độ, rồi đi xe buýt leo đèo băng suối tới một tu viện trong khu định cư của người Tây Tạng tại Mundgod, thuộc tiểu bang Karnatala ở miền Nam Ấn Độ. Đó là tu viện Gaden Sharte của dòng Gelugpa Phật giáo Tây Tạng. Khu vực định cư cho dân tỵ nạn thường không là một vùng đất trù phú thịnh vượng. Sự nghèo khổ và thiếu thốn là quy luật chung. Huống hồ là nơi tu hành.
    Người viện trưởng của Tu viện chính là ngài Tulku Lati Rinpoche mà gia đình họ Phạm đã đọc rồi đã gặp tại Los Angeles.
    Phép sinh hoạt nơi đây là sự khắc khổ nghiêm ngặt. Mọi người thức giấc từ năm giờ sáng, chư tăng áo đỏ tụng kinh đến bảy giờ rồi ăn sáng. Thực đơn khác hẳn bữa điểm tâm trong một ngôi nhà khang trang ở Laguna Niguel tạiCalifornia. Bánh mì chấm trà có pha đường, bơ tẩm muối.
    Sau đó là học ngôn ngữ và tranh luận đến trưa.
    Quá ngọ là buổi học với các đạo sư cho đến chiều.
    Cơm tối là cháo. Xong cơm là học tiếp về Phật pháp qua tranh luận, có khi đến nửa đêm...
    Giáo trình đào tạo còn nặng hơn mọi trường tư thục ưu tú nhất của Mỹ!
    Và không có các màn giải trí qua truyền hình, chơi game, nghe nhạc từ DVD... Cũng không có quà vặt, máy giặt máy xấy, nước nóng phòng riêng...
     
    Làm sao cho con mình vào sống nơi đó?
    Gia đình ở lại 6 tuần và chú Donald Phạm cho biết là muốn học đạo ở nơi đây. Trường hợp của chú hiển nhiên đã được Geshe La và Tulku Rinpoche chú ý. Phải tìm lời giải trong phép khảo chứng bí truyền của Tây Tạng. Vị cao tăng thực hiện buổi lễ linh thiêng ấy chính là Tuku Rinpoche. Lời giải là chú bé này là một đứa trẻ đặc biệt, sẽ vào chùa thành một vị sư Tây Tạng. Donald Phạm cũng cảm thấy như vậy., Việc cháu Donald muốn đi tu đã gây nhiều phản ứng và tranh luận trong đại gia đình. Đầu tiên thì chị và em không muốn xa Donald. Còn ông ngoại thì hoàn toàn không vui! Điều ấy cũng thật dễ hiểu. Nhưng ý của chú đã quyết và cha mẹ cũng thông cảm và hỗ trợ nên mọi người quen dần với quyết định này.
    Gần bốn năm trôi qua, rồi vào dịp Tết Kỷ Mão 1999, cả gia đình Donald Phạm đã theo Hoà thượng Geshe La quaẤn Độ. Chú sẽ ở lại nơi đây.
    Tết Nguyên Đán Kỷ Mão thì xuống tóc, trở thành Sa di Kusho Konchog Osel.
    Tu viện có 1.500 người cùng học nhưng chú được chính Đức Đạt Lai Lạt Ma ân cần phó thác cho vị Viện trưởng Tulku Lati Rinpoche trực tiếp hướng dẫn. Mọi người ân cần gọi chú là Kusho-la. Hai năm sau, Kusho được đưa lênDharamsala, miền cực Bắc Ấn Độ, vào học viện Lý luận Phật giáo, Institute of Buddhist Dialectics. Có 300 sinh viên, học viện này nằm gần thị trấn McLeod Ganj của Ấn. Thị trấn được gọi là "Little Lhasa", trụ sở của Chính quyền Lưu vong Tây Tạng, và học viện IBD là nơi Đức Đạt Lai Lạt Ma thường giảng pháp.
    Trong học viện, tiểu Sa Di Kusho là người trẻ nhất và được chú ý vì khả năng lãnh hội lẫn tranh luận. Chú còn được khen là từ tốn khiêm nhường và thường trầm lặng trước mối quan tâm của truyền thông báo chí. Nhiều người đã luận rằng Kusho có thiện nghiệp để trở thành sư, và có phúc duyên được hướng dẫn bởi những vị cao tăng để theo đuổi Phật học đến chỗ thâm sâu.
    Ngày nay, Kusho đã thành một vị sư 21 tuổi, và Xuân này sẽ thọ giới Tỳ Kheo với chính Đức Đạt Lai Lạt Ma,thành Shakya Bikshu Tenzin Drodon.
    Trong khi ấy, gia đình ở nhà cũng thay đổi. Càng luống tuổi, ông ngoại của Kusho càng thấy ra hai lẽ. Phần mình, thì đời người quả là hữu hạn. Phần cháu ngoại Donald, thì việc cháu trở thành sư là một điều lành.
    Đầu năm 2007, ông cụ lâm trọng bệnh và từ Ấn Độ, Kusho trở về thăm ông, có thể là lần cuối. Hai ông cháu gặp nhau trong một cảnh ngộ cảm động. Được hỏi về chuyến thăm viếng, nhà sư trẻ giải thích là vì muốn cầu nguyện cho tâm của ông ngoại được thảnh thơi, vững mạnh, và buông xả hết mọi ưu phiền. Kusho không tin là mình có "thần lực" hay khả năng hộ niệm để ông "siêu sinh tịnh độ" như ta thường nói. Cháu chỉ muốn gặp ông, hàn huyên để ông vui với tuổi già, có cái nhìn lạc quan tích cực về mọi chuyện.
    Riêng mình, thì đứa cháu rất cảm động nghe ông nói, rằng mình mừng cho cháu đã đi tìm hạnh phúc trong sự tu tập, vì hạnh phúc thật là khi mưu cầu cho hạnh phúc của người khác. Hai ông cháu đã hoàn toàn cảm thông và cùng nhìn vào một hướng.
    Nói đến chuyện "thần lực" hay "hóa thân", đề tài kỳ diệu khi ta nghĩ đến Phật giáo Tây Tạng, Kusho cười hiền hoà và giải thích bằng cả tiếng Việt lẫn tiếng Anh: Không, chú không là hoá thân hay đang tu tập để có thần lực thi hành được những việc siêu nhiên. Việc tu tập để tìm thần lực hay khả năng siêu nhiên là điều sai. Nhưng, khi tu tập,Kusho thấy hay nghĩ "mình là ai?" Là một chú bé Việt Nam, một thiếu niên Mỹ hay một Sa Di Tây Tạng - Là tất cả!
     
    Ban đầu, khi ở trong Tu viện Gaden thì còn mơ hồ vì có lúc thấy mình là một thiếu niên Mỹ, một đứa trẻ Việt Nam, và nhất là khác lạ với chúng bạn người Tây Tạng chung quanh. Thế rồi một cách tiệm tiến và nhẹ nhàng tự nhiên, chú thấy mình tách rời với tất cả những "hành trang" ấy của quá khứ mà cảm nhận ra một sự thể gì bao nhiếp tất cả. Một sự an nhiên kỳ lạ khiến mình thấy thư thái và tự do hơn.
    Cảm giác gọi là "giải thoát" ấy xuất phát từ sự tu tập hay từ ý chí của mình?
    - Có lẽ, phép tu tập giúp cho ý chí ấy thành vững mạnh hơn và quan trọng nhất, giúp cho mình thấy được cách suy nghĩ tích cực và nuôi dưỡng nghị lực tích cực.
    Kusho suy nghĩ rồi nói bằng tiếng Anh: "Positive Energy". Nhưng, trong tu viện Gaden hay trong học viện ởDharamsala, Sa môn Kusho có biết hay được biết gì về thế giới bên ngoài không, về "đời sống thật" không? Ban đầu, trong tu viện thì chỉ học về kinh điển và phép luận giải, chứ qua học viện tại Dharamsala thì các học viên đều có thể xem truyền hình và đọc báo để biết về những gì đang xảy ra trên thế giới, Chính Đức Đạt Lai Lạt Ma đã muốn các học viên chứng đắc Phật pháp bằng cách hiểu được cộng đồng và thế giới.
    Ngoài ra, giáo trình của học viện chẳng khác gì nhiều nếu so với một Đại học tân tiến, học viên được giáo dục để biết về thế giới cũng như Phật pháp.
    Sau khi hoàn tất khóa học rất dài tại Dharamsala, Kusho sẽ trở lại tu viện Gaden và lúc ấy mới lại sống như một vị tăng trong chùa. Nhưng, khi biết rằng thế giới này "khổ" - vì nạn đói ở Phi Châu hay khủng bố tại Trung Đôngchẳng hạn - học viên nghĩ sao? Và muốn làm gì để giải trừ cái khổ ấy? Nhà sư trẻ suy nghĩ giây lát mới giải thích. Trước hết, những tin tức ấy có giá trị "khích lệ", là yếu tố càng thúc đẩy học viên phải tu tập để góp phần giải trừ cái khổ.
    Nhưng, nhìn từ các tu viện, cái khổ ấy có là một ý niệm trừu tượng xa vời của "chúng sinh" hay của người khác không? Thí dụ như một bác sĩ vẫn có thể chữa chạy cho bệnh nhân sau khi học về những triệu chứng hay hậu quả của bệnh. Một nhà xã hội cũng có thể học về khủng hoảng để góp phần giải quyết dù mình chẳng là nạn nhân... Liệu cảm nhận về cái khổ này có là một khái niệm tách bạch xa vời vì không trực tiếp liên hệ đến mình ở trong chùa hay trong học viện?
    Kusho tìm chữ diễn tả, cả Việt lẫn Anh, rằng sự hiểu biết về cái khổ ấy tác động rất mạnh vào tâm trí, nhưng theo hướng khác. Ý thức về những vấn đề ấy khiến mình càng thêm tin tưởng vào Phật pháp và càng thôi thúc mình làm một cái gì đó để cứu giúp người khác. Đây cũng là bước cần thiết để chứng nghiệm đức tin của mình.
    Nếu tu học để thành sư mà không nghĩ đến việc giúp đỡ người khác thì là một sự lãng phí!
    Phật giáo Tây Tạng rất chú ý đến việc tu dưỡng Bồ Đề Tâm, đến Bồ Tát Hạnh và coi việc giúp đỡ người khác là một bổn phận trọng yếu, một phần không thể tách rời trong đức Từ Bi của người Phật tử. Nói đến người khác, Kushocó nghĩ đến người Việt và Phật giáo Việt Nam không?
    Vị Sa môn trẻ này cám ơn mẹ cha là những Phật tử đã khuyến khích và giúp đỡ mình trên con đường học đạo. Chính là tấm lòng yêu thương của bà mẹ đã khiến chú cố gắng tu tập để có thể làm tròn bổn phận với Việt Nam. Vì vậy, sau giai đoạn tu chứng, nhà sư trẻ còn phải đi một bước rất xa là học hỏi thêm về Việt Nam và Phật giáo Việt Nam.
    Phật giáo Tây Tạng theo Kim Cang Thừa (Varayana) của Đại Thừa Mahayana, nhưng cũng áp dụng phép tu có đặc tính Mật Tông và cả Bồ Tát Hạnh trong những giáo lý nền tảng của Phật giáo Nguyên thủy Theravada.
    Vì vậy, trong giáo trình đào tạo và tu học, các học viên đều phải thấm nhuần những lý giải Tiểu Thừa hay Nguyên thủy.
    Sau này, Kusho sẽ học thêm về những đặc tính đa diện của Phật giáo Việt Nam và phải thông thạo tiếng Việt để tiếp xúc với Phật tử người Việt. Một con đường rất dài... Khi viết, Kusho xử dụng cả hai tay, trái và phải, để viết chữ Tây Tạng hay tiếng Anh. Khi học, có lẽ cũng phải nhớ đến tương lai là tìm đến Phật giáo Việt Nam. Vả lại, chính Đức Đạt Lai Lạt Ma đã căn giặn như vậy.
    Hôm đó, sau khi được Ngài truyền giới, vị tiểu sa môn được Đức Đạt Lai Lạt Ma gọi riêng ra chụp chung tấm hình.
    "Con giữ tấm hình này cho quê hương con. Cho nước Việt Nam".
     
    CTTTGV_07.jpg
     
    Kusho treo tấm hình trong trai phòng tại học viện, như một nhắc nhở hàng ngày.
    Việc nhà sư Tenzin Drodon này sẽ chứng đắc học vị Geshe có thể chỉ là thời gian vì tâm nguyện như vậy.
    Nhưng, việc một người có tâm hồn và giáo dục Việt Nam được tu học thành nhà sư Tây Tạng mới là một hạnh ngộ hiếm hoi.
    Lời khuyên của Tulku Lati Rinpoche là Kusho hãy cố gắng tinh tấn tu học để trở thành một sa môn đầy đủ Bồ Tát Hạnh là Bi, Trí, Dũng để hoằng pháp lợi sanh cho nhân thế.
    Đức Đạt Lai Lạt Ma nói rõ hơn trong từng buổi gặp gỡ: "Đừng quên Việt Nam. Lòng từ bi và trí tuệ của con sẽ giúp ích rất nhiều cho quê hương con."
    Pháp danh Drodon quý hiếm này, có lẽ Ngài chọn cho Kusho để hướng tới trách nhiệm với Việt Nam.
    Sông Mekong xuất phát từ vùng đất Kham đã tái sinh của hai vị cao tăng Tây Tạng là Gehse La và Tulku Rinpoche. Nơi con sông này đổ ra biển chính là Việt Nam.

    Phải chăng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thấy vạn sự từ đầu nguồn tiền kiếp, mà chưa đến lúc nói ra?

    Read more »
  • Thời trang lễ chùa !

     Tiếc cái xân hồng

    Lạy Trời, lạy Phật, lạy nàng
    Con đang quỳ lạy ở hàng thứ hai
    Xin thề "học máu Anh Đài"
    Nếu con nhắm mắt Thiên Lôi búa liền

    Thiên Lôi nghe thấy nổi điên:
    "Ông búa cái đứa vô duyên trước mầy"
    Đi chùa lễ Phật thế này
    Làm sao Sư - Sãi được ngày bình yên?

    Cho dù có lạy... cầu duyên
    Cớ sao tơ hớ làm phiền mắt ông?
    Người đời chỉ trỏ dòm trông
    Hỏi còn bao cái xuân hồng mà phơi
     

                                     ********************************************
    À há!!! Giờ tui mới hiểu tại sao thời nay, người ta tạc tượng
     Phật nhắm mắt Thiền Định chứ khg còn

    "Điểm Nhãn"
    mở mắt như xưa nửa.

    Ô hô!! Ai Tai!!

    Bá Ngọ "Con Chim" đâu lạc lối,
    Đễ cho "Chú Tiểu" bỏ chùa rồi !!!!


     
    Thời trang lễ chùa.
     
    Trông như giò lụa thế này ,

    Sư nào mà nỡ la rầy, phỏng em  ???? 


    > 
      
     


    Vòng hai quả là hơi to,                         

    Chắc là khoe rốn tròn vo đây mà !!!                         
     
     


    Bà đồng đội trống lên chùa,                         

    Thịt da ngồn ngộn chả đùa được đâu !!!

      


    Năm cô rủ nhau đi chùa,

    Một cô hở thịt bỏ bùa cho sư !!!

     
      
     


    Thành kính lễ Phật cầu may,                         

    Phật mà nhắm mắt trình bày được chăng? 
     
      


    Một công đôi việc thôi mà,                         

    Em đi leo núi, tiện là thắp hương 
      


    Lạy Thần, lạy Thánh trên cao,                         

    Ban ơn mưa móc phủ vào thân em !!!                         

     
      
     


    Yếm hồng phải hở lưng ong,                         

    Thời trang là thế, các ông chớ cười  !!!
     
      


    Em này nghe nói là ‘sao’,                         

    Thế nên hở rốn để chào lũ fan ….

     
      


    Mùa hè nóng nực cả ngày,                         

    Hai dây cho mát, Sư thầy đừng la  ….

      
     


    Chả biết ở ta, hay Tàu 

    Tuần này vắng khách, dãi dầu lòng em ….                         
     
      
     
     


    Thành kính khấu đầu mấy phen,                         

    Chíp lòi do cạp trễ quen thôi mà !!!!
    Read more »
RSS