Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Exoteric scriptures - Hiển giáo


  • Phá Thai, Sát Sanh. Đọc & Sám Hối.

    Kinh Trường Thọ Diệt Tội Hộ Chư Đồng Tử Đà La Ni

    Đời Đường, nước Kế Tân Tam Tạng Sa-Môn Phật-đà-ba-ly  vâng chiếu dịch

    Việt dịch: Sa-môn Thích Thiện Thông

    Tôi nghe như vầy : Một thời Đức Phật, ở thành Vương Xá, trong núi Linh-thứu, với sự câu hội, một ngàn hai trăm năm mươi Tỳ-kheo, các Đại Bồ-tát, mười hai ngàn người, cùng tám bộ chúng, Trời, Rồng, quỷ thần, hạng nhân phi nhân, nghe Phật nói pháp.

    Bấy giờ Đức Thế Tôn, từ trên gương mặt, phóng những ánh sáng, với năm màu sắc, xanh, vàng, đỏ, trắng, trong mỗi màu có vô lượng hóa Phật, hay làm Phật sự, chẳng thể nghĩ bàn. Mỗi mỗi hóa Phật, đều có vô lượng Bồ-tát hóa hiện, ca ngợi Phật đức. Ánh sáng nhiệm mầu, khó thể đo lường, trên đến cõi trời, Phi phi tưởng xứ, dưới hết chiếu đến, địa ngục Vô gián. Ánh sáng lan khắp, tám muôn địa ngục, nơi nào cũng có. Chúng sanh trong ngục, gặp ánh sáng Phật, tự nhiên niệm Phật, đều được phương tiện, Niệm Phật tam muội.

    Khi ấy trong chúng, có bốn mươi chín Bồ-tát, vừa mới phát ý, muốn từ nơi Phật, cầu mạng trường thọ, nhưng họ không thể phát lời thưa hỏi.

    Lúc đó, Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi, biết chỗ nghi ngờ của các vị kia, ngài liền đứng dậy, vén áo vai mặt, chắp tay hướng Phật và bạch lên rằng :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Con thấy chúng sanh, có điều nghi ngờ, nay muốn thưa hỏi, xin Đức Như Lai, cho phép con nói.

    Đức Thế Tôn dạy :

    – Lành thay ! Lành thay ! Văn Thù Sư Lợi, ông nghi điều gì, cứ tha hồ hỏi.

    Ngài Văn Thù thưa :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Tất cả chúng sanh, nơi biển sanh tử, tạo các nghiệp ác, kiếp này kiếp nọ, luân hồi sáu đường, dẫu được thân người, nhưng mắc quả báo, tuổi thọ ngắn ngủi, làm sao cho họ, được mạng lâu dài, diệt các nghiệp ác ? Cúi mong Thế Tôn, nói về phương pháp, tuổi thọ lâu dài.

    Đức Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi :

    – Lòng đại Từ bi của ông vô lượng, xót nghĩ đến những chúng sanh tội khổ, hay hỏi việc trên. Nếu Ta nói đủ, thì khắp chúng sanh, khó ai tin nhận.

    Văn Thù Sư Lợi bạch Phật lần nữa :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Đấng Nhứt thiết trí, thầy của Trời người, che khắp chúng sanh, cha lành tất cả, vua trong các pháp, một tiếng của Ngài, diễn nói tất cả, cúi mong Thế Tôn, thương xót nói rộng.

    Đức Phật mỉm cười, bảo khắp đại chúng :

    – Các vị lóng nghe ! Như Lai sẽ vì các vị mà nói.

    Về đời quá khứ, có thế giới tên, Vô Cấu Thanh Tịnh, cõi đó có Phật, hiệu là Phổ Quang Chánh Kiến Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn, được vô lượng vô biên, các đại Bồ-tát, lúc nào cũng thường, cung kính vây quanh. Trong pháp Phật ấy, có cận sự nữ, tên là Điên Đảo, cô này nghe Phật, xuất hiện nơi đời, muốn cầu xuất gia, buồn bã kêu khóc, bạch Đức Phật rằng :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Con có nghiệp ác, muốn xin sám hối, cúi mong Thế Tôn, cho con nói rõ :

    Con về trước kia, thân mang thai nghén, mới đủ tám tháng, cũng vì phép nhà, cho nên con chẳng ham muốn con cái, bèn uống thuốc độc, phá thai giết con, chỉ sanh đứa chết, đủ cả hình người. Có bậc trí giả đến bảo con rằng : “Nếu cố sẩy thai, người này hiện đời, mắc báo bệnh nặng, mạng sống ngắn ngủi, chết đọa A-tỳ, chịu khổ não lớn”. Nay con suy nghĩ, rất sanh buồn sợ. Cúi xin Thế Tôn, đem sức Từ bi, vì con nói pháp, cho con xuất gia, để khỏi khổ ấy.

    Lúc đó, Đức Phật Phổ Quang Chánh Kiến bảo nàng Điên Đảo :

    – Trên thế gian có năm thứ ác nặng, sám hối khó diệt. Những gì là năm ? Một là giết cha. Hai là giết mẹ. Ba là giết thai. Bốn là làm cho thân Phật chảy máu. Năm là phá sự hòa hợp của Tăng.

    Khi ấy, người nữ có tên Điên Đảo, kêu khóc nghẹn ngào, nước mắt như mưa, năm vóc gieo xuống, lăn lộn trước Phật, và bạch lên rằng :

    – Lạy Đức Thế Tôn, từ bi rộng lớn, cứu hộ tất cả, cúi xin Thế Tôn, thương xót nói pháp.

    Đức Phật Phổ Quang Chánh Kiến Như Lai bảo một lần nữa :

    – Nghiệp ác của ngươi, rồi sẽ sa đọa, địa ngục A-tỳ, không sao dừng ngớt. Trong địa ngục nóng, tạm gặp gió lạnh, tội nhân tạm mát, trong địa ngục lạnh, tạm gặp gió nóng, tội nhân tạm ấm. Địa ngục A-tỳ, không có điều đó, lửa trên suốt xuống, lửa dưới suốt lên, bốn bề vách sắt, trên đặt lưới sắt, bốn cửa Đông Tây, có lửa nghiệp mạnh, nếu chỉ một người, thân cũng đầy ngục, thân to lớn đến tám vạn do tuần, nếu đông nhiều người, cũng đều đầy ngục. Khắp thân tội nhân, có rắn sắt lớn, khổ độc của nó, hơn cả lửa mạnh, lại có chim sắt, mổ thịt tội nhân, hoặc có chó đồng, nhai thân tội nhân, ngục tốt đầu trâu, tay cầm binh khí, phát tiếng hung tợn, như tiếng sấm sét, bảo tội nhân rằng : “Ngươi cố giết thai, phải chịu khổ này !”… Ta nếu nói sai, chẳng phải là Phật.

    Nữ nhân Điên Đảo, nghe Phật nói rồi, té xỉu xuống đất, lần hồi tỉnh lại, tiếp bạch Phật rằng :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Chỉ một mình con, chịu đau khổ này, hay chúng sanh nào, cũng chịu khổ ấy ?

    Phổ Quang Như Lai bảo với Điên Đảo :

    – Con ngươi trong thai, hình người đầy đủ, ở giữa hai nơi, ruột non ruột già, giống như địa ngục, bị hai tảng đá, đè ép thân thể. Nếu mẹ ăn nóng, như địa ngục nóng, mẹ ăn thức lạnh, như địa ngục lạnh, trọn ngày khổ đau. Ở trong vô minh, ngươi còn ác tâm, cố uống thuốc độc ! Nghiệp ác của ngươi, tự đọa A-tỳ. Tội nhân địa ngục, chính ngươi đồng bọn.

    Cô gái Điên Đảo, lại một lần nữa, khóc thưa Đức Phật :

    – Con nghe người trí, có nói lời rằng : “Nếu tạo điều ác, gặp Phật và Tăng, sám hối liền diệt. Giả như chết rồi, vào các địa ngục, tạo chút ít phước, trở lại sanh thiên”. Ý ấy thế nào, xin vì con dạy.

    Đức Phật Phổ Quang Chánh Kiến Như Lai bảo Điên Đảo rằng :

    – Nếu có chúng sanh, tạo các tội nặng, gặp Phật hoặc Tăng, chí thành sám hối, không tạo lại nữa, tội được tiêu diệt. Giả sử mạng chung, vua Diêm Ma La, tra hỏi chưa định, mà những người sống, quyến thuộc kẻ mất, thỉnh Phật mời Tăng, trong vòng bảy ngày, chuyển đọc Kinh điển, Phương đẳng Đại thừa, đốt hương rải hoa, sẽ có Diêm sứ, kiểm lại thiện ác, cầm phan năm sắc, đến chỗ Diêm vương, trước sau phan đó, ca vịnh tán thán, phát tiếng vi diệu, hòa nhã thuận thiện, bảo Diêm vương rằng : “Người này chứa thiện”.

    Hoặc nhiều người chết, nội trong bảy ngày, do lúc còn sống, tin theo tà đạo, nhận thức điên đảo, chẳng tin Phật pháp, Kinh điển Đại thừa, không lòng hiếu thảo, không tâm từ bi, sẽ có Diêm sứ, cầm lá phan đen, trước sau phan đó, vô số ác quỷ, báo Diêm vương rằng : “Kẻ này chứa ác”.

    Đang lúc bấy giờ, Diêm La pháp vương, thấy lá thần phan, năm sắc đưa đến, lòng rất vui vẻ, lên tiếng xướng rằng : “Nguyện tội thân ta, cũng đồng người lành”. Ngay trong lúc ấy, giữa các địa ngục, biến thành suối trong, núi đao rừng kiếm, như hoa sen mọc, tất cả tội nhân, đều hưởng vui sướng. Nếu thấy phan đen, Diêm vương tức giận, tiếng ác rung chuyển, đem các tội nhân, giao mười tám ngục, hoặc lên cây gươm, hoặc vào núi đao, hoặc nằm giường sắt, hoặc ôm trụ đồng, trâu sắt cày bừa, xay, nghiền, mài, giã, một ngày một đêm, muôn lần chết sống, cho đến lần lượt, đọa ngục A-tỳ, chịu đau khổ lớn, kiếp này kiếp khác, không hề dừng nghỉ.

    Khi Đức Phổ Quang Chánh Kiến Như Lai nói chưa dứt lời, thì giữa hư không, có tiếng hung tợn, gọi lớn lên rằng : “Nữ nhân Điên Đảo ! Ngươi cố giết thai, mắc báo đoản mạng, ta là sứ quỷ, cố đến bắt ngươi !”.

    Người nữ Điên Đảo, kinh ngạc buồn khóc, ôm chân Đức Phật, kêu cứu lên rằng :

    – Cúi xin Thế Tôn, vì con nói rộng, nhân duyên diệt tội, trong kho giáo pháp, của các Đức Phật, dầu chết con cũng sẽ làm xong nguyện.

    Bấy giờ, Phổ Quang Chánh Kiến Như Lai, dùng thần lực Phật, bảo sứ quỷ rằng :

    – Sát quỷ Vô thường ! Nay ta muốn vì nữ nhân Điên Đảo, nói Kinh Diệt Tội, thọ mạng lâu dài, hãy đợi chốc lát, tự sẽ chứng biết.

    Chánh Kiến Như Lai dạy bảo người nữ :

    – Ngươi hãy lóng nghe ! Ta sẽ vì ngươi, y cứ hàng ngàn Đức Phật quá khứ, nói Kinh Trường Thọ, là pháp bí yếu, của các Đức Phật, khiến cho bọn ngươi, lìa khỏi đường ác.

    Điên Đảo nên biết ! Sát quỷ vô thường đây, lúc nào cũng thường, rình tìm bắt người, khó mong thoát khỏi. Dẫu có vô lượng, trăm ngàn vàng ngọc, lưu ly, xa cừ, xích châu, mã não, mà đem chuộc mạng, cũng không thể được. Giả sử vua chúa, thái tử, quan lớn, trưởng giả v.v… cậy thế lực mình, nhưng rồi một khi, quỷ vô thường đến, cắt đứt mạng quý, không một người nào, có thể thoát khỏi. Điên Đảo nên biết ! Chỉ một chữ Phật, mới có thể khỏi, cái khổ lớn này.

    Hỡi này Điên Đảo ! Trên đời có hai hạng người dõng mãnh, rất là hiếm có, như hoa Ưu-đàm, khó thể gặp gỡ. Một là hạng người không làm điều ác. Hai là có tội liền hay sám hối. Hai hạng như vậy, rất là hiếm có. Ngươi đã dốc lòng, sám hối với Ta, Ta sẽ vì ngươi, nói Kinh Trường Thọ, khiến ngươi khỏi khổ, vì quỷ vô thường.

    Điên Đảo nên biết ! Trong đời sau này, lúc năm trược loạn, nếu có chúng sanh, tạo năm tội nặng : Giết cha, hại mẹ, thuốc độc trục thai, phá tháp hủy chùa, đập đổ tượng Phật, phá hòa hợp Tăng. Những chúng sanh nào, tạo các tội lỗi, ngũ nghịch như thế, nếu luôn thọ trì, Kinh Trường Thọ này, biên chép đọc tụng, tự mình biên chép, bảo người biên chép, vẫn được diệt tội, sanh về Phạm Thiên, huống gì nay người được thân thấy Ta.

    Lành thay Điên Đảo ! Ngươi về vô lượng số kiếp xa xưa, gieo các căn lành, nay Ta nhân lời ngươi khéo thưa hỏi, ân cần sám hối, tức được chuyển thành, pháp luân Vô thượng, hay độ vô biên, biển khổ sống chết, có thể chiến đấu, với ma Ba Tuần, có thể xô ngã, tràng phan dựng lập, của ma Ba Tuần. Ngươi hãy nghe kỹ; Ta sẽ nương theo, chư Phật quá khứ, nói về giáo pháp, Mười hai nhân duyên.

    Vô minh duyên Hành, Hành duyên cho Thức, Thức duyên Danh sắc, Danh sắc duyên Lục nhập, Lục nhập duyên Xúc, Xúc duyên cho Thọ, Thọ duyên cho Ái, Ái duyên cho Thủ, Thủ duyên cho Hữu, Hữu duyên cho Sanh, Sanh duyên Lão tử, ưu bi khổ não…

    Nếu Vô minh diệt, ngay đó Hành diệt, Hành diệt tức Thức diệt. Thức diệt tức Danh sắc diệt. Danh sắc diệt tức Lục nhập diệt. Lục nhập diệt tức Xúc diệt. Xúc diệt tức Thọ diệt. Thọ diệt tức Ái diệt. Ái diệt tức Thủ diệt. Thủ diệt tức Hữu diệt. Hữu diệt tức Sanh diệt. Sanh diệt tức Lão, tử ưu bi khổ não diệt.

    Điên Đảo nên biết ! Tất cả chúng sanh, vì chẳng nhận ra, mười hai nhân duyên, do đó trôi lăn, trong biển sanh tử. Nếu có người nào, nhận ra diệu lý, mươi hai nhân duyên, chính là thấy Pháp, thấy Pháp cũng chính là thấy Đức Phật, thấy Phật chính là thấy được Phật tánh. Tại sao vậy ?

    Bởi vì chư Phật, lấy đó làm tánh. Nay ngươi được nghe, Ta nói pháp mười hai nhân duyên đây, là ngươi đã được, Phật tánh thanh tịnh, kham làm pháp khí. Ta sẽ vì ngươi, nói đạo Nhứt thừa, ngươi hãy tư duy, giữ gìn nhứt niệm. Nhứt niệm là nghĩa của tâm Bồ-đề, và tâm Bồ-đề, gọi là Đại thừa, chư Phật Bồ-tát, vì chúng sanh mà phân biệt nói ba, ngươi hãy từng niệm, thường siêng giữ gìn, tâm Bồ-đề ấy, chớ để quên mất.

    Giả sử có các rắn độc bốn đại, quỷ dữ năm ấm, ba độc tham sân si, giặc cướp sáu nhập, tất cả các ma, tìm đến khuấy nhiễu, chẳng thể biến đổi tâm Bồ-đề này. Nhân vì được tâm Bồ-đề như thế, mà thân như Kim cang, tâm như hư không, không gì trở ngại, chẳng thể hư hỏng. Do chẳng hư hỏng, cho nên liền được, Vô thượng Bồ-đề, sẵn đủ bốn đức, Thường, Lạc, Ngã, Tịnh, bèn hay xa lìa, sát quỷ vô thường, cùng những nổi khổ, sanh, già, bệnh chết, hoặc các địa ngục…

    Khi Đức Phổ Quang Chánh Kiến Như Lai, ở giữa đại chúng, nói pháp này thì trong khoảng không gian, sứ quỷ vô thường, nói lên lời rằng : “Con nghe Đức Phật, nói giáo pháp này, địa ngục thanh tịnh, biến thành ao sen. Nay con hiện bỏ cảnh giới sứ quỷ”. Quỷ lại nói thêm : “Hỡi này Điên Đảo ! Khi ngươi đắc đạo, xin tế độ tôi”.

    Bấy giờ, Đức Phật Phổ Quang Chánh Kiến lại bảo cô gái có tên Điên Đảo :

    – Ta đã vì ngươi, nói về mười hai nhân duyên xong rồi, lại vì ngươi nói sáu Ba-la-mật. Sáu Ba-la-mật là : Trí tuệ Ba-la-mật, Thiền định Ba-la-mật, Tinh tấn Ba-la-mật, Nhẫn nhục Ba-la-mật, Trì giới Ba-la-mật, Bố thí Ba-la-mật. Sáu Ba-la-mật này, ngươi nên thọ trì.

    Lại vì ngươi nói bài kệ thành Phật, của các Đức Phật về thời quá khứ, bài kệ đó là :

    Các hành đều vô thường,
    Vì là pháp sanh diệt,
    Sanh diệt nếu diệt rồi,
    Tịch diệt là an vui.

        Ngay trong lúc ấy, nữ nhân Điên Đảo, nghe pháp vui mừng, tâm bừng sáng lặng, tỉnh ngộ tỏ rõ. Do thần lực Phật, bèn bay lên không, cao hàng trăm thước, an tâm lặng ngồi.

    Bấy giờ, có một vị Bà-la-môn, thuộc giòng tộc lớn, trong nhà rất giàu, không ai sánh kịp, bỗng mang bệnh nặng. Thầy thuốc xem bệnh, cần tròng mắt người, hòa với thuốc tốt, trị liệu mới lành. Đại trưởng giả này, liền sai tôi tớ, đi khắp các đường, lớn tiếng rao rằng : “Người nào có thể, nhẫn chịu đau đớn, bán đôi tròng mắt, sẽ trả ngàn vàng, kho tàng quý giá, mặc tình sử dụng, không hề lẫn tiếc…”

    Nữ nhân Điên Đảo, nghe lời nói này, lòng rất mừng rỡ, và tự nghĩ rằng : “Nay ta từ nơi Đức Phật, được nghe Kinh Trường Thọ mà dứt trừ nghiệp ác, tâm đã tỏ rõ, ngộ ra Phật tánh, lại được lìa khỏi, sát quỷ vô thường, và khổ địa ngục, ta nên nghiền thân, đáp đền ơn Phật…”. Nghĩ xong lớn tiếng, xướng lên lời rằng : “Tuổi ta nay đã được bốn mươi chín, theo Phật nghe pháp, tên Kinh Trường Thọ, nay muốn nát thân, không tiếc xu mệnh, chép Kinh Trường Thọ, bốn mươi chín quyển, muốn cho chúng sanh, thọ trì đọc tụng. Ta cần bán mắt, để tả Kinh này, mắt ta vô giá, mặc tình cho người, tùy ý trả giá”.

    Lúc ấy, vị trời Đế Thích, với các Thiên tử, đồng hóa ra bốn mươi chín người đời, đến chỗ Điên Đảo, nói với người rằng : “Ta nguyện vì ngài, biên chép Kinh ấy, ngài xem xong rồi, tha hồ bán mắt”.

    Nữ nhân Điên Đảo, lấy làm may mắn, mừng rỡ vô hạn, chẻ xương làm viết, xẻ thịt tay chân, lấy máu làm mực, cung cấp người viết, trong vòng bảy ngày, biên chép Kinh xong. Mọi người chép rồi, thưa Điên Đảo rằng : “Trước đây người hứa, bán đôi tròng mắt, công chúng tôi xong, xin giao đôi ngươi, chúng tôi đem bán cho Bà-la-môn”.

    Lúc ấy, nữ nhân Điên Đảo ra lệnh kẻ Chiên-đà-la moi con ngươi ra, đem giao cho bốn mươi chín người và chia y một phần. Gã Chiên-đà-la, theo cách muốn khoét, thì bốn mươi chín người, đều xướng lên rằng :

    – Hiếm có ! Hiếm có ! Chẳng thể nghĩ bàn ! Vị nữ Điên Đảo, chẻ xương lấy máu, ghẻ lở nhơ uế, mà vẫn hay nhẫn, biên chép Kinh này, chúng ta nỡ nào lấy đôi tròng mắt !

    Rồi các vị này, do lòng từ bi, bạch Điên đảo rằng :

    – Chúng tôi trọn chẳng ham tròng mắt ngài, để đem bán cho người Bà-la-môn, mong ngài đắc đạo, sẽ độ chúng tôi. Nguyện cho chúng tôi, bất cứ nơi nào, trong kiếp lai sanh, thường được cùng ngài, đồng chung một chỗ, làm thiện tri thức, tuyên nói Kinh này, cứu độ tất cả, chúng sanh tội khổ.

    Bấy giờ, Long vương Nan-đà v.v… dùng oai lực lớn, hóa các huyễn thuật, lấy trộm Kinh của nữ nhân Điên Đảo, để trong Long cung, thọ trì cúng dường.

    Nữ nhân Điên Đảo, chỉ trong phút chốc, chợt chẳng thấy Kinh, rơi lệ nghẹn ngào, bèn bạch Đức Phật :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Con xẻ thân ra, chép Kinh Trường Thọ, muốn khiến lan rộng, tất cả chúng sanh, nay con bỗng nhiên, chẳng biết tại đâu ? Lòng con bối rối, buồn rầu khó nhẫn.

    Phổ Quang Như Lai bảo với Điên Đảo :

    – Những Kinh của ngươi, tám bộ Long vương, thỉnh về Long cung, thọ trì cúng dường, ngươi nên vui mừng, chớ nên buồn bã. Lành thay Điên Đảo ! Ngươi sẽ nhờ sức công đức này mà, hết tuổi thọ rồi, sanh lên cõi trời, thuộc Vô sắc giới, hưởng mọi vui sướng, mãi mãi chẳng còn, làm thân nữ nhân.

    Khi ấy, Điên Đảo bạch lên Đức Phật :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Sở nguyện của con, chẳng muốn sanh về cõi trời Vô sắc, chỉ nguyện đời đời kiếp kiếp, luôn luôn được gặp Thế Tôn, tâm Phật chẳng thoái, bất cứ chỗ nào, cũng vì tất cả chúng sanh tội khổ, mà tuyên dương pháp này.

    Phật Phổ Quang bảo :

    – Lời ngươi dáng dối.

    Điên Đảo lại thưa :

    – Nếu con nói dối, thì xin như trước, bị quỷ vô thường, đến bắt bức ngặt. Con nếu thật tâm, xin những lở lói, trong thân của con, đối trước Đức Phật, đều trừ lành hết.

    Ngay đó Điên Đảo, do sức thệ nguyện, lành lại như cũ.

    Phổ Quang Như Lai bảo Điên Đảo rằng :

    – Ngươi hãy một lòng niệm Phật, thì sẽ từ một Phật quốc, đến Phật quốc khác, ngươi liền có thể, nhìn thấy vô lượng, vô biên thế giới, của các Đức Phật, chẳng thể nghĩ bàn, mà chẳng cần đến, văn tự lời lẽ.

    Lúc đó Điên Đảo, chỉ trong khoảnh khắc, liền chứng được tâm Vô thượng Bồ-đề, Vô sanh Pháp nhẫn.

    Đức Thế Tôn bảo ngài đại Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi :

    – Văn Thù nên biết, Phổ Quang Như Lai chính là thân Ta, nữ nhân Điên Đảo là thân ông vậy, bốn mươi chín người, là những Bồ-tát, vừa mới phát ý. Ta về quá khứ, vô lượng vô biên, kiếp xưa trở lại, vì sự hộ thân, mà Ta luôn luôn, cùng với các ông, tuyên nói Kinh này, khiến cho tất cả chúng sanh, người nào có những nghiệp ác, nghe lọt vào tai, dù nửa bài kệ, của Kinh Trường Thọ trên đây, đều được diệt tội, nay lại nói thêm.

    Bấy giờ, vua Ba-tư-nặc, ngay trong đêm ấy, tại giữa vương cung, nghe một người nữ, lớn tiếng khóc ròng, tiếng khóc não nề, người nghe khó nhẫn, buồn không kể xiết. Vua tự nghĩ rằng : “Thâm cung của ta, chưa bao giờ có sự việc như vầy, vì sao có tiếng bi ai thế kia ?”. Lúc vừa sáng sớm, sai các quan chức, đi nhiều ngã đường, tìm người nữ ấy.

    Sứ vâng lệnh vua, tìm được đưa về, người nữ kinh ngạc, ngất xỉu trước vua, vua lấy nước lạnh, rưới lên trên mặt, hồi lâu tỉnh dậy, ngài mới hỏi rằng :

    – Đêm qua kêu khóc, có phải ngươi chăng ?

    Người phụ nữ đáp :

    – Vì tôi nhức tai.

    Nhà vua hỏi tiếp :

    – Cớ gì oán khóc, ai xâm phạm ngươi ?

    Nữ nhân đáp rằng :

    – Tôi tự ân hận, không ai xâm phạm. Cúi xin nhà vua cho phép tôi nói.

    Tôi mười bốn tuổi, đã làm vợ lớn, của bên nhà chồng, qua ba mươi năm, sanh ba mươi con, dung mạo đẹp lạ, tóc màu xanh biếc, tay đỏ như son, răng trắng như ngọc, thân thể đầy đặn như hoa mùa xuân. Tôi luyến mến chúng dường như tủy não, như gan ruột mình, hơn cả tánh mạng. Chúng vừa lớn lên, chẳng hơn một tuổi, vào lúc Thu, Hè bỏ tôi mà chết. Đứa con sau cùng, hơn cả mạng tôi, hiện nay nó lại đang bị nguy khốn, mạng sắp sửa mất, cho nên đêm qua, tôi mãi kêu khóc, nhức cả lỗ tai.

    Vua Ba-tư-nặc, nghe được lời ấy, ông rất buồn bã, thầm tự xét rằng : “Thứ dân trăm họ, nương nhờ nơi ta, nếu chẳng cứu giúp, sao gọi là vua ?”. Liền nhóm các quan, cùng nhau bàn luận. Nhà vua có sáu vị quan đại thần. Một là Kiến Sắc. Hai là Văn Thinh. Ba là Hương Túc. Bốn là Biện Tài. Năm là Tùy Duyên. Sáu là Dị Nhiễm. Họ tâu với vua :

    – Trẻ nít mới sanh, nên bày sắm lễ, Thần Đàn diên mạng, bảy vị tinh quân, hai mươi tám vị sao, mới khỏi nạn khổ, cúi xin nhà vua ra lệnh khắp nước…

    Khi ấy, có một vị quan sáng suốt, đã từng ở chỗ, vô lượng Đức Phật, vun trồng căn lành, tên là Định Huệ, ra thưa với vua :

    – Đức vua nên biết, lời sáu vị quan, chẳng thể cứu khổ. Nay có Đại sư, họ là Cù-đàm, hiệu Tất-đạt-đa, không thầy tự ngộ, đã được thành Phật, hiện ở Linh-thứu, nói Kinh Trường Thọ, cúi xin đức vua, qua đó nghe nhận. Nếu nghe Kinh này, nửa kệ qua tai, không một tội nào, mà chẳng tiêu diệt. Tất cả trẻ con, nghe lọt vào tai, dầu chưa ngộ hiểu, do công đức Kinh, tự nhiên sống lâu.

    Vua Ba-tư-nặc nói :

    – Trước đây ta từng nghe lục sư nói : “Sa-môn Cù-đàm, học hỏi cạn cợt, mặt còn trẻ trung, tuổi tác còn nhỏ. Trong những kinh của lục sư nói rằng : “Người hay làm trò, huyễn hóa yêu mị, là Cù-đàm vậy, nếu ai tôn sùng, phần nhiều bỏ mất, con đường chơn chánh”.

    Vị quan Định Huệ, dùng kệ thưa vua :

    Thích Ca Mâu Ni, thầy trời người,
    Từng vô lượng kiếp tu khổ hạnh,
    Nay được thành Phật, chuyển pháp luân,
    Lại nương chư Phật quá khứ nói,
    Chẳng trái nguyện của khắp chúng sinh,
    Sức từ bi lớn cứu loài mê,
    Gặp Phật khó như rùa gặp bọng,
    Cũng như gặp hoa mầu Ưu-đàm,
    Cúi xin nhà vua qua nghe pháp,
    Chớ tin lời lục sư ngoại đạo.

    Đại thần Định Huệ, nói kệ ấy rồi, do sức thần thông, vọt khỏi mặt đất, bay lên hư không, cao hàng trăm thước, liền ở trước vua, làm các chú thuật, trong khoảng một niệm, khiến núi Tu-di và nước biển lớn, vào hết trong tâm, an nhiên vô ngại.

    Vua Ba-tư-nặc, thấy việc này rồi, khen rất hiếm có : “Đây mới đúng là, chơn thiện tri thức”, liền lạy Định Huệ, thưa với người rằng :

    – Thầy ông là ai ?

    Ngài Định Huệ đáp :

    – Thầy tôi là Phật Thích Ca Mâu Ni, hiện nay ở tại, đại thành Vương Xá, trong núi Linh-thứu, đang nói về Kinh Trường Thọ Diệt Tội.

    Vua nghe lời này, lòng rất mừng rỡ, liền đem việc nước, tạm giao Định Huệ, vua cùng quyến thuộc, các quan, trưởng giả, xe báu bốn ngựa, trước sau vây quanh, và người phụ nữ, với con của bà, cầm những tràng hoa, trăm thứ cúng dường, đến thành Vương Xá, vào núi Linh-thứu. Vua bỏ vương phục, quanh Phật bảy vòng, chắp tay cúi lạy, rải hoa cúng dường, đem hết câu chuyện, của người phụ nữ, bạch lên Đức Phật.

    Đức Thế Tôn bảo vua Ba-tư-nặc :

    – Người phụ nữ này, về đời quá khứ, thân làm mẹ ghẻ, tâm sanh ganh tỵ, hòa hợp thuốc độc, giết con vợ trước đến ba mươi đứa, những đứa bị giết đều phát thề rằng : “Nguyện ta đời đời kiếp kiếp sau này, thường làm con bà, bèn chia ly ngay, khiến bà khổ sở, một cách đau đớn”. Bây giờ người nữ, đến đây được nghe, Như Lai nói Kinh Thọ Mạng lâu dài, bài kệ vào tai, oan gia trái chủ, từ đây dứt hẳn.

    Bấy giờ, Đức Phật bảo khắp đại chúng :

    – Khi một người nữ nào đó thọ thai, thì ma Ba Tuần, thả bốn rắn độc, thuộc về bốn đại, giặc ác sáu trần, vào thân người ấy. Một đại chẳng điều, mạng căn liền diệt. Như Lai có Đà-la-ni thần chú, có thể tăng thêm, mạng sống tuổi thọ, cho các trẻ con, nếu ai lo khổ, nghe chú của ta, qua tai một lần, thì không bệnh gì, mà chẳng trừ lành, hay khiến quỷ dữ, bỏ chạy tứ tán.

    Đức Thế Tôn liền nói thần chú rằng :

    Ba đầu di, ba đầu di đề tỳ hề ni hề ni, hề di da lê, gia la gia lệ, hầu la hầu la, do lệ do la, do lệ ba la, ba lệ văn, chế sân diệt, tần diệt bát thệ mạt diệt trì na ca lê, ta bà ha.

    Đức Phật nói tiếp :

    – Văn cú của chú Đà-la-ni này, nếu kẻ thiện nam, người thiện nữ nào, thọ trì đọc tụng, vì tất cả những trẻ thơ bệnh hoạn, lúc còn trong thai, sau khi ra thai, mà đem diễn nói, bảy ngày bảy đêm, đốt hương, rải hoa, biên chép cúng dường, hết lòng nghe nhận, thì những bệnh nặng, nghiệp chướng thân trước, đều được tiêu diệt.

    Bấy giờ, có ngài Bồ-tát y vương – vua trong ngành thuốc, tên là Kỳ-bà, đối trước Đức Phật, bạch với Ngài rằng :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Con là một bậc, thầy thuốc đại tài, chữa trị các bệnh, những đứa trẻ thơ, có chín loại bệnh, làm chúng đoản mạng. Thế nào là chín ?

    Một là những kẻ, làm cha làm mẹ, chung chạ trái lúc.

    Hai là trong lúc, mới sanh đẻ con, để máu dơ đất, thần đất bỏ đi, ác quỷ tiện dịp.

    Ba là mới sanh, chẳng bỏ trùng độc, bé nhỏ trong rún.

    Bốn là chẳng lấy bông mịn chùi sạch máu dơ trong thai.

    Năm là giết hại sanh mạng, để làm yến tiệc ăn mừng.

    Sáu là mẹ của đứa bé, ăn nhiều trái tạp chất lạnh.

    Bảy là hài nhi có bệnh, cho ăn cá thịt tạp nhạp.

    Tám là mới sanh, mẹ con chưa an, để cho những người chẳng lành, nhìn thấy chỗ nơi sanh đẻ. Chưa phân an nguy, có thể làm cho, người mẹ bị chết. Phân an nguy rồi, có thể làm cho, đứa con bị chết. Thế nào gọi là, những người chẳng lành ? Nếu như có người, mắt vừa nhìn thấy, thây chết nào đó, hoặc là thấy những tai biến quái dị, mắt họ bất tịnh, cho nên gọi là, hạng người chẳng lành. Gặp trường hợp này, nếu dùng vị thuốc Ngưu hoàng, Châu sa, nghiền thành ra bột, trộn với mật ong, đặt ngay tại tim đứa bé, có thể khỏi điềm chẳng lành.

    Chín là ban đêm ẵm trẻ tới lui, bị quỷ dữ đánh.

    Những trẻ sơ sinh, nếu luôn cẩn thận, chín việc như trên, thì chúng trọn chẳng đến đỗi chết mất.

    Giữa lúc bấy giờ, thiên ma Ba Tuần, có Tha tâm thông, ở trong cung ma, biết Phật nói Kinh Trường Thọ Diệt Tội, và Đà-la-ni, cứu hộ trẻ thơ, thì lòng tức giận, phát tiếng dữ dội, lo buồn chẳng vui. Ma vương có ba con gái tuyệt đẹp, ra thưa cha rằng :

    – Chẳng hay vua cha, cớ gì buồn rầu ?

    Ma vương liền đáp :

    – Sa-môn Cù-đàm, ở thành Vương Xá, trong núi Linh-thứu, đang vì vô lượng, vô biên chúng sanh, nói Kinh Trường Thọ, lan rộng cho khắp tất cả chúng sanh, được vui sống lâu, xâm cảnh giới ta, ta khởi ác tâm, nay muốn đem các quyến thuộc binh ma, đến nơi dẹp trừ. Giả sử chẳng thể ngăn cản Cù-đàm, thì oai lực ta, có thể cản ngăn, bịt tai tất cả, chư Thiên đại chúng, chẳng để cho họ nghe Phật nói Kinh Trường Thọ Diệt Tội.

    Khi ấy, ba người con gái, con của Ba Tuần, dùng kệ can cha :

    Ba con của thiên ma Ba Tuần,
    Cúi đầu trước mặt, thưa với cha,
    Sa môn Cù-đàm, thầy trời người,
    Chẳng phải sức ma hay ngăn cản,
    Ngày trước, dưới gốc cây Bồ-đề,
    Khi Ngài mới ngồi tòa kiết tường,
    Ba đứa chúng con rất xinh đẹp,
    Đệ nhứt trong các hàng thiên nữ,
    Trăm cách cử chỉ gợi dục tình,
    Bồ-tát đều không ý đắm nhiễm,
    Xem ba chúng con như mụ già,
    Nay thành bực thầy Vô thượng giác,
    Vua cha giương cung toan hù doạ,
    Gậy gộc, binh khí bủa hư không,
    Bồ-tát xem như trò trẻ nít,
    Không một chút tâm sợ thoái lui,
    Ngày thành đạo làm vua pháp,
    Cúi xin vua cha dứt ác tâm.

    Lúc ấy, thiên ma Ba Tuần, nghe con nói kệ, liền đem quyến thuộc, lén bàn nhau rằng : “Ta với các ngươi đồng đến chỗ Phật, dùng phương tiện khéo, giả vờ thua cuộc, chịu quy hàng Phật, để Phật tin dùng. Nếu được tin rồi, sẽ làm mọi cách ma sự, chướng ngại Kinh này”.

    Ngay đó thiên ma, cùng với quyến thuộc, đồng đến chỗ Phật, quanh Phật bảy vòng, rồi bạch lên rằng :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Thế Tôn nói pháp, không mỏi mệt chăng ? Nay con lãnh đạo, các quyến thuộc ma, đến đây nghe Kinh Trường Thọ Diệt Tội, làm đệ tử Phật, cúi mong Thế Tôn, chớ trái nguyện con.

    Bấy giờ, Đức Phật quở trách Ma vương :

    – Ngươi ở cung ma, tâm sanh giận tức, dầu được đến đây, cũng chỉ giả vờ, rút lui quy hàng. Trong giáo pháp Ta, chẳng chấp nhận sự lừa dối của ngươi.

    Thiên ma Ba Tuần, lấy làm xấu hổ, gương mặt thất sắc, rồi bạch Phật rằng :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Con tính kế ngu, làm điều dối trá, xin Đức Thế Tôn, với lòng đại bi, tha thứ tội lỗi. Nay con được nghe, Kinh chú Trường Thọ Bảo Vệ Trẻ Thơ, con xin phát nguyện :

    Nếu đời sau này, người nào thọ trì, Kinh Trường Thọ đây, biên chép đọc tụng, bất cứ chỗ nào, con cũng ủng hộ, không để ác quỷ, rình tìm tiện lợi. Dầu ở địa ngục, nếu tội nhân nào, trong khoảng giây lát, nhớ nghĩ Kinh này, con sẽ sử dụng, thần lực vĩ đại, lấy nước biển lớn, tưới xuống tội nhân, khiến địa ngục lớn, biến thành ao sen.

    Bấy giờ, lại có La-sát, ăn thịt con nít v.v… làm bậc thủ lãnh, cùng các quyến thuộc, đồng loại với mình, từ trên không xuống, đi quanh bên hữu Đức Phật nhiều vòng, rồi bạch lên rằng :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Con từ vô lượng kiếp trở lại đây, chịu thân La-sát, quyến thuộc của con, nhiều như hằng sa, người nào cũng bị, đói khát ép ngặt, chỉ ăn thai non, trong bốn đại châu, và ăn máu thịt, con nít mới sanh. Quyến thuộc chúng con, rình chờ chúng sanh, vợ chồng giao hợp, rồi ăn tinh họ, khiến không thọ thai. Hoặc trong bào thai, con cũng theo vào, làm cho sẩy thai, rồi ăn tinh huyết. Mới sanh bảy ngày, chúng con chuyên rình, tìm dịp tiện lợi, dứt mạng căn chúng, cả đến trẻ con, mười tuổi cũng vậy. Quyến thuộc chúng con, biến làm những thứ, vi trùng độc hại, vào trong thai nhi, ăn tinh huyết trong tạng phủ đứa bé, khiến cho hài nhi ọc sữa, tiêu chảy, hoặc bị bụng lớn, hoặc bị nóng lạnh, tròng mắt có mủ, cho đến lần lần, dứt mạng của chúng.

    Nay đây chúng con, nghe Đức Thế Tôn, nói Kinh Trường Thọ, diệt các tội chướng, bảo vệ trẻ thơ. Vâng theo những lời, Đức Thế Tôn dạy, thì quyến thuộc con, bị đói bức ngặt, chẳng dám ăn nuốt.

    Phật bảo La-sát :

    – Các ngươi nên thọ, cấm giới của Ta, sẽ khiến các ngươi, bỏ thân La-sát, sanh về cõi trời, hưởng sự vui sướng.

    Đức Thế Tôn bảo toàn thể đại chúng :

    – Nếu có trẻ nít, bị mắc bệnh khổ, bảo mẹ đứa bé, chia sữa nhiều giọt, cho giữa khoảng trống, thí các La-sát, và nên thanh tịnh, trì Kinh Trường Thọ Diệt Tội Đà La Ni, biên chép cúng dường, thì bệnh trừ lành.

    Khi ấy, số đông các quỷ La-sát, rất là mừng rỡ, bạch Đức Phật rằng :

    – Ví được sanh thiên, quyến thuộc chúng con, trọn chẳng xâm tổn, sữa các trẻ thơ. Thà ăn hoàn sắt, trọn chẳng thể ăn máu các hài nhi.

    Sau Phật diệt độ, nơi nào có thể, đọc tụng thọ trì, Kinh Trường Thọ này, nếu có kẻ ác, quấy rối Pháp sư, hoặc có ác quỷ, phá các trẻ thơ, chúng con sẽ cầm, những chày kim cang, để bảo vệ trẻ, chẳng cho ác quỷ, được dịp tiện lợi.

    Bấy giờ, tất cả vua lớn các trời, và quyến thuộc mình, tất cả chúa rồng, các vua Dạ-xoa, vua A-tu-la, vua Ca-lầu-la, vua Khẩn-na-la, vua Ma-hầu-la-già, vua Bế-lệ-da, vua A-tỳ-xá-giá, vua Phú-đơn-na, cho đến vua Ca-tra Phú-đơn-na… Tất cả các vua, mỗi vị cùng với, toàn thể quyến thuộc, lễ lạy Đức Phật, đồng lòng chắp tay, nói lên như vầy :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Chúng con từ nay, bất cứ chỗ nào, có thầy Tỳ-kheo, hay Tỳ-kheo ni, các cận sự nam, hay cận sự nữ, hễ ai thọ trì, Kinh Trường Thọ này, hoặc chỉ biên chép, quyến thuộc chúng con, thường sẽ bảo vệ. Các vua chúng con, xua đuổi ác quỷ, có quỷ dữ nào, khuấy rối chúng sanh, khiến mắc bệnh khổ, nếu hay thanh tịnh, viết trì Kinh này, các vua chúng con, cấm chỉ các quỷ, chẳng cho gây hại, bị khổ chết ngang.

    Khi đó, có vị địa thần Kiên Lao, từ tòa đứng dậy, bạch Đức Phật rằng :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Nếu đệ tử Phật, thọ trì bổn Kinh Trường Thọ Diệt Tội, hộ các trẻ con, địa thần chúng con, thường cho chất đất, thấm nhuần nơi ấy, khiến trong thân họ, tăng thêm thọ mạng. Chúng con thường đem, các thứ vàng bạc, các thứ của báu, những loại thóc gạo, cung cấp đầy đủ, cho người có lòng tin, không để thiếu thốn, thân được an ổn, không hề rầu lo, tâm thường vui vẻ, được ruộng phước tốt, không để ác quỷ, dứt mạng căn họ. Nếu các hài nhi, mới sanh bảy ngày, địa thần chúng con, sẽ ủng hộ chúng, không để mất mạng.

    Bấy giờ trong chúng, lực sĩ Kim Cang, bạch lên Đức Phật :

    – Kính bạch Thế Tôn ! Đức Như Lai nói về Kinh Trường Thọ Diệt Tội Hộ Các Đồng Tử Đà La Ni đây rồi, các đại thí chủ, và quyến thuộc mình, ai cũng phát tâm, thọ trì đọc tụng, biên chép Kinh này, cung cấp vật dùng, không để thiếu thốn. Con có được nghe, một đấng Thế Tôn, oai đức cao cả, nói đại thần chú, có oai lực lớn, chương cú kiết tường, nếu chúng sanh nào, nghe lọt vào tai, trăm kiếp ngàn đời, trọn chẳng đoản mạng, tuổi thọ không lường, chẳng các bệnh khổ, dẫu có bốn ma, cũng chẳng nghịch loạn, thọ mạng thêm lớn, sống lâu đến một trăm hai mươi tuổi, chẳng chết nửa chừng, chẳng bị thoái đọa. Tất cả Phật tử, khổ vì bệnh nặng, nghe đến chú này, liền khỏi các quỷ, đến đoạt mạng sống.

    Lực sĩ Kim Cang liền nói thần chú :

    Đa địa dạ tha. chiên đạt lị. chiên đạt ra tỳ để. Chiên đạt ra ma hồng. Chiên đạt ra bạt đế. Chiên đạt ra phủ lê. Chiên đạt ra xà di. Chiên đạt ra để khế. Chiên đạt phệ mễ. chiên đột lâu. Chiên đạt ra bà ra yết. Chiên đạt ra vật đạt khế. Chiên đạt ra bà địa di. Chiên đạt ra bà mễ. Chiên đạt ra khư chỉ. Chiên đạt ra lô ký. Ta bà ha.

    Đức Thế Tôn dạy :

    – Lành thay, Lành thay ! Lực sĩ Kim Cang ! Nay ông có thể, nói về thần chú kiết tường, hộ các trẻ con, ông sẽ trở thành, vị đại đạo sư, của khắp chúng sanh. Văn Thù nên biết, thần chú vừa rồi, được các Đức Phật quá khứ nói ra, dựng lập bảo vệ, khéo có thể tăng thọ mạng trời người, hay trừ tất cả, tội nhơ ác kiến, hay hộ tất cả, những người trì Kinh, kéo dài tuổi thọ.

    Bấy giờ, Đức Phật bảo đại Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi, đấng Pháp vương tử rằng :

    – Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, nếu có Tỳ-kheo, phá hỏng giới cấm, gần Tỳ-kheo ni, hay những gái trinh, hoặc Sa-di-ni, uống rượu ăn thịt, gian dâm lẫy lừng, bị hàng bạch y, chê bai khinh rẻ, hủy diệt pháp Phật, kinh doanh những việc, bất tịnh của đời, không lòng hổ thẹn, giống như khúc gỗ. Nên biết hạng này, là kẻ ngũ nghịch, chẳng phải đệ tử của Ta, mà là quyến thuộc của ma, là bọn lục sư. Hạng Tỳ-kheo ấy, ngay trong hiện đời, mắc báo đoản mạng, hạng Tỳ-kheo-ni, lại cũng như vậy. Nếu luôn sám hối, chẳng tái phạm lại, thọ trì Kinh này, liền được sống lâu.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, nếu có Bồ-tát, phỉ báng người khác, tự khen mình giỏi, chẳng trao truyền Kinh Phương Đẳng cho người, hạng Bồ-tát này, là bạn của ma, chẳng phải là hạng Bồ-tát chân thật. Nếu luôn hết lòng, thọ trì Kinh này, biên chép đọc tụng, tức được Pháp thân chơn thường của Phật.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, nếu có vua chúa, giết cha hại mẹ, tru lục sáu thân, không theo phép vua, dấy binh khắp nơi, xâm chiếm nước khác, tôi trung can gián, bị giết oan uổng, dâm dục lẫy lừng, trái phép tiên vương, phá tháp đập chùa, thiêu đốt kinh tượng, mưa nắng chẳng đều… Do vua vô đạo, cõi nước đói kém, ôn dịch chết chóc, diễn ra khắp nơi. Hạng vua chúa này, hiện đời đoản mạng, chết vào địa ngục, đọa đại A-tỳ. Nếu như có thể, biên chép Kinh này, lưu thông cúng dường, chí thành sám hối, theo phép vua trước, liền được sống lâu.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, nếu có quan lớn, hay các quan chức, thân hưởng lộc vua, không lòng hổ thẹn, siểm nịnh bất trung, chuyên làm lừa dối. Do hạng “tặc thần”, nên nước chẳng yên. Dẫu đến chỗ nào, cũng chẳng thi hành, pháp luật của nước, xâm lấn trăm họ, buông ý tham tàn, giết người vô tội, chiếm tài sản người, khinh lờn Kinh điển, ngăn chướng Đại thừa… Những hạng như trên, hiện đời đoản mạng, đọa ngục A-tỳ, không hẹn kỳ ra. Nếu như có thể, sám hối tội lỗi, thọ trì Kinh này, biên chép đọc tụng, liền được sống lâu, hưởng mãi lộc trời.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, kẻ cư sĩ nam, cư sĩ nữ nào, tin theo tà giáo, thấy biết điên đảo, chẳng tin Chánh pháp, Kinh điển Đại thừa, chúng sanh như vậy, dù có vô lượng, trăm ngàn vàng bạc, nhưng lòng tham tiếc, chỉ cầu tài lợi, chẳng hay cấp thí, cứu ngặt bất cứ kẻ nghèo khổ nào, chẳng hay biên chép, mười hai phần giáo, thọ trì đọc tụng, cầu khỏi vô thường, và khổ đường ác. Hạng người như thế, nhà cửa hư hao, chim quái xuất hiện, rắn vào nhà nằm, chó lên mái nhà, trăm tiếng chuột kêu, các loài dã thú, tranh nhau đến ngõ, nhiều quỷ ly mị, vọng lượng v.v… Đó gọi là quái. Do gặp quái nên, tâm bị buồn rầu, do nhân buồn rầu, chuốc lấy đoản mạng. Nếu hay thọ trì, biên chép Kinh này, lưu thông đọc tụng, ngay đó có thể, phá dẹp những thứ, quái gở như trên, được mạng sống lâu.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, tất cả những kẻ, trai gái lớn lên, (kẻ làm cha mẹ) vì sự thương xót, mà bị tâm bệnh. Tại vì sao thế ?

    Hoặc có thanh niên, bị sung quân dịch, luật vua như thế, không sao thoát khỏi, cha mẹ nhớ nhung, đó là tâm bệnh. Hoặc gái trưởng thành, gả về nhà người, nhưng bị khinh rẻ, trái đạo phu thê, cha mẹ nhớ thương, đó là tâm bệnh. Vì tâm bệnh nên, sầu lo khổ sở, buồn rầu nhóm bệnh, hiện đời mạng ngắn. Nếu hay biên chép, thọ trì Kinh này, được mạng sống lâu. Do oai lực Kinh, hôn nhân hòa thuận, tâm bệnh tiêu trừ.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, hầu hết chúng sanh, không tâm từ bi, sát sanh hại mạng, ăn mười thứ thịt, thân của mọi loài. Văn Thù nên biết, đó không khác gì, giết cha giết mẹ, ăn thịt bà con, hoặc vì giết mạng, mà lại phá thai, làm việc ấy nên, hiện đời đoản mạng. Giả sử những lúc, vợ chồng chăn gối, bị La-sát dữ, ăn nuốt bào thai, khiến không con cái. Nếu hay biên chép, thọ trì Kinh này, liền khỏi khổ ấy.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, hầu hết chúng sanh, chẳng biết kiếp trước, tạm được làm người, cho là sung sướng, bèn phỉ báng nhau, hoặc cậy quyền hào, đủ thứ ác tâm, xem nhẹ mạng người, chẳng tin Kinh điển, ngạo mạn Đại thừa. Người như thế đó, hiện đời đoản mạng. Nếu hay dốc lòng, tha thiết sám hối, điều phục tâm mình, biên chép Kinh này, thọ trì đọc tụng, do sức thiện căn, được mạng sống lâu. Giả sử có bệnh, cũng chẳng chết ngang.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, có nhiều chúng sanh, hoặc vâng lệnh vua, hoặc cha mẹ dạy, mà ở nước khác, hoặc nơi đường hiểm, để lo buôn bán, tìm kiếm của tiền, vì tài lợi mà, ngã mạn cống cao, đánh cờ đánh bạc, gần gũi điếm đàng, giao thiệp bạn ác, chẳng tuân lệnh vua, lời cha mẹ dạy, uống rượu ham dâm, táng thân mất mạng. Dẫu được tiền của, nhưng bị rượu mê, chẳng biết đường sá, thông nghẽn thế nào, sau phải bị lũ giặc ác cướp của, do đó hại mạng. Nếu hay biên chép, thọ trì Kinh này, phát thệ nguyện rộng, thì đến nơi nào, giặc ác cũng lui, sanh tâm vui mừng, những thú độc dữ, chẳng thể nhiễu hại, thân tâm an ổn, được nhiều hàng quý, do lực của Kinh, được mạng sống lâu.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, hầu hết chúng sanh, vì nghiệp ác nên chết vào địa ngục, từ địa ngục ra, chịu thân súc sanh, dẫu được làm người, sáu căn chẳng đủ, mù điếc, câm, ngọng, lùn xấu lưng gù, chịu thân người nữ, chẳng biết chữ Kinh. Nếu là thân nam, nhưng vì nghiệp ác, cho nên ngu si, căn tánh chậm lụt, chẳng thể chuyên đọc, Kinh Trường Thọ này, lòng sanh buồn rầu. Bởi buồn rầu nên gọi là tâm bệnh, do tâm bệnh nên, hiện đời mạng ngắn. Nếu có thể nhờ, bậc thiện tri thức, biên chép Kinh này, tự đem Kinh về, từ trước đến sau, một lòng tôn thờ, nhờ chí thành nên công đức vô lượng, nghiệp ác như trước, chẳng còn chịu lại, người này hiện đời, được mạng sống lâu.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, nếu có chúng sanh, sau khi chết mất, từ một ngày đến bốn mươi chín ngày, nếu vì người mất, mà gây dựng phước, công đức bảy phần, thì người mất chỉ hưởng được một phần. Nếu có thể khi người kia còn sống, trong bảy tuần nhựt, đình chỉ việc nhà, biên chép Kinh này, hoa hương cúng dường, thỉnh Phật, hoặc Tăng, sắm sanh trai phạn, được những công đức, như cát sông Hằng, người ấy hiện đời, được dài thọ mạng, lìa hẳn nỗi khổ, trong ba đường ác. Nếu đã chết rồi, thì nhờ nơi phước, của cải chính thân người ấy gầy dựng, mà được bảy phần.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, rất nhiều chúng sanh, bất hiếu ngũ nghịch, không lòng nhân từ, đối với cha mẹ, không tình âu yếm, chỉ thờ bà con. Bấy giờ trên không, bốn vị Thiên vương, quanh khắp bốn châu, nhiều thứ âm nhạc, đem theo quyến thuộc, vào ba tháng chay, đến cõi Diêm-phù, nếu có chúng sanh, bị ngang các bệnh, Thiên vương đi đường, vì trừ ác quỷ, khiến bệnh được lành. Song những con người, bất hiếu ngỗ nghịch, ganh tỵ tạo ác, Quỷ vương hành bệnh, liền lấy hơi độc, hà hơi cho bệnh, khiến bị các thứ, ôn dịch trầm trọng, hoặc nóng hoặc lạnh, sốt rét hằng ngày, bị độc tà ma, hoặc bị phong cùi. Nếu như có thể, một ngày trong năm, đốt hương rải hoa, thanh tịnh thân tâm, biên chép Kinh này, cho đến bảy ngày, thỉnh Phật, mời Tăng, trai tịnh đọc tụng, nhờ căn lành này, trọn không bệnh dịch, không bị tật dịch, nên được trường thọ.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, chúng sanh phước mỏng, bảy mặt trời hiện, giả sử không có, bảy mặt trời hiện ra, thì cũng có những vua chúa vô đạo, khiến trời nắng hạn, bao nhiêu cỏ thuốc, bụi rậm rừng già, trăm giống lúa má, mía nho hoa quả, từ đất có ra, đều bị khô chết. Nếu quốc vương nào, hay các chúng sanh, có thể thọ trì, đọc tụng Kinh này, thì các Long vương Nan-đà và Bạt-nan-đà v.v… thương xót chúng sanh, từ nước biển lớn, xối xuống mưa ngọt, tất cả rừng già, trăm giống lúa mạ, cây cối thảo mộc, đều được tươi tốt, chúng sanh nhờ nơi, oai lực Kinh này, được dài thọ mạng.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, vào thời trược ác, hầu hết chúng sanh, đong lường dối trá, được của vô nghĩa, do tội nghiệp đó, chết vào địa ngục, từ địa ngục ra, chịu thân súc sanh, như loài trâu, lừa, voi, ngựa, heo, chó, dê, gà, chim, chóc, muỗi, ruồi, rận, kiến… Nếu có Bồ-tát Ma ha tát, đem lòng từ bi, đối với cầm thú, ruồi, kiến v.v… chuyên đọc Kinh này, qua tai của chúng, do oai lực Kinh, tùy loại giải thoát, những súc sanh đó, bỏ thân kia rồi, được vui sanh thiên. Nếu Bồ-tát nào, không lòng từ bi, chẳng thể diễn nói, về Kinh điển này, người ấy chẳng phải, đệ tử của Phật, là bạn của ma.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, về đời năm trược, hầu hết chúng sanh, lòng dạ khinh mạn, chẳng tin Kinh điển, chê bai Phật pháp, nếu những nơi nào, có người nói pháp, họ không lòng nghe. Do tội nghiệp đó, hiện đời đoản mạng, đọa các địa ngục. Nếu những chỗ nào, giảng nói Kinh này, những chúng sanh nào, có thể đến nghe, hoặc khuyên người khác, chia chỗ cho ngồi, người ấy chính là, rường cột của Phật, được vui trường thọ, chẳng qua đường ác. Vị Bồ-tát muốn chuyển đọc Kinh này, thì nên thanh tịnh, thiết lập đàn tràng, tùy thất lớn nhỏ, đều được tất cả.

    Lại nữa Văn Thù ! Ta diệt độ rồi, tất cả người nữ, thân mang thai nghén, mà giết sanh mạng, ăn các trứng chim, vì không lòng từ, nên hiện đời bị, mạng sống ngắn ngủi, đến khi sắp sanh, lại bị sản nạn, do khó sanh mà có thể mất mạng, hoặc là oan gia, sanh đến báo thù. Hạng người nữ nọ, nếu phát nguyện rộng, biên chép Kinh này, liền khiến dễ sanh, không các tai chướng, mẹ con an vui. Muốn cầu con trai, muốn cầu con gái, tùy nguyện được sanh.

    Bấy giờ, Đức Thế Tôn bảo đại Bồ-tát Văn Thù Sư Lợi :

    – Khi Ta nói Kinh Trường Thọ Diệt Tội, mười hai nhân duyên, Phật tánh thường trụ, mà các Đức Phật quá khứ chung nói, nếu có chúng sanh, thọ trì đọc tụng, được nhiều phước lợi, hết tuổi của họ, sẽ đầy một trăm hai mươi, khi bỏ thân này, chẳng bị khổ vì, phong đao xẻ thân. Do vì Phật tánh, được thân thường hằng, kim cang bất hoại, lóng trong thanh tịnh, của các Đức Phật, niệm niệm vững chắc, thường có Bồ-tát, là Quan Thế Âm, và Đại Thế Chí, nương mây năm sắc, voi trắng sáu ngà, cầm đài hoa sen, đón người niệm Phật, sanh về cõi nước, của Phật A Súc, tự nhiên vui sướng, chẳng qua tám nạn.

    Văn Thù nên biết, chúng sanh ngu si, chẳng biết chẳng hay, thọ mạng ngắn ngủi, như lửa nháng đá, như bọt trên nước, như ánh điện chớp. Sao lại trong ấy, chẳng kinh chẳng sợ ? Sao lại trong ấy, ham nhiều tài lợi ? Sao lại trong ấy, sanh lòng ganh tỵ, để rồi trôi dạt, trong biển sanh tử ? Chỉ có chư Phật, các vị Bồ-tát, mới đến bờ kia, chúng sanh phàm phu, quyết sẽ trầm luân. Quỷ vô thường đến, bất cứ lúc nào, dầu có vô lượng, vô biên vàng bạc, tiền tài châu báu, muốn đem chuộc mạng, không thể nào được. Chúng sanh cần phải, quán xét thân mình, rồi nghĩ như vầy :

    Thân này cũng như, bốn con rắn độc, thường bị vô lượng, vi trùng rúc rỉa. Thân này hôi thúi, bị trói buộc trong, lao ngục tham dục. Thân này đáng ghét, dường như chó chết. Thân này chẳng sạch, chín lỗ thường chảy. Thân này như thành, La-sát trong đó. Thân này chẳng bền, sẽ bị diều quạ, chó đói ăn nuốt. Hãy bỏ thân nhơ, cầu tâm Bồ-đề.

    Nên quán thân này, lúc bỏ mạng sống, mồ hôi toát ra, hai tay trống rỗng, đau đớn khó nhẫn. Lúc mạng căn dứt, một ngày, hai ngày, cho đến năm ngày, sình chướng bầm tím, máu mủ chảy ra, cha mẹ vợ con, chẳng ưa nhìn thấy. Đến khi xương thân, rã ra trên đất, thì các lóng đốt, rơi rớt bừa bãi, xương tay, xương đùi, xương sườn, xương sống, xương đầu, xương sọ, mỗi cái mỗi nơi, da thịt ruột rà, gan, thận, tim, phổi, bị dòi rúc rỉa… Sao lại trong ấy, chấp càng có ngã ? Bấy giờ, tất cả vàng bạc, ngọc ngà, tiền của, kho đụn, trong lúc sanh tiền, đâu còn quan hệ gì với ta nữa ?

    Nếu chúng sanh nào, muốn khỏi khổ ấy, thì chớ nên tiếc, nước thành vợ con, đầu mắt tủy não, biên chép Kinh này, thọ trì đọc tụng, Mười hai nhân duyên, là tạng bí yếu, của các Đức Phật, lưu thông cúng dường, thì trong mỗi niệm, sẽ thành tựu tâm Vô thượng Bồ-đề, không một điều gì, có thể phá hoại, trọn chẳng chết non, vì nạn hoạnh tử.

    Khi Đức Thế Tôn, ở giữa đại chúng, nói về giáo pháp “Mười hai nhân duyên, Phật tánh thường trụ” thì cả đại hội, các vị Tỳ-kheo, và Tỳ-kheo-ni, nam nữ cư sĩ, tám bộ trời rồng, hạng nhân phi nhân, vua Ba-tư-nặc, cùng các quyến thuộc, vô số đại chúng, đều giác ngộ tâm Vô thượng Bồ-đề, chứng Vô sanh nhẫn, tất cả đều khen, là chưa từng có, một lòng đảnh lễ, hoan hỷ thực hành.

    -o0o-

    Read more »
  • Pháp Trường Thọ & Hộ Niệm

    PHÁP TRƯỜNG THỌ và
    PHƯƠNG PHÁP HỘ NIỆM
    Cho NGƯỜI CHẾT
    Nhóm Longchenpa
    PHÁP TRƯỜNG THỌ VÀ PHƯƠNG PHÁP
    HỘ NIỆM CHO NGƯỜI CHẾT
    Nguyên tác:
    - CHIMED SOG THIG
    COMMENTARY TO THE IMMORTAL LIFE ESSENCE:
    THE ESSENTIAL BINDU OF DEATHLESSNESS
    By the Venerable Gyatrul Rinpoche
    Yeshe Melong Publications
    - THE YOGA OF BUDDHA AMITAYUS
    By Geshe Kelsang Gyatso Rinpoche
    Tharpa Publications, London
    - THE METHOD OF BENEFITING SENTIENT BEINGS AT THE TIME OF DEATH, GIVING BREATH TO THE WRETCHED
    By Kusali Dharma Vajra
    Translated from the Tibetan by Lama Zopa Rinpoche
    Bản dịch Việt Ngữ: Nhóm Longchenpa
    NỘI DUNG
    * Lời nói đầu của Dịch giả
    I. CHIMED SOG THIG
    LUẬN GIẢNG VỀ CỐT TUỶ CỦA CUỘC SỐNG BẤT TỬ BINDU CỐT LÕI CỦA SỰ BẤT TỬ
    - Phần Một
    Giáo lý về Cuộc Đời và sự Thực hành Kéo dài Thọ Mạng
    - Phần Hai
    Sự Thực hành Kéo dài Tuổi thọ
    - Phần Ba
    Những Bình luận Kết thúc, Câu hỏi và Giải đáp
    II. YOGA CỦA ĐỨC PHẬT VÔ LƯỢNG THỌ
    III. PHƯƠNG PHÁP LÀM LỢI ÍCH CHO CHÚNG SINH VÀO LÚC CHẾT, CỨU VỚT NGƯỜI BẤT HẠNH
    - Lời nói đầu
    - Chánh Hành Pháp
    - Những Lợi ích của Pháp Hành
    - Lời Bạt của Tác giả
    - Lời khuyên của Lạt ma Thubten Zopa Rinpoche
    * Phụ Lục
    NHỮNG LỢI ÍCH CỦA VIỆC TRÌ TỤNG THẦN CHÚ OM MANI PADME HUM
    Lời nói đầu của dịch giả
    Quyển sách này là một cẩm nang ra đời vào lúc chúng sanh đang bị dịch bện, tai nạn, tuổi thọ vô chừng, mạng sống bấp bênh. Mục đích của quyển sách giúp các bạn Phật tử trong các pháp hội hộ niệm cho đồng đạo trên con đường sắp qua cõi trung ấm được lợi ích bằng lòng từ bi chân thật của chính mình, tương ứng với bổn nguyện cứu vớt chúng sanh của chư Phật, Bồ Tát.
    Nguyện cho người hộ niệm, kẻ được hộ niệm đều được lợi lạc trong các bardo sống, bardo chết và bardo tái sanh.
    Hồng Nhật
    Chimed Sog Thig
    LUẬN GIẢNG VỀ CỐT TUỶ CỦA
    CUỘC SỐNG BẤT TỬ
    BINDU CỐT LÕI CỦA SỰ BẤT TỬ
    Giáo lý khẩu truyền này đã được chuẩn bị bởi nhân viên nàh xuất bản Yeshe Melong. Chúng tôi hồi hướng công đức của việc xuất bản này cho sức khỏe và sự trường thọ của các vị thầy tâm linh, cho sự truyền bá Giáo Pháp trong thế giới, và cho hạnh phúc, thịnh vượng và sự giác ngộ của tất cả chúng sinh. Cầu mong sự cát tường viên mãn lan toả khắp nơi!
    Phần Một
    Giáo lý về Cuộc Đời và sự Thực hành Kéo dài Thọ Mạng.
    Để bắt đầu, tôi chúc tất cả mọi người một “Tashi Deleg,” đây là một lời chúc mừng và biểu lộ ước nguyện được may mắn và tốt lành theo truyền thống Tây Tạng. Sau một thời gian dài, tôi rất sung sướng được gặp lại các bạn.
    Nói chung, trên thế gian này, không một ai mà không bám chấp vào khái niệm “bản ngã”, hoặc “tôi”. Khi chúng ta nghĩ về chính mình, hay sự hiện hữu của “tôi”, một cá nhân, thì đó là cuộc đời riêng biệt mà chúng ta nhận thức. Hiển nhiên là tất cả mọi người đều hết sức bám chấp vào cuộc đời và sự hiện hữu của riêng họ. Đây là điều quan trọng nhất đối với tất cả chúng ta - cuộc sống của chúng ta. Và để có cuộc sống dài lâu, chúng ta phải tích tập những nguyên nhân tích cực để phát sinh kết quả trường thọ.
    Theo giáo lý đạo Phật, sự tái sanh làm người quý báu là cuộc đời khó đạt được nhất và quý báu nhất. Một khi đã đạt được sự tái sanh làm người quý báu, điều tối quan trọng là phải làm những thực hành trường thọ để kéo dài nó, để gia tăng thời gian mà ta có khiến có thể thành tựu được nhiều nhất từ một cơ hội hy hữu như thế. Nhưng nếu ta không có một tái sanh làm người quý báu thì cuộc đời sẽ chẳng dài chút nào cho dù ta có làm thực hành trường thọ hay không. Vậy vấn đề ở đây là gì? Dù sao đi nữa, được tái sanh làm người quý báu hay không thì mọi chúng sanh đều bám víu vào cuộc đời của họ và coi nó hết sức quan trọng, vì thế từ quan điểm đó, sự thực hành trường thọ hết sức cần thiết.
    Như tất cả các bạn đều biết, sự tái sanh làm người quý báu là một tái sanh làm người đủ tiêu chuẩn nhờ sở hữu tám tự do và mười thuận lợi. Hãy dùng thời gian để xem lại mười tám phẩm chất này. Nếu bạn thấy rằng bạn sở hữu chúng, thì bạn hãy thừa nhận điều đó, và sau đó hãy tiến hành để tận dụng tốt nhất cơ hội của bạn bằng việc thực hành các phương pháp nhằm kéo dài cuộc đời quý báu. Nếu nhận ra rằng mình không sở hữu chúng thì hãy làm những gì có thể giúp bạn có được chúng! Hãy tự nhắc nhở rằng tất cả Chư Phật và Bồ Tát vĩ đại, tất cả những bậc thánh giác ngộ và những vị thầy chứng ngộ trong quá khứ đã đạt được giác ngộ và thành tựu trạng thái bất tử chỉ nhờ vào sự tái sinh làm người quý báu và chỉ nhờ vào một mình sự tái sinh đó mà thôi. Không có một sự tái sinh nào khác mà nhờ đó sự Giác ngộ được thành tựu.
    Giác ngộ là sự giải thoát khỏi vòng quay bất tận của nỗi đau khổ trong luân hồi. Khi bạn đạt được giải thoát cho riêng mình, là điều sẽ chỉ xảy ra trong sự tái sinh làm người quý báu của bạn, thì bạn sẽ có khả năng để làm lợi lạc cho người khác. Cho tới khi tất cả chúng sinh đều được giải thoát, hai loại Bồ Đề tâm, là Bồ Đề tâm ước nguyện và
    Bồ Đề tâm thực hành, đều được dùng để đem lại lợi ích cho những người khác. Hãy nhận thức rằng đây là những gì mà cơ hội quý giá hiện tại đem đến cho bạn, và khi nhận ra điều đó, và khi bạn cũng nhận thức được rằng mình thực sự có nó - nếu quả thực bạn nhận thức được – thì hãy cố gắng hết sức mình để kéo dài cuộc sống này.
    Nếu bạn biết rằng sự tái sinh của bạn vô cùng quý giá vì nó có tới mười tám phẩm tính, thì thật đáng hổ thẹn nếu bạn không chịu làm một thực hành trường-thọ. Trái lại, ước muốn một cuộc đời trường-thọ nhưng không hiểu chút gì về những phẩm tính mà sự tái sinh của bạn có thể sở hữu, và hơn nữa, không thực sự có bất kỳ mục đích nào trong đời mình, thì điều ấy cũng đáng xấu hổ. Đây là một trạng thái trung tính khi có một ước muốn mà lại không có động lực mạnh mẽ đằng sau nó. Đây chính là thái độ của nhiều người khi họ quy y, trở thành Phật tử. Ngày nay, nhiều người hăm hở chạy theo và bị thu hút vào các đám đông, thọ các giới nguyện, nhưng họ không thực sự hiểu rõ lý do thọ giới. Họ không bao giờ suy nghĩ rằng quy y tam bảo là để bản thân mình và những người khác thoát khỏi vòng luân hồi đau khổ vô tận. Họ quy y theo đúng kiểu một con chó đi theo chủ của nó. Họ quy y chỉ vì những người khác đang làm như thế. Điều này không đúng.
    Do đó, điều cốt yếu là phải nhận ra rằng thực sự thì việc tái sinh làm người quý báu là gì, những phẩm tính mà ngay bây giờ bạn đang sở hữu là gì, và có một ước muốn mạnh mẽ kéodài thọ mạng của bạn vì những lý do chính đáng. Việc mong muốn có một cuộc đời trường thọ để cóthêm thời gian kiếm tiền, củng cố thanh danh, nhận được những lợi lộc, lời khen, tiếng tăm, hay vì bất cứ những mối quan tâm thế tục nào khác, đều là một động lực bất tịnh. Theo Giáo Pháp, cho dù điều đó nhằm vào lợi ích của con cái bạn thì một động lực như thế cũng là bất tịnh. Với một động lực bất tịnh như vậy, mặc dù bạn có thể thực hiện một thực hành kéo dài thọ mạng, thì nó sẽ chỉ đem lại lợi lạc cho bạn trong cuộc đời này bởi động lực của bạn chỉ tập trung vào đời này và bị giới hạn trong bản ngã chật hẹp. Tất cả chúng ta phải hiểu rằng khi nào mà động cơ của chúng ta còn bị giới hạn thì hạnh phúc thật sự của chúng ta cũng sẽ bị giới hạn. Nếu như chỉ quan tâm tới cuộc đời ngắn ngủi này và không biết tới sự việc lớn lao – đó là đạt được giải thoát khỏi bánh xe luân hồi sinh tử, nỗi khổ của vòng luân hồi – thì cũng giống như đổi một giờ để lấy một phút, hay một giây.
    Động lực của chúng ta thì rất, rất quan trọng. Chúng ta phải phát triển Bồ Đề tâm, đó là tâm tỉnh giác bi mẫn, tâm luôn quan tâm tới lợi ích của người khác. Đây cũng chính là tâm mà tất cả chư Phật trong quá khứ đã có khi các Ngài làm việc vì lợi ích của chúng sinh. Dù chúng ta đang lắng nghe các giáo huấn, nhận quán đảnh, hay thực sự thực hành, chúng ta phải luôn luôn kinh nghiệm tâm tỉnh giác bi mẫn. Vào lúc này, xin hãy kiểm tra động lực của bạn khi thọ nhận giáo lý này về cuộc đời và pháp thực hành kéo dài thọ mạng, và sau đó chúng ta có thể tiếp tục giáo lý thực sự.
    Giáo lý này dựa trên luận gỉng của His Holiness Dudjom Rinpoche, trong đó giảng về mục đích của quán đảnh trường-thọ và làm thế nào để thực hành “tse drup”, sự thành tựu trường-thọ. Thực hành đặc biệt này cực kỳ quý giá bởi vài lý do. Trước hết, nó được chính Ngài Dudjom Rinpoche biên soạn, dựa trên terma của một trong những Guru gốc của Ngài, đó là terton Zilnon Namkhai Dorje, vị thầy đã ban cho Ngài lễ quán đảnh và mọi sự truyền dạy, trong đó có pháp làm thế nào thực hiện thực hành trường-thọ. Ngài Dudjom Rinpoche đã nói rằng nhờ thực hành riêng của Ngài về thực hành thành tựu-đời này, tại một hang động trường-thọ và như một thực hành hàng ngày mà đời Ngài đã kéo dài trên năm năm. Vào những năm sáu mươi tuổi, Ngài soạn luận giảng này dựa trên kinh
    nghiệm thực hành và thành tựu riêng của Ngài về pháp trường-thọ. Trong nhiều dịp, Ngài đã nói về việc thực hành này thì quan trọng và sâu sắc đối với riêng Ngài ra sao. Ngài có một niềm tin phi thường vào nó và đó là lý do tại sao luận giảng của Ngài, là cái mà giáo lý nào được đặt nền trên đó, thì rất, rất đặc biệt.
    Phương pháp sâu xa này thuộc truyền thống terma. Vì nó được khám phá trong thời gian tương đối mới đây nên nó được gọi là “tersar”: terma mới. Nó có nguồn gốc từ thời Đức Liên Hoa Sanh, người đã cùng với vị phối ngẫu Ấn Độ của mình là Mandarava, đi tới hang động trường thọ nổi tiếng Maratika trong những rặng núi xứ Nepal để thực hành và đã thành tựu nó. Chính tại nơi đó, Đức Phật Amitayus (Vô Lượng Thọ) đã tới và trực tiếp ban cho họ quán đảnh, các sự truyền dạy, và các giáo lý. Kinh nghiệm thì hoàn toàn giống như rót nước từ một cái bình đầy sang một bình trống. Đây không phải là giấc mơ. Sau khi thực hành những phương pháp trường thọ này trong thời gian ẩn tu ba năm, cả Guru Rinpoche lẫn Mandarava đều thành tựu trạng thái của Đức Phật Amitayus: trạng thái bất diệt, bất tử. Nhờ pháp thực hành này các Ngài đã hoàn toàn giác ngộ và thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi.
    Khi Guru Rinpoche du hành tới Tây Tạng, Ngài mang theo giáo lý mà Đức Phật Amitayus đã ban cho Ngài. Ngài chôn dấu chúng ở Tây Tạng, cất dấu dưới dạng terma, tiên đoán thời gian chúng được khám phá và chi tiết của việc khá phá đó. Ngài cũng ban toàn bộ sự truyền dạy cho hai vị trong số những đệ tử chính của mình – Berotsana và Dorje Dudjom. Vì thế, terma được cất giấu về mặt vật lý cũng như trong tâm bởi hai vị đệ tử này.
    Nhiều thế kỷ sau đó, cụ thể là cuối thế kỷ thứ 19, hai vị đệ tử này đã hoá thân thành Zilnon Namkhai Dorje, bậc khám phá kho tàng (khai mật tạng) vĩ đại. Ngài Zilnon Namkhai Dorje đã tới hang động thực hành của Dakini Yeshe Tsogyal trong xứ Bhutan, và tại đó Ngài đã phát hiện ra mật tạng này và lấy nó ra từ một tảng đá trong hang động.
    Đây không phải là một khám phá bí mật mà là một khá phá công khai. Terma được khai quật trước sự hiện diện của vài trăm người, đặc biệt là họ tới để chứng kếin việc này. Khi ấy, cầu vồng xuất hiện trên bầu trời, âm thanh gầm rống của những con rồng van rền khắp không gian, và vô số những dấu hiệu kỳ lạ xuất hiện. Nhưng sau đó vị Terton cất giấu terma bí mất này trong nhiều năm vì theo lời tiên tri, việc truyền bá terma này được dành cho chủ nhân của nó là H.H. Dudjom Rinpoche.
    Sau đó, vào thời điểm thích hợp, khi Ngài Dudjom Rinpoche được hai mươi mốt tuổi, vị terton và chủ nhân terma gặp nhau lần đầu tiên. Vị Terton ban quán đảnh cho Ngài Dudjom Rinpoche và ban cho Ngài mọi sự truyền dạy và giáo lý. Sau đó Ngài Dudjom Rinpoche giữ bí mật pháp thực hành đối với cư sĩ và thường dân trong nhiều năm. Thỉnh thoảng Ngài chỉ truyền dạy nó cho các vị Lạt ma và những hành giả mạnh mẽ để đảm bảo tính thuần tịnh và uyên thâm của những sự ban phước. Cho tới cuối đời, Ngài đã ban truyền rộng rãi hơn, nhưng đây vẫn là một sự truyền dạy hiếm khi được nhận lãnh.
    Trong loại truyền dạy này, tiêu đề thường được giảng nghĩa trước tiên; cũng giống như việc dán nhãn lên bình chứa: nó giải thích nội dung của bản văn. Chỉ cần đọc tiêu đề là người ta sẽ hiểu được tổng quát những gì bản văn chứa đựng. Trong trường hợp này tựa đề trình bày rằng luận giảng này là một giáo huấn trực chỉ, nhờ đó người ta lập tức biết được đây là những giáo huấn cốt tuỷ xuất phát trực tiếp từ tâm vị Lạt ma.
    Những học giả thật sự uyên bác, chỉ nhờ đọc tiêu đề là có thể biết chính xác và chi tiết nội dung của bản văn từ đầu đến cuối. Đây là điều thật phi thường. Những người ít nhiều uyên bác thì tối thiểu cũng có thể biết được nó thuộc vào loại nào, surta (Kinh điển)
    hay tantra, và thuộc cấp độ tantra nào. Những người hoàn toàn không có học thức, chỉ là những hành giả bình thường, tối thiểu cũng sẽ biết luận giảng thuộc thực hành nào. Trong trường hợp này, đó là luận gỉng về Chimed Sog Thig.
    Bản văn bắt đầu bằng sự kính lễ. Theo truyền thống, với loại bố cục này, tác giả sẽ kính lễ Bổn Tôn thiền định, hoặc một vị Phật hay Bồ Tát đặc biệt, hay chư Phật và Bồ Tát nói chung, hoặc vị Lạt ma. Trong trường hợp này, Ngài Dudjom Rinpoche đã chọn việc kính lễ Lạt ma Dechen Zilnon Namkhai Dorje của Ngài, là vị terton đã hiển lộ terma này cho Ngài. Trong bài kệ đầu tiên, Ngài viết một luận giảng bằng thơ kết hợp với danh hiệu của vị terton. Điều này cho thấy lòng sùng kính của Ngài đối với vị thầy. Ngài khẩn cầu vị Thầy ngồi trên đỉnh đầu mình. Việc kính lễ vào lúc khởi đầu cũng được thực hiện để bảo đảm bản văn sẽ hoàn thành không bị chướng ngại. Thật ra, khó mà chấp nhận rằng Ngài Dudjom Rinpoche là một bậc vĩ đại như thế lại bị chướng ngại; tuy nhiên điều này cho thấy sự khiêm tốn của Ngài và lòng tôn kính mà Ngài dành cho vị Lạt ma. Cũng theo truyền thống, theo sau sự kính lễ, tác giả sẽ trình bày cam kết của mình, đó là hứa nguyện của riêng Ngài là cho dù điều gì xảy ra Ngài cũng sẽ hoàn thành tác phẩm của mình. Ngài thực hiện hứa nguyện này với sự tỉnh giác về vị Lạt ma trên đỉnh đầu Ngài.
    Do vậy, H.H. Dudjom Rinpoche nói trong một cung cách hết sức trang nghiêm và thi vị rằng Ngài cúi đầu đảnh lễ rất cả các Bộ Phật (ám chỉ năm gia đình Phật: Phật bộ, Bảo bộ, Liên Hoa bộ, Nghiệp bộ, và Kim Cương bộ), đảnh lễ tinh tuý tâm của tất cả chư Phật, đảnh lễ Guru Rinpoche, vị Thầy vĩ đại siêu phàm, bậc đã ban kho tàng bí mật cho các dakini là những vị đã giữ gìn chúng tươi mới tới nỗi kho tàng bí mật ấy vẫn còn nồng ấm hơi thở của họ. Ngài nói: “Trong tất cả các kho tàng đó, đây chính là tinh tuý của chúng. Nó giống như một viên ngọc như ý. Nó là một linh dược quý báu mà tôi ban tặng cho các bạn, những đệ tử may mắn được cùng dự phần. Các bạn là những đệ tử may mắn vì không làm hư hỏng samaya (giới nguyện), và các bạn có khả năng phát triển mọi phẩm tính cao quý trên con đường, trong bối cảnh của thực hành này, để gia tăng thọ mạng. Vì thế tất cả chúng ta hãy cùng thụ hưởng bữa tiệc vĩ đại này, nó sẽ là một cuộc đời kim cương đời đời-tăng trưởng. Như vậy tất cả đệ tử các bạn, những người kinh nghiệm sự bình đẳng của trạng thái may mắn to lớn này, hãy nhận lãnh tặng phẩm này và cùng dự phần vào nó với niềm hoan hỷ lớn lao.
    Bữa tiệc mà Ngài nói đến là sự cùng tham dự thực hành thành tựu trường-thọ vô cùng bí mật này được gọi là Chimed Sog Thig, là tinh tuý thâm sâu của cuộc sống. Nó là một yoga thâm sâu cần được chứng nghiệm qua thực hành, và muốn được như vậy, ta phải nhận lãnh luận giảng. Luận giảng thông thường là lời bình giảng những lý do phải củng cố một cuộc đời trường thọ, và một thảo luận tổng quát về mục đích. Trước tiên, điều mà Ngài Dudjom Rinpoche mong muốn được giảng rõ ở đây là làm thế nào để thực hành phù hợp với những giáo huấn trực chỉ đặc biệt.
    Trong một bình giảng tổng quát Ngài giảng rõ những khác biệt giữa sutra (Kinh) và tantra và loại thực hành này, nhưng đặc biệt là, trong giáo huấn trực chỉ về bản thân sự thực hành, Ngài trực tiếp tiết lộ cách thực hành các giai đoạn phát triển và thành tựu. Ngài giảng làm thế nào để trước tiên nhờ thực hiện giai đoạn phát triển, ta có thể kéo dài cuộc đời của mình bằng một phương pháp nào đó. Sau đó, khi bước qua giai đoạn thành tựu, Ngài giảng rõ phải dùng thực hành nào để biến đổi và làm cách nào để nó kéo dài cuộc sống. Ngài giảng rằng cuối cùng phương pháp này sẽ dẫn tới sự giải thoát toàn triệt, và điều đó xảy ra thế nào. Ngài đi từ giai đoạn phát triển, qua giai đoạn thành tựu, tới chân lý tối hậu – là sự giải thoát.
    Ngài bắt đầu bằng phần giải thích tổng quát được chia nhỏ thành mười phần khác nhau. Phần đầu tiên là một bình giảng về bản tánh thực sự của cuộc đời, của cái được gọi là “thọ mạng”. Phần thứ hai là một giải thích về những đặc tính của nó. Phần thứ ba giảng nghĩa sự khác biệt giữa thuật ngữ Tây Tạng và Phạn ngữ về trường-thọ và tại sao lại dịch như vậy. Phần thứ tư giảng về những khác biệt về cuộc đời. Phần thứ năm giảng về sự khác biệt giữa sự sống và cái chết. Phần thứ sáu giảng về những dấu hiệu được nhận thấy trước cái chết (lúc cận tử) và cách nhận ra chúng. Phần thứ bảy giảng về sadhana (nghi quỹ), phương pháp mà ta sử dụng để đảo ngược cái chết. Phần thứ tám giảng về phương pháp thực hiện để đạt được sự trường-thọ. Phần thứ chín là một luận giảng về sadhana. Và phần thứ mười là một sự giảng giải, hay một khám phá, về những kết quả đạt được khi ta thành tựu sự trường-thọ, khiến cho hành giả hiểu được những dấu hiệu thành tựu là gì. Đây là mười phân đoạn.
    Bắt đầu với phân đoạn thứ nhất, nó giảng rằng tinh tuý của cuộc đời thường được ám chỉ là “thọ mạng” (tuổi thọ trung bình). Tinh tuý của cuộc đời này giống như một hơi ấm, nhiệt (hơi nóng) và là vật hỗ trợ cho tâm thức. Khi chúng ta nói về hơi ấm hay nhiệt, và tâm thức không nghĩ ngơi, thì hơi ấm này, tâm thức này gắn liền với cái được gọi là tinh tuý của cuộc đời, hoặc thọ mạng. Nó tuỳ thuộc vào nghiệp: sự tích tập nhân và quả và cách thức chúng chín mùi. Mặc dù có nhiều thuật ngữ khác nhau được sử dụng để chỉ cùng một sự việc, nhưng trong thực tế không thể diễn tả vì nó vô hình và không thể tri giác được. Vì thế khó có thể định danh nó.
    Phân đoạn thứ hai giảng về những đặc tính của cuộc đời. Nó được minh hoạ bằng hình ảnh bắn cung. Khi mũi tên được kéo lui và sau đó được bắn đi từ cây cung thì đằng sau nó có một sức mạnh hay năng lực nào đó. Nếu lực đó rất mạnh thì mũi tên sẽ bay được một khoảng xa, và nếu lực yếu thì nó chỉ bay được một quảng ngắn. Cũng giống như thế, tuỳ thuộc nơi nghiệp vào thời điểm thọ mạng hình thành một hiện thân, một đời sống cá nhân sẽ chỉ kéo dài chừng nào nghiệp lực phía sau nó còn chuyên chở được nó. Cũng giống như thế, khi gieo một hạt giống xuống đất, thọ mạng của nó cũng tuỳ thuộc vào các điều kiện (duyên). Ví dụ, giả sử rằng một hạt giống được gieo xuống có một khả năng nẩy mầm và phát triển tự nhiên, thì sau đó, tuỳ thuộc vào các điều kiện – như chất lượng của đất, chất dinh dưỡng, mưa, v..v.. – nó sẽ phát triển ra lá, đơm hoa và kết trái. Sau đó trái cây sẽ hư hoại và phân rã, và cuối cùng cây trồng từ hạt giống đó sẽ chết đi. Vì thế, trong một ý nghĩa rất đặc biệt, ta có thể nói rằng đặc tính của cuộc đời là điều đã định trước.
    Điều này cũng chỉ ra rằng những gì chúng ta làm trong đời này sẽ quyết định thọ mạng trong đời sau của ta ra sao, nó là một lý do rất quan trọng khác khiến ta phải tích luỹ công đức, tịnh hoá các che chướng và đặc biệt là thực hành pháp trường-thọ. Giống như đời này là một sản phẩm của đời trước, những gì chúng ta làm trong cuộc đời này sẽ quyết định cho đời sau. Đó là lý do khác tại sao chúng ta cần phải chấp nhận bất cứ thọ mạng nào của mình, và nhận thức rằng chúng ta đã từng tạo ra nó, đó là kết quả của những nguyên nhân của chúng ta. Không ai khác có thể gia thêm, kéo dài nó hay cắt bớt nó đi. Nó là nghiệp quả của chính chúng ta.
    Phân đoạn thứ ba giảng về thuật ngữ cuộc đời, bởi nó có xuất xứ từ Phạn ngữ rồi chuyển sang Tạng ngữ. Thuật ngữ Tây Tạng là “tse”, trong Phạn ngữ là “ayu”. “Tse” được định nghĩa là lúc cuộc đời bắt đầu, và cũng đồng nghĩa với Phạn ngữ. Và toàn bộ tiến trình cuộc đời trải qua là thọ mạng, là “prana” trong Phạn ngữ và “drowa” trong tiếng Tây Tạng. “Tse” thường được dịch là “thọ mạng” và đó là một thuật ngữ tương tự,
    “sog” có nghĩa “tinh tuý của đời sống”. Thọ mạng, tse, ayuprana, sẽ kéo dài chừng nào những nguyên nhân thuộc về nghiệp cho phép nó: nó giống như mũi tên bắn ra từ cây cung. Lực ở đằng sau mũi tên bắn đi hoàn toàn quyết định mũi tên bay xa đến đâu. Khi lực đã hết, mũi tên sẽ rơi xuống đất. Nghiệp đối với thọ mạng của con người cũng như vậy – khi nghiệp hết, thọ mạng chấm dứt. Chẳng thể làm gì được nữa. Đó là khi cái chết đến, và đó là một chốn vô danh, không được biết tới. Vì thế đây là ý nghĩa của thuật ngữ “tse” là “ayuprana” trong Phạn ngữ.
    Cách khác để hiểu prana, sự trông chờ, đó là những gì đang xảy ra, là bằng cách lưu tâm tới đìâu mà trong tiếng Tây Tạng gọi là “lung”, là không khí, hay gió. Tse hoàn toàn tuỳ thuộc và prana hay lung. Hiển nhiên là ngay khi không hít vào chúng ta sẽ chết. Nếu chúng ta không thể hít vào thì không có sự sống. Toàn bộ thọ mạng của ta phụ thuộc vào việc ta sẽ hít vào và thở ra bao nhiên lần. Cuộc đời kết thúc khi lần hít vào cuối cùng xảy ra, đó là sự chấm dứt của prana, sự vận động của cuộc đời đó.
    Phân đoạn thứ tư giải thích sự khác biệt giữa cái được gọi là “tinh tuý của cuộc đời” và “sinh lực”. Trích dẫn từ giáo lý A Tỳ Đàm (Abidharma), Dudjom Rinpoche nói rằng cái chúng ta gọi là “bộ phận của tinh tuý của cuộc đời” là thọ mạng của tam giới. Nhìn từ quan điểm của bản tánh tuyệt đối thì vô phân biệt, nhưng từ quan điểm của những đặc tính tương đối, theo tiểu thừa thì cả tinh tuý của cuộc đời lẫn thọ mạng đều phụ thuộc vào một thân, là kết quả của nghiệp quá khứ. Chừng nào nghiệp còn cho phép ta duy trì thân thể đặc thù đó, thì “sog”, “tinh tuý của cuộc đời” còn được lưu giữ trong thân xác đó. Khoảng thời gian tinh tuý của cuộc đời an trú trong thân chính là thọ mạng. Khi thọ mạng dành cho một thân thể đặc thù chấm dứt, nó là kết quả của nghiệp, thì chúng ta không nói về tse nữa, mà nói về sog, tinh tuý của cuộc đời, vì tinh tuý của cuộc đời là những gì đang tiếp diễn. Sog là năng lực hay tinh tuý của cuộc đời thì không bao giờ chết.
    Một thuật ngữ khác mà Dudjom Rinpoche giới thiệu ở đây là “dang”, có nghĩa là sự rực rỡ (thần sắc). Nó nói tới nhân tố sức khỏe, hay phẩm chất của thọ mạng, và nó có thể được nhìn thấy ở nước da của ta. Nói một cách đơn giảng, một số người trông rất khoả mạnh, có làn da hồng hào và một diện mạo sáng sủa, nhưng cũng có người vẫn giữ được phong độ như thế khi lớn tuổi. Trong khi đó một số người khác lại xanh xao hay tái xám và vẻ ngoài không sáng sủa lắm.
    Một thuật ngữ khác là “lha”, “sinh lực”. Phụ thuộc vào điều kiện của dang, lha ảnh hưởng tới tse, thọ mạng. Lha, sinh lực, có thể bị mất đi bất cứ lúc nào trong cuộc đời ta. Khi lha của ta bị hư hoại hoặc thoát ra khỏi thân, là vật hỗ trợ tất cả những thứ này thì ta sẽ hết sức bất hạnh, hầu như rã rời, và sẽ kinh nghiệm nhiều tai họa. Bất kỳ điều gì ta cố làm sẽ hoàn toàn không thực hiện được. Ta sẽ kinh nghiệm nhiều chướng ngại. ta sẽ có một diện mạo đờ đẫn, tâm thức trì trệ. Nếu lha thoát đi, dang cũng sẽ suy giảm. Cả hai nhân tố này ảnh hưởng tới tse. Có một nghi lễ thường được các Lạt ma thực hiện cho những người đã mất sinh lực để đem lha trở về với họ - bởi nó có thể được thâu hồi. Việc làm mất nó không hẳn là một tình thế không thể đảo ngược được.
    Một nhân tố khác mà y học Tây Phương biết rõ, đó là “trak”, máu. Trong giáo lý này và trong sự hiểu biết về thọ mạng nói chung, máu được coi là vô cùng quan trọng. Cơ thể cần vừa đủ lượng máu thích hợp, và máu phải tuần hoàn đầy đủ khắp thân. Nếu hội đủ các điều đó thì dứt khoát là thọ mạng sẽ dài, sẽ được gia tăng như một điều kiện. Ngược lại, nếu một người có ít hay nhiều máu quá, tse sẽ bị ảnh hưởng bất lợi. Nếu máu không còn tuần hoàn, nếu nó bị tắc nghẽn, thì người ta sẽ chết.
    Thuật ngữ thứ tư trong số thuật ngữ khác nhau này – chúng ta đã xem xét dang, lha và trak – là “trot”, là sức nóng hay lửa. Nó ám chỉ năng lực đồng hoá nhiệt của thân thể, là sự tiêu hoá. Việc tiêu hoá kém sẽ làm giảm thọ vì từ điều đó những loại bệnh khác nhau sẽ phát triển. Trái lại, nếu người ta có nhiệt mạnh mẽ hay nhân tố lửa trong thân thể, thọ mạng sẽ dài.
    Trong truyền thống Kim Cương thừa, và chỉ trong truyền thống Kim Cương thừa, có ba nhân tố khác được lưu ý ngay trong chủ đề này. Chúng là “tsa”, “lung” và “tigle”, đó là các kinh mạch, gió, và dịch tinh tuý. Tsa là ba kinh mạch chính, sáu hệ thống kinh mạch được phân nhánh từ chúng, và tất cả kinh mạch phụ góp phần. Đầu tiên là kinh mạch trung ương, được gọi là “awaduti” trong Phạn ngữ. Đây là một kinh mạch riêng biệt quan trọng nhất bên trong cơ thể con người chúng ta. Nếu bất cứ cái gì làm trở ngại hay tắc nghẽn kinh mạch này, thì tse, thọ mạng của ta, sẽ chất dứt.
    Trong giai đoạn thứ hai của thực hành Kim Cương thừa, giai đoạn thành tựu, thực hành chính là thực hành về tsa, lung, và tigle. Thực hành này bao gồm nhiều kỹ thuật khác nhau thực sự khai thông những kinh mạch bị nghẽn bởi nghiệp lực đang làm bế tắc hệ thống kinh mạch chính, là cái mà về sau lần lượt làm ngăn trở kinh mạch trung ương. Như vừa mới đề cập tới, nếu kinh mạch trung ương hoàn toàn tắc nghẽn, cuối cùng điều này sẽ dẫn tới cái chết. Trong thực hành tsalung, hành giả đang khai thông những kinh mạch bế tắc, và khi chúng được nới lỏng và lui về vị trí ban đầu của chúng, thì thọ mạng được gia tăng và những phẩm tính tôn quý phát triển. Trong thực tế có nhiều lợi ích to lớn. Đây là lý do chính để thực hành trên cấp độ giai đoạn thành tựu. Coi sự thực hành chỉ như một số bài tập thể dục là hoàn toàn quên mất mục đích. Nó là một tiến trình sắp xếp lại trong thân thể ta, căn bản là tháo gỡ những nút thắt để kinh mạch trung ương có thể thực sự trong sạch.
    Kế tiếp hãy xem xét lung, khí lực hay gió. Khi tâm thức con người được đưa vào sự hợp nhất của tinh cha và noãn mẹ, nó tan hoà và trở thành không có ý thức. Vào chính lúc đó kinh mạch đầu tiên bắt đầu phát triển và khởi đầu tại rốn. Đây là kinh mạch trung uởng. Nó chứa đựng ý thức và từ nó những kinh mạch khác phát triển. Lung đầu tiên hay khí lực xuất hiện từ kinh mạch này được gọi là “sog lung”, “khí của sự sống” (khí lực). Ngay khi khí lực này phát triển, khi đó trong mười tháng kế tiếp chín khí lực khác sẽ phát triển, tạo thành một tổng số gồm năm khí lực chính và năm khí lực phụ, sog lung trở thành một trong năm khí lực chính. Ngay vào thời điểm sinh ra, nếu không bị chướng ngại thì mười loại khí lực được phát triển hoàn toàn. Sau đó, khi một sinh linh trong thế giới tách khỏi tử cung, sự che chướng bất kỳ một loại nào trong muời loài khí lực này sẽ gây nên một điều kiện để làm suy giảm thọ mạng. Từ đó nhiều bệnh tật khác nhau sẽ xuất hiện.
    Lý do khác vì sao các hành giả cao cấp thực hành tsalung, một khi họ đã đủ trình độ để thực hành nó, là để biến đổi và chuyển hoá tất cả những bất tịnh đã phát triển cùng mười loại khí lực này, để tịnh hoá và hướng dẫn chúng một lần nữa, đưa chúng trở về kinh mạch trung ương, là nguồn mạch của sog lung, bản thân khí lực. Thực hành này gia tăng thọ mạng và đem hành giả trở về với Phật tánh, trạng thái bổn nguyên của sự hiện hữu của ta. Nếu ta không thể nhập được Phật tánh trong đời này thì trong đời sau, khi đã củng cố thói quen thực hành, ta sẽ lại thực hành như thế và nhanh chóng chứng ngộ Phật tánh, nhờ đó chứng ngộ sự giải thoát, hơn là sự vô minh lẩn quẩn.
    Thứ ba là tigle, chất dịch tinh tuý. Alaya, là nền tảng của tất cả và sog lung, là khí lực, cả hai tuỳ thuộc vào tinh cha và noãn mẹ vào thời điểm thụ thai. Sau khi thụ thai,
    tinh trùng và noãn (trứng) nguyên thuỷ mang hình tướng của chữ hang và ahtung (A ngắn), một cách tương ứng, và an trú trong kinh mạch trung ương của thân thể chừng nào thọ mạng còn tiếp tục. Hang là chủng tử tinh trùng nhận được từ người cha, và ahtung là noãn tử nhận được từ người mẹ. Phụ thuộc vào hai loại tigle khác nhau này, chất dịch tinh tuý được phát triển. Mười hai loại trong số những loại dịch tinh tuý khác nhau thì thanh tịnh và hai mươi bốn loại là bất tịnh. Trong bảy mươi hai ngàn kinh mạch khác nhau trong thân thể, hai loại tigle này - tịnh và bất tịnh – đang tuần hoàn liên tục, chừng nào mà ta còn kinh nghiệm được tse, thọ mạng. Chúng tăng giảm tuỳ theo cá nhân đã làm gì với thân thể. Theo Kim Cương thừa, một hành giả có thể trừ khử tới mức tối đa hai mươi bốn loại tigle bất tịnh tuỳ theo họ mong muốn, và điều này chẳng có gì khó khăn; tigle bất tịnh mất đi một cách tự nhiên như một số chất thải trong thân thể. Nhưng một hành giả không được làm hư hoại bất kỳ cái nào trong mười hai loại tigle thanh tịnh. Nếu anh ta làm hư hoại thì điều đó tương đương với việc sát sinh, giết hại vô số mạng sống. Noólàm suy giảm trầm trọng tse và gây nên sự hư hỏng samaya.
    Trong thực tế, chủ đề này cần phải nhiều tháng giảng dạy, vì thế hãy coi đây chỉ là một giới thiệu tóm tắt. Tôi cảm thấy tối thiểu phải nói tên những tựa đề của mỗi một phân đoạn này để đem lại cho các bạn một hiểu biết căn bản về sự thực hành trường-thọ là gì. Xin hãy hiểu rằng đây hoàn toàn không phải là một giáo lý đầy đủ.
    Phân đoạn thứ năm giảng về sự khác biệt giữa sống và chết. Ở đây bản văn tiếp tục đề cập rằng trong một số hệ thống thế giới trong vũ trụ, tuổi thọ của sinh linh đã được định trước và chắc chắn. Chúng sinh cư trú trong những thế giới này biết chính xác khi nào mình chết. Chỉ có hệ thống thế giới của chúng ta là không biết được thọ mạng kéo dài bao lâu. Ngoài ra thọ mạng chung của chúng sinh trong hệ thống thế giới của chúng ta đang suy giảm. Trong nhiều kiếp quá khứ, thọ mạng của con người hầu như vô hạn. Người ta sống rất nhiều năm. Dần dần khi công đức và đức hạnh của họ giảm sút và những sự tiêu cực và che chướng của họ gia tăng thì thọ mạng của họ suy giảm. Theo giáo lý Đạo Phật, trong hệ thống thế giới của chúng ta thọ mạng của con người sẽ suy giảm cho tới khi chỉ còn mười năm trước khi bắt đầu tăng trở lại. Ngay bây giờ thọ mạng đang suy kém. Trong thực tế, hiện nay tại một số nước tuổi thọ nói chung có thể chỉ còn ba mươi hay bốn mươi tuổi.
    Sau khi đưa ra những trích dẫn này về tuổi thọ thì bất định và suy giảm trong hệ thống thế giới của chúng ta, ở đây Ngài Dudjom Rinpoche nói rằng thật là một điều kỳ lạ khi con người biết rằng thọ mạng của họ ngắn ngủi, không dài lâu, và cũng biết rằng độ dài của nó thì bất định, nhưng họ vẫn sống cuộc đời của họ như thể họ có vô số thời gian để sống. Họ có quá nhiều hoạt động được hoạch định, và quá nhiều mơ ước trong tâm thức về những gì sắp làm với cuộc đời của họ. Điều này quá viển vông; nó hoàn toàn vô lý. Họ nên lưu tâm tới những sự kiện nào liên quan tới bản tánh của sự sống của họ, và phải khéo léo. Trong cùng cách thức một con thiên nga có thể rút sữa từ nước, họ nên rút ra tinh tuý của thời gian mà họ có và sử dụng nó trong cách thế có ý nghĩa nhất, nhận thức rằng nó là một quãng thời gian hết sức ngắn ngủi, và ngưng lại mọi chương trình to lớn khi không có thời gian để sống sót cùng với chúng. Không chỉ như vậy, hầu hết thời gian của họ được dùng để theo đuổi những mối quan tâm thế tục. Một khi đã mắc dính trong bẫy rập này thì họ khó lòng thoát ra khỏi bởi sự tham muốn thế gian không bao giờ thoả mãn được. Đó là bản chất của nó.
    Bạn không nên trì hoãn những việc quan trọng trong cuộc đời, đặc biệt là trong việc suy xét về sự ngắn ngủi chắc chắn của cuộc đời. Bạn nên lập tức thực hành những gì
    quan trọng nhất, ngay trong khoảnh khắc hiện tại này, hơn là trì hoãn nó tới một thời điểm tương lai bất định, là cái có thể không bao giờ tới và hầu như chắc chắn là sẽ không tới.
    Cuộc sống chúng ta giống như những ngọn đèn bơ. Một ngọn đèn bơ được làm bằng một giây tim và bơ. Từ khi được thắp lên, nó bắt đầu lụi dần đi. Đôi khi bấc đèn cháy hết trước và đôi lúc bơ hết trước. Có khi cả hai cùng hết một lúc. Đôi lúc ngọn đèn cháy rất đẹp và một vài điều kiện khác phát sinh, như một cơn gió mạnh làm tắt đèn mặc dù cả bấc đèn lẫn bơ còn có thể cháy lâu. Cuộc sống của chúng ta thì cũng giống như thế.
    Trường hợp thứ nhất, đèn tắt vì hết bấc minh hoạ cho sự cạn kiệp nghiệp quá khứ của ta. Như đã được giảng, thọ mạng tuỳ thuộc vào nghiệp lực; nó được so sánh với việc mũi tên bắn đi từ một cây cung. Tuỳ thuộc và lực kéo nằm sau mũi tên được kéo lui, mũi tên bay đi và rơi xuống đất khi lực đó cạn kiệt. Tương tự như thế, khi nghiệp của đời ta – là những gì được tích luỹ từ những đời trước - cạn kiệt, thì ta sẽ chết.
    Ví dụ về việc bơ cạn hết minh hoạ cho sự cạn kiệt công đức, sự vơi cạn kho chứa những thiện hạnh được tích tập, là cái cũng có năng lực riêng của nó. Sự cạn kiệt công đức là nguyên nhân khác của cái chết. Mặc dù có thể vẫn còn một ít bấc, nhưng lửa sẽ tắt ngúm vì bơ đã cạn hết. Tim đèn và bơ đều cần thiết để lửa cháy
    Trường hợp thứ ba là khi cả hai cùng hết một lúc, rõ ràng đó là sự cạn kiệt năng lực của nghiệp quá khứ và sự cạn kiệt những đức hạnh đặc biệt, thiện nghiệp chịu trách nhiệm về cuộc đời đó.
    Bây giờ tới trường hợp thứ tư thuộc điều kiện ngoại tại, được minh hoạ bằng ví dụ một cơn gió mạnh vụt tới và thổi tắt đèn trước khi bấc và bơ cạn hết, là trường hợp của những hoàn cảnh trong đời khi ta không chú tâm, thiếu tỉnh thức. Điều này có thể là sự góp phần mạnh mẽ nhất gây nên hầu hết cái chết hiện nay. Người ta không thận trọng trong nhiều cách khách nhau, và vào những lúc đó họ trở nên rất cận kề những nguyên nhân gây ra cái chết cho họ, chỉ bởi họ không chú tâm. Sẽ rất tốt nếu bạn cố gắng thọ nhận nhiều hơn nữa các giáo lý về những chủ đề này trong tương lai: những nguyên nhân thuộc nghiệp, sự tích tập công đức, sự kết hợp của cả hai, và sự xuất hiện những chướng ngại bất lợi bất ngờ.
    Khi chúng ta xem xét nhân tố thứ nhất, sự tiêu hoa thiện nghiệp trong quá khứ, thì cách để tránh nó là tích cực trong việc cứu vớt các sinh mạng, đặc biệt là những sinh linh sắp bị đem giết. Nếu bạn có thể cứu duy nhất một sinh linh khỏi bị giết, thì đây là một nguyên nhân rất mạnh mẽ trong việc duy trì và gia tăng thọ mạng thuộc nghiệp của riêng bạn. Cách khác là xây dựng bảo tháp hay chùa chiền, tạc tượng hoặc in kinh sách, hay đóng góp bằng cách nào đó cho việc tạo dựng bất kỳ những hỗ trợ nào cho thân, khẩu, và ý giác ngộ. Trái lại, nếu ta huỷ hoại bất cứ điều gì trong những thứ này, hay sát sinh, cố ý giết hại bất cứ chúng sanh nào, thì thọ mạng của ta sẽ lập tức suy giảm.
    Cách thức ngăn ngừa nhân tố thứ hai - sự tiêu hao công đức – là làm tăng trưởng công đức của ta là cúng dường những đối tượng mà ta sùng kính và rộng rãi với những người nghèo khó. Sự thực hành cúng dường, sự biểu hiện việc bố thí và mọi thực hành khác để tích tập công đức phải hoàn toàn được đặt nền trên một động cơ thanh tịnh.
    Nhân tố thứ ba, sự tiêu hao cả thiện nghiệp lẫn công đức có thể ngăn ngừa bằng cách làm tất cả những điều này: tạo dựng những điều hỗ trợ cho thân, khẩu, và ý giác ngộ, cứu mạng chúng sinh, và nói chung, tham gia vào những thực hành đặc biệt đem lại lợi lạc cho người khác - về mặt căn bản là sự tích tập công đức được đặt nền trên động lực thanh tịnh.
    Đối với nhân tố thứ tư, không chú tâm, đó là hoàn cảnh bất lợi ngoại tại, giống như làn gió vụt tới và thổi tắt ngọn đèn, thọ mạng của ta chấm dứt trước thời điểm của nó, vì thế có thể nói có nhiều cách để chú tâm và cẩn trọng. Nếu bạn có đủ khả năng chỉ dùng những thực phẩm đúng đắn thì thức ăn là một nhân tố rất quan trọng. Bạn phải biết ăn những gì có lợi cho sức khoẻ và chỉ dùng những thứ đó. Bạn phải giữ gìn hạnh kiểm và đạo đức và hiểu rõ những gì lành mạnh cho thân thể đối với các hoạt động của thân bạn và cách bạn đối xử với nó. Bạn cũng phải thận trọng đối với nơi bạn đặt chân tới, tranh xa những nơi chốn và hoàn cảnh nguy hiểm.
    Việc uống thuốc, tập thể dục và những thứ khác tương tự như vậy chỉ lợi ích cho tình huống thứ tư, là sự quét sạch các chướng ngại. Thực sự thì khó mà nói được rằng việc dùng thuốc hay tập thể dục sẽ đem lại lợi ích cho ba điều trước đó - sự hết bấc, hết bơ, hay hết cả hai, đó là sự cạn kiệt của nghiệp, cạn kiệt công đức và cạn kiệt cả hai. Do đó những điều trên rơi vào loại thứ tư, chúng có thể lợi ích trong việc phòng ngừa một số hoàn cảnh tiêu cực bên ngoài, nhưng đó là cách tôi thấy như thế.
    Khi chúng ta nói về những nguyên nhân hết sức tích cực phù hợp với sự theo đổi Kim Cương thừa này, điều này ám chỉ các kỹ thuật đặc biệt của những thực hành thuộc giai đoạn phát triển và thành tựu. Thực hành Chimed Sog Thig sâu xa này được thực hiện trên cả hai cấp độ, nó là phương pháp vô song làm lợi lạc cho cả bốn nhân tố. Không có điều gì thậm chí có thể tiếp cận được những lợi ích của loại thực hành này đối với nghiệp, công đức, đối với cả hai, và đối với việc đảo ngược những chướng ngại bất lợi bên ngoài. Nó vượt xa điều tốt đẹp nhất mà người ta có thể làm được. Điều đó không có nghĩa là khi đó chung ta có thể quên đi bốn nhân tố này. Là những hành giả của các thực hành thành tựu trường-thọ, đặc biệt là Chimed Sog Thig, chúng ta phải luôn tỉnh thức và cẩn trọng đối với nghiệp, công đức, cả nghiệp lẫn công đức, và những hoàn cảnh bất lợi, sự không chú tâm. Nếu một người mắc nhiều món nợ khác nhau gặp được một người bạn giàu có cho tiền để trả, họ lập tức thoát khỏi đau khổ phải chịu đựng vì nợ nần. Tương tự như vậy, ngay khi bạn gặp được thực hành Chimed Sog Thig và bắt đầu thực hành nó, thì bạn không chỉ làm cho tất cả bốn nhân tố này tự động hồi phục, mà bạn còn đang tạo nên những nguyên nhân dẫn tới sự bất tử kim cương, Phật Quả, sự giác ngộ. Kết quả đó vượt xa bất kỳ loại khao khát thế tục nào chỉ mong cầu một sự trường thọ đơn giản; thậm chí không thể đem nó ra so sánh được.
    Trái lại, nếu bạn tích tập nhiều nghiệp tiêu cực, độc hại, có những tư tưởng rất xấu xa và dấn mình vào những hành vi tiêu cực và cũng rất ít chú tâm về mặt đạo đức, thì kết quả của những điều đó là gì? Bạn sẽ là nạn nhân của cái gọi là cái chết bất ngờ (bất đắc kỳ tử), chết yểu, là những cái chết không cần bất kỳ nguyên nhân hay điều kiện (duyên) đặc biệt nào ngoài một sự tích tập điều tiêu cực.
    Như đã dạy trong Kalachakra tantra, trong thế giới của chúng ta có mười sáu trạng thái sợ hãi to lớn. Tuy nhiên, thực ra hiện nay và trong thời đại này thì không chỉ giới hạn trong mười sáu trạng thái đó; mà có nhiều trạng thái sợ hãi không thể nghĩ bàn. Nỗi sợ hãi diện diện khắp mọi nơi, liên tục không ngơi nghĩ. Khi quan sát tình huống, chúng ta nhận ra rằng có rất ít nguyên nhân hỗ trợ cho đời sống, thọ mạng, và có vô số nguyên nhân và điều kiện (nhân và duyên) ngăn trở và huỷ diệt nó. Đây là điều cần được lưu ý. Việc khảo sát và bàn luận về mọi nguyên nhân và hoàn cảnh bất lợi khác nhau đúng là một công việc rộng lớn. Nói một cách đơn giản, chúng ta có thể lưu ý mọi kẻ thù hữu hình hay vô hình có thể làm hại ta, và ta nên cố gắng tránh xa chúng: những thứ như thú dữ, việc sống quanh những nơi có thú dữ sống - hoặc ngay cả những người man rợ -
    sống trong những nơi nguy hiểm, hoặc tự đặt mình vào những hoàn cảnh nơi những thực thể tiêu cực vô hình hiện diện khiến chúng có thể ám nhập hay gây chướng ngại cho ta.
    Khi bạn thấy chính mình trong hoàn cảnh nghèo khổ, không thể kiếm sống được, thì đó là kết quả của sự trộm cắp trong quá khứ. Bạn đã tích luỹ nghiệp bất thiện là sự keo kiệt. Bạn cần phải chú tâm hơn nữa về những sự cúng dường và bố thí, và cho dù bạn không có khả năng cúng dường, bạn phải cầu nguệyn rằng bạn có thể, và hiểu rõ rằng tình huống của bạn là kết quả của một nguyên nhân thuộc nghiệp đặc biệt. Khi bạn thấy những người khác đau khổ vì sự bất hoà trong mối quan hệ của họ, hoặc nếu chính bạn đang ở trong một hoàn cảnh như thế, thì bạn phải lưu ý rằng nếu bạn tạo nên một tình huốn mang lại nỗi khổ tâm hoặc căng thẳng cho người khác, thì sự đau khổ và căng thẳng này là một nhân tố góp phần làm rút ngắn thọ mạng của họ.
    Hơn là cứ mải suy nghĩ về bản thân bạn và những gì bạn cho là bạn cần làm để đem lại hạnh phúc cho chính bạn, nếu bạn nhìn vào bối cảnh rộng lớn về cách vận hành của nghiệp, bạn sẽ nhận ra rằng bất kỳ khi nào bạn góp phần làm cho người khác không được hạnh phúc thì bạn không chỉ đem lại nỗi bất hạnh cho họ. Bởi họ cũng đang trải nghiệm sự rút ngắn thọ mạng của họ do sự bất hạnh đó, cho nên bạn cũng đang góp phần vào điều này. Khi bạn có năng lực để quan tâm và để thực sự thực hành làm lợi lạc cho người khác, bạn phải lưu ý những điều này và ngưng lại việc tích luỹ nghiệp thực sự làm rút ngắn thọ mạng của người khác, bởi kết quả là bạn đang làm ngắn đi tuổi thọ của chính mình. Đây là một chu trình vô tận.
    Như vậy điều mà ý niệm về sự chú tâm (chánh niệm) muốn nói tới thì giống như bác sĩ nói: “Hãy uống thuốc này, nó sẽ có ích cho bạn”, vì thế hãy sử dụng nó. Nếu bác sĩ nói đừng uống, thì chớ có uống. Đừng ngoan cố. Sự ngoan cố không làm hại ai ngoại trừ chính bạn. Điều này giống như liên tục tự đập đầu vào tường. Bạn có thể tiếp tục làm điều đó được bao lâu? Phương cách để thực hành là từ bỏ mười điều bất thiện - một việc đơn giản nhưng rất khó khăn. Ba điều bất thiện và thân phải được từ bỏ tận gốc rễ. Không chỉ như vậy, bạn phải làm điều đối nghịch lại để tích tập đức hạnh. Tất cả các bạn đều biết những điều đó là gì. Sau đó là bốn điều bất thiện về khẩu, và ba điều bất thiện về ý. Đây là những điều bạn biết, những điều bạn đã từng tu tập, vì thế bây giờ là lúc để thực hành. Nếu bạn thực hành, bạn sẽ kinh nghiệm những điều lợi lạc, đây là điều chắc chắn.
    Phần Hai
    Sự Thực Hành Kéo Dài Tuổi Thọ
    Bây giờ chúng ta sẽ bắt đầu với giáo lý về phương pháp thực tế để kéo dài tuổi thọ.
    Thực hành sâu rộng Chimed Sog Thig chưa được dịch sang Anh ngữ; vì thế bản dịch đặc biệt của thực hành mà bạn có thể dùng được bằng Anh ngữ là thực hành hàng ngày được rút gọn. Mặc dù là một bản dịch cô đọng nhưng nó đi vào vấn đề một cách sâu sắc. Nó là thực hành cốt tuỷ, vô cùng đơn giản và rõ ràng. Thực hành này đã được nhiều vị Thầy cao cấp và vĩ đại thực hiện hàng ngày. Nếu nó không đem lại kết quả cho bạn thì đó là lỗi của bạn, chứ không phải của sự thực hành.
    Khi bạn ngồi xuống để thực hành, điều quan trọng là bạn phải buông xả, thoải mái, và phải ấn định thời gian thực hành cho mình không chút xao lãng. Thời gian tốt nhất để thực hành sự trường-thọ là vào buổi sáng. Nhưng nếu buổi sáng bạn không có thời giờ, thì điều đó có nghĩa bạn không thể thực hành nó? Không, bạn có thể thực hành vào bất kỳ lúc nào và nó sẽ luôn luôn ích lợi. Tuy nhiên sẽ tốt lành hơn khi bạn thực hiện thực hành này vào buổi sáng, và cũng sẽ tốt lành hơn khi thực hành nhiều hơn vào ngày trăng tròn. Trong bốn loại hoạt động liên quan - tức tai, tăng ích, hàng phục và phẫn nộ - thì thực hành này thuộc về loại tăng ích. Đó là lý do tại sao ta sẽ được tốt lành khi thực hành vào một thời điểm tăng trưởng (buổi sáng).
    Như mọi thực hành sadhana (nghi quỹ), nó có ba phần: trước tiên là những chuẩn bị, thứ hai là chánh hành pháp (thực hành chính), và thứ ba là sự hoàn tất. Phần thứ nhất bắt đầu với sự cầu nguyện dòng phái. Điều này giải thích dòng truyền thừa, bắt đầu từ nguồn gốc nguyên thuỷ của sự truyền dạy và tiếp tục xuống tới vị Thầy gốc. Trước khi tụng bài nguyện dòng phái, vào lúc bắt đầu niệm ba lần Bài Cầu nguyện Bảy dòng tới Guru Rinpoche thì rất tốt. Và sau đó, bạn có thể tụng bất kỳ bài nguyện nào mà bạn thường niệm vị Thầy gốc của mình.
    Vì thế, như tôi đã nói, thực hành đặc biệt này hoàn toàn đơn giản, không cần phải cúng dường torma để loại bỏ những thế lực bất thiện - bạn chỉ đi thẳng vào sự quy y và phát Bồ Đề Tâm. Trước tiên, hãy quán tưởng ruộng quy y trong không gian phía trước bạn. Sau đó, bắt đầu với “NAMO”, hãy niệm ba lần bài kệ quy y bốn dòng, hãy suy niệm thật kỹ lưỡng ý nghĩa của những lời bạn đang niệm.
    Sau khi quy y bạn sẽ phát triển tâm giác ngộ, Bồ Đề Tâm. Giống như với sự quy y, phần này cũng có một bài kệ bốn dòng, bạn cũng niệm ba lần bắt đầu bằng “HO”. Một lần nữa, hãy suy niệm thật kỹ về ý nghĩa những lời vừa niệm. Về mặt căn bản, bạn đang phát triển sự ước nguyện mọi chúng sanh, những sắc tướng xuất hiện của sự nhị nguyên, là những kẻ bị sa lầy trong đại dương đau khổ vô tận là sinh tử luân hồi, có thể đạt được trạng thái bất tử và an lập được nhất vị vĩ đại của tâm giác ngộ. Đây là một lời cầu nguyện cho tất cả chúng sinh thành tựu sự thực hành. Ngoài ra, nó là sự biểu lộ hứa nguyện hay cam kết làm việc vì sự lợi lạc của người khác của bạn và thực hiện thực hành để những người khác có thể thọ nhận thành tựu này.
    Sau đó bạn tụng bài nguyện cúng dường bảy chi lên mạn đà la của những Đấng Chiến Thắng bất tử, có nghĩa là cúng dường mạn đà la của tất cả chư Phật. Việc trì tụng bài nguyện cúng dường bảy chi này rất quan trọng. Phần đầu tiên của bảy chi là đảnh lễ hay kính lễ, là một cách đối trị tánh kiêu mạn. Việc kính lễ, dâng cúng những lễ lạy thì rất quan trọng bởi tánh kiêu mạn của chúng ta hết sức mạnh mẽ. Chi thứ hai là bố thí hay cúng dường. Đây là cách đối trị tính tham lam và thèm khát. Chi thứ ba là sám hối. Sám hối thì cực kỳ cần thiết vì cho tới khi và trừ phi chúng ta có thể sám hối và tịnh hoá những lỗi lầm và nghiệp bất thiện của mình, chúng ta sẽ không thể tiến bộ trên con đường. Chúng ta sẽ luôn bị những thói quen xấu gây chướng ngại. Chi thứ tư là hoan hỷ - hoan hỷ trong sự tích tập mọi công đức và điều tốt lành. Đây là cách đối trị thói ganh tị. Thông thường, khi thấy người nào đó làm điều gì tốt lành, thay vì hoan hỉ thì chúng ta lại cảm thấy ghen tức hoặc ganh đua. Thái độ này phải dứt khoát từ bỏ. Chi thứ năm là thỉnh cầu vị Thầy chuyển Pháp luân. Điều này rất quan trọng vì nếu không có ai cầu khẩn giáo lý thì vị Thầy không thể giảng dạy. Ngoài ra, nhờ việc chuyển Pháp luân, ban dạy các giáo lý, hiện nay Giáo Pháp vẫn tồn tại và vẫn còn giá trị trong thế gian. Chi thứ sáu là cầu khẩn vị Thầy được trường thọ và trụ thế vững chắc. Chi thứ bảy là hồi hướng mọi
    công đức vì lợi ích của tất cả chúng sinh. Cuối cùng trong bài nguyện cúng dường bảy chi đặc biệt này, dòng cuối là sự ước nguyện có thể đạt được thân Kim cương, trạng thái bất tử.
    Mọi sự ở trên cho tới lúc này là phần thứ nhất, những sự chuẩn bị. Kế tiếp là chánh hành pháp, sự phát triển của Bổn Tôn. Điều này bắt đầu bằng cách niệm “HRI”, là chủng tự của Bổn Tôn. Từ đó bạn sẽ phát sinh ba samadhi, ba thiền định. Để bắt đầu, bạn đi vào sự tỉnh giác về bản tánh trống không của mọi sự như nó là, và sau đó, từ trong sự tỉnh giác đó, bạn kinh nghiệm mọi hình tướng xuất hiện một cách tự nhiên.
    Để đi vào samadhi thứ nhất, là thiền định tập trung vào bản tánh của thực tại như nó là, điều cốt yếu là hiểu rõ sự không đồng nhất của mọi hiện tưởng. Điều này ám chỉ bản tánh trống không của ta và người. “Ta” (bản ngã) thì hiển nhiên, và “người” có nghĩa mọi sự là đối tượng của bản ngã, bao gồm tất cả những tri giác. Vì thế, đây là điều rất khó khăn. Samadhi thứ hai xuất hiện từ samadhi đầu tiên. Khi ta xác quyết được sự không đồng nhất của ta và người, nhờ đó đi đến việc thấu hiểu bản tánh trống không của thực tại, sự thấu hiểu về sự xuất hiện của mọi hiện tượng từ bản tánh trống không đó là samadhi thứ hai. Điều này có nghĩa là nhận ra hoặc hiểu được làm thế nào mọi hiện tượng cụ thể có thể hiện hữu, mặc dù bản tánh của chúng thì không hiện hữu (vô tự tánh). Bằng cách thể nhập samadhi thứ nhất ta tránh được sự cực đoan của chủ nghĩa vĩnh cửu, và nhờ thể nhập samadhi thứ hai ta tránh được sự cực đoan của chủ nghĩa hư vô. Do đó, mọi quan điểm cực đoan được quân bình trong trung đạo.
    Vậy, có thể bạn tự hỏi: “Với quan điểm của chủ nghĩa vĩnh cửu thì vấn đề là gì?” Vấn đề là bạn tin rằng tất cả các hiện tượng, mọi sự bạn thấy, kể cả bản thân bạn, thì đều thường hằng. Đây là một quan điểm cực đoan: nó không thể tiến xa hơn. Nếu bạn thấu suốt samadhi thứ nhất, thì khi ấy có một mối nguy hiểm khi nghĩ tưởng rằng chẳng có điều gì hiện hữu, dù thế nào đi nữa. Kết quả của điều này là bạn có thể đi đến việc phủ nhận định luật nhân quả, không tin vào nghiệp, và đây là điều hết sức sai lầm. Đây cũng là một quan điểm cực đoan, và nếu chấp chặt nó thì bạn cũng bị giới hạn và sẽ chẳng có bất kỳ tiến bộ nào.
    Samadhi thứ ba kết hợp hai samadhi kia lại với nhau. Để hiểu được điều này, nó được so sánh với mặt trời và tia sáng của nó: chúng là một và đồng nhất. Cả hai đều có năng lực xua tan bóng tối. Mặt dù ba samadhi được trình bày như ba giai đoạn thực hành, nhưng thực ra chúng là một sự phô diễn. Mọi hiện tượng xuất hiện như ba samadhi. Bổn tôn và toàn bộ mạn đà la cũng xuất hiện như vậy.
    Nhiều người trong các bạn đã từng nghe các thuật ngữ “Pháp Thân”, “Báo Thân”, và “Hoá Thân”. Có thể đối với các bạn chúng hoàn toàn chỉ là những từ ngữ. Thật sự, nếu không có sự thực hành thì khó có thể hiểu được ý nghĩa của chúng, nhưng về bản chất thì chúng tương ứng với ba samadhi.
    Pháp Thân là phạm vi hoạt động của chân lý. Nó vô tướng và không đặc tính. Nó chỉ đơn giản là bản tánh của thực tại như nó là, thoát khỏi các đặc tính. Mọi thứ xuất hiện tự nhiên của mọi hình tướng, mọi hiện tượng. Hoá Thân là lòng bi không bị chướng ngại, sự phô diễn có chủ đích của sắc tướng, sự hiển lộ của một thân tướng vì lợi ích của người khác. Đây là ý nghĩa của từ “tulku” trong tiếng Tây Tạng. Một vị tulku tự hiển lộ trong một thân tướng ngũ uẩn bình thường chỉ vì mục đích dẫn dắt và giải thoát những chúng sinh cha-mẹ.
    Vì thế, trước tiên bạn niệm “HRI”, và với điều này bạn lập tức coi những hình tướng thông thường trở thành sự xuất hiện tự nhiên của cõi tịnh độ. Đây là sự xuất hiện tự
    nhiên của ba thân (ba kaya). Sau đó bạn quán tưởng một hoa sen, mặt trời và một ngai mặt trăng, trên đó xuất hiện giác tánh thuần tịnh của chính bạn là chữ HRI màu đỏ, chói ngời, trong trẻo. Hãy tập trung vào đó.
    Sau đó, từ chữ HRI, vô số tia sáng trong hình thức những vật cúng dường phóng toả vào mười phương cúng dường tất cả chư Phật và Bồ Tát nói chung, và đặc biệt là cúng dường tất cả chư Phật trường-thọ. Kế tiếp ánh sáng quay trở lại và bị thâu rút vào chữ HRI, là bổn tâm của bạn. Sau đó, một lần nữa ánh sáng chiếu ra, lần này đến tất cả các sinh loài, ban cho họ sức sống, sinh khí, và những sự ban phước. Một lần nữa ánh sáng quay trở lại và thâu rút vào chữ HRI.
    Sau đó HRI biến thành bản tánh của ta là Đức Phật Vô Lượng Thọ Amitayus. Bạn sở hữu mọi tướng chính và phụ của một vị Phật toàn giác. Bạn có sắc đỏ và đang mỉm cười, hai tay kết định ấn và cầm một tịnh bình trường thọ. Vị phối ngẫu Mandarava của bạn đang ôm lấy bạn. Bà ôm bạn với tay phải quàng quanh cổ bạn và bàn tay phải Bà cầm một mũi tên trường thọ. Trong bàn tay trái Bà giơ cao một bình trường thọ. Yabyum – là hai thân tướng: bản thân bạn và Madarava - biểu tượng cho sự hợp nhất của trí tuệ và phương tiên. Cả hai thân tướng không phải là những thân hữu hình bình thường bằng xương, thịt và máu. Bạn phải thấy họ rõ ràng như những thân cầu vồng: trong trẻo, rõ ràng, và trong suốt. Họ xuất hiện nhưng không thật có, không có sự hiện hữu nội tại. Bạn ngồi trong một vùng được tạo nên bởi vô vàn tia sáng ngũ sắc cuồn cuộn, và trên đỉnh đầu bạn có vô số chư Phật và các Bổn Tôn trường-thọ vây quanh như những đám mây.
    Mạn đà la của mỗi một bộ trong ngũ bộ Phật hiện diện trong mỗi một trong năm luân xa của thân thể. Trong một vài thực hành thuộc giai đoạn phát triển khác, một khi bạn thành tựu được một sự quán tưởng rõ ràng chính mình là Bổn Tôn, thì sau đó bạn sẽ tiếp tục quán tưởng những gia đình Phật trong những luân xa khác nhau. Trong thực hành đặc biệt này, trước tiên bạn hãy nghĩ rằng toàn bộ mạn đà la của các Bổn Tôn trường-thọ an trụ trên đỉnh đầu bạn. Sau đó tập trung vào kinh mạch trung ương, uma, bạn quán tưởng Pháp Thân Đức Phật trường-thọ với vị phối ngẫu bên trong kinh mạch trên chóp đỉnh. Đây là Đức Phật Amitayus (Vô Lượng Thọ). Bên trong của kyangma, kinh mạch phía bên trái, ở bên trái của kinh mạch trung ương, là vị phối ngẫu trường-thọ Sangwa Yeshe. Trong cổ họng là Amitayus Phật bộ với phối ngẫu. Trong những cánh hoa kinh mạch là tám thiên nữ sắc đẹp (là những thiên nữ cúng dường), v..v.. Trong luân xa tim là Amitayus Kim Cương bộ với phối ngẫu. Trong những cánh hoa bao quanh là sáu thiên nữ của những phẩm tính đáng ao ước. Trong luân xa rốn là Amitayus Bảo bộ với phối ngẫu, và trong những cánh hoa kinh mạch chung quanh sắp sếp những Bổn Tôn trường thọ, những vị bảo trợ và tất cả đoàn tuỳ tùng của họ. Trong luân xa bí mật là Amitayus Nghiệp bộ với phối ngẫu. Trong những cánh hoa kinh mạch vây quanh là những vị giữ cổng nam và nữ trong sự hợp nhất. Tất cả những Bổn Tôn này có sắc đỏ.
    Vì có thể rất khó quán tưởng tất cả, do đó trong bản văn viết rằng ta không cần quán tưởng mọi chi tiết, chỉ nhận biết sự hiện diện của mạn đà la là đủ. Hãy quán tưởng rõ ràng chính bạn là Đức Phật Amitayus với vị phối ngẫu, và biết rằng trong thân bạn là những luân xa khác nhau với tất cả những Bổn Tôn.
    Tất cả hình ảnh này là sắc tướng trí tuệ nguyên sơ; chúng không được cấu tạo bằng xương, thịt và máu. Các Ngài xuất hiện rõ ràng như hình ảnh phản chiếu trong một tấm gương trong. Tự nguyên thuỷ, mọi hình tướng đều thanh tịnh như nhau. Bổn tâm bạn, là bản tánh tỉnh giác thuần tịnh của riêng bạn, là Phật tánh, đuợc gọi là “rigpa”. Nếu thấu suốt rigpa thì bạn sẽ thấu suốt được sự hiện diện của tất cả các Bổn Tôn trí tuệ
    nguyên sơ này. Bạn sẽ thấu suốt được Pháp Thân Phật trường-thọ là gì, Báo Thân trường-thọ là gì và Hoá Thân Phật trường-thọ nghĩa là gì, và bạn sẽ thấu hiểu ba samadhi. Bạn sẽ hiểu được tất cả những điều này, và nó không là gì khác ngoài bổn tâm bạn.
    Khi phát triển mạn đà la, bạn niệm một lần thần chú: OM AH HUNG VAJRA GURU PEMA AYUJNANA SARWA MANDALA HRI DHRUM SARWA ABHIKHENTSA HRI. Với bài này bạn khẩn cầu trí hữu tình, sau đó các Ngài xuất hiện và hoà lẫn với nguyện hữu tình của bạn trở thành bất nhị. Sự hợp nhất trí hữu tình và nguyện hữu tình này trở thành sự giác biết về bản tính tỉnh giác thuần tịnh của ta.
    Kế tiếp là sự trì tụng thần chú. Điều quan trọng là hoàn toàn không nên vội vã tụng niệm thần chú. Trước tiên, hãy phát triển kỹ lưỡng sự quán tưởng về Bổn Tôn, đây là yoga thuộc về thân, và sau đó đi vào việc tụng niệm thần chú, là yoga thuộc khẩu (ngữ).
    Phần trì tụng thần chú bắt đầu với “HRI”, là chủng tự của Bổn Tôn. Sau đó quán tưởng trong tim của bản thân ta là Đấng Thủ hộ Bất Tử, trong một trái cầu có ánh sáng ngũ sắc là một chày kim cương đôi nằm ngang. Chính giữa nó là một mặt trời và mặt trăng cũng nằm ngang (mặt trời ở đáy và mặt trăng ở đỉnh), nối kết với nhau như một chiếc mề đay, và hơi hé mở. Sau đó, từ ba chủng tự chính và từ vòng chữ thần chú chung quanh, ánh sáng chiếu vào tất cả các cõi Phật. Nó thâu hút mọi ân phước và thành tựu của tất cả chư Phật và Bồ Tát và khi thâu rút lại, nó đem chúng vào những chữ nơi ngực ta. Nó cũng chiếu rọi toàn thể thế giới, vào mọi nơi trong không gian, và thâm nhập vào tất cả các sinh loài và mọi vật vô tình, thâu rút tinh tuý của đời sống và tinh tuý của năm yếu tố. Khi thâu rút trở lại bản thân ta, nó kéo lui tinh tuý của đất, nước, gió, lửa, và hư không, cũng như sinh lực, năng lực, và sức sống của tất cả sinh loài. Hãy cho rằng toàn thân bạn trở nên tràn ngập ánh sáng và sinh lực, thọ mạng, sinh khí, và những chất dịch tinh tuý suy yếu của bạn được phục hồi. Sau đó, hãy nghĩ tưởng rằng với điều này bạn đã đạt được kết quả là thân cầu vồng bất tử, đó là cuộc đời kim cương của trí tuệ nguyên sơ - bất biến, thường hằng, và kiên cố. Vào lúc này hãy thực hiện việc trì tụng thần chú gốc.
    Hãy thực hiện việc quán tưởng ánh sáng chiếu ra, tập hợp mọi sinh lực, sinh khí và tinh tuý của năm yếu tố, thâu rút trở lại vào bạn và lan toả toàn thân trong lúc bạn trì tụng thần chú. Bạn có thể niệm thần chú một trăm lần, một ngàn lần, hay hàng trăm và hàng ngàn lần, càng nhiều càng tốt trong khả năng của bạn. Cho dù bạn chỉ tụng thần chú bảy lần, bạn cũng nên làm với sự quán tưởng rõ ràng và sau đó chắc chắn rằng bạn sẽ có thể đạt được những gì mình đang cố gắng thành tựu nhờ việc trì tụng thần chú. Nếu bạn không quán tưởng rõ ràng thì sự việc không tiến triển theo cách tương tự.
    Khi hoàn tất việc trì tụng thần chú gốc bạn sẽ niệm HRI, mỗi lần ba âm, càng nhiều càng tốt trong khả năng của bạn. Vẫn quán tưởng bản thân bạn là Đấng Thủ hộ Bất Tử, tập trung trên chữ HRI nơi trái tim bạn, và quán tưởng rằng từ nơi đó vô số chữ HRI, giống như những hạt bụi trong ánh sáng mặt trời, phóng chiếu ra làm tràn đầy ba mươi triệu thế giới. Hãy nghĩ rằng toàn thể thế giới trở nên tràn ngập vô số chữ HRI. Sau đó hãy lưu ý rằng tinh túy của thế giới ở bên ngoài, và tinh túy của sinh lực, công đức và đạo đức của những gì ở trong thế giới, đó là chúng sinh hữu tình, và những sự ban phước và năng lực của tất cả chư Phật và Bồ Tát trở nên bị thu hút bởi và sau đó nhẹ nhàng thâu rút vào chữ HRI hiện diện khắp mọi nơi không loại trừ nơi chốn nào. Đìâu này làm cho những chữ chói ngời ánh sáng và vẻ tráng lệ, giống như vô số hàng triệu, hàng tỉ mặt trời. Sau đó chúng quay trở lại, và như một cơn mưa đều đều, nhẹ nhàng, chúng tan hoà vào thân bạn, phục hồi và nâng cấp sinh lực, thọ mạng, và tinh chất của bạn. Hãy cảm nhận
    rằng bạn trở nên trẻ trung như Đức Guru Rinpoche, với công đức, năng lực, sinh khí, và sinh lực không bị chướng ngại, thoát khỏi mọi sa sút sức khoẻ. Hãy cảm nhận rằng bạn đã thu hút mọi sự ban phước của đời sống kim cương.
    Cuối cùng, khi tất cả những chữ HRI đã được thâu rút vào thân bạn, và đặc biệt là vào những chủng tự trong trái tim bạn, hãy nghĩ rằng chiếc mề đay mặt trời và mặt trăng đóng lại. Rồi bốn đầu của chày kim cương đôi phủ lên đỉnh mề đay, và quả cầu ánh sáng ngũ sắc rút lại quanh chiếc mề đay và những đầu chày vajra. Sau đó một chày kim cương màu đỏ hồng nọgc có kích thước khớp ngón tay cái của ta đi xuống và đáp trên đỉnh quả cầu. Từ chày kim cương này, năm tia lửa được bắn ra. Điều này bảo vệ những sự ban phước che chở ta không bị mất hay bị cướp đi sinh lực, thọ mạng v..v..
    Kế tiếp, khi chấm dứt việc trì tụng thần chú, bạn kết thúc phần hai của sadhana, là chánh hành pháp và chuẩn bị đi vào phần kết thúc, là sự phát tán và tái hiện của Bổn Tôn. Hai phần kết thúc này, sự phát tán và tái hiện được thực hiện để tránh rơi vào hai quan điểm cực đoan là vĩnh cửu và hư vô. Trong một ý nghĩa, có thể có khả năng là nếu ta nhận ra rằng sự hoạt động của trí tuệ nguyên sơ là tánh Không là cái được giải thoát ngay từ lúc khởi đầu (từ vô thuỷ), thì ta có thể đi đến việc chấp thủ quan điểm của chủ nghĩa hư vô. Trái lại, cũng có thể có khả năng nếu ta nhận ra rằng sự phô diễn liên tục, không bị che chướng của mạn đà la – là mọi sự xuất hiện - khởi lên từ nền tảng trí tuệ nguyên sơ huyễn hoá đó, thì ta có thể đi đến sự chấp thủ quan điểm cực đoan của chủ nghĩa vĩnh cửu. Do đó, nhờ thực hành sự phát tán và tái hiện của Bổn Tôn, bạn tránh được không rơi vào một trong hai cực đoan này. Thực ra bạn tránh được bốn cực đoan: vĩnh cửu, hư vô, cả hai, và không có cái nào hết.
    Sự phát tán bắt đầu với bài kệ sau: “AH Năng lực của trí tuệ nguyên sơ huyễn hoá, hoàn toàn giải thoát ngay từ vô thuỷ, là sự phô diễn không bị che chướng, liên tục của mạn đà la, bản tánh của Pháp Thân vô biên vĩ đại.” Ngay tại đây, với bài kệ này, bạn tránh được hai cực đoan. Ngoài ra, không có cơ hội để rơi vào một trong hai cực đoan, bạn an trụ trong trung đạo, trong Pháp Thân vô biên vĩ đại, sự bao la rộng khắp của thanh tịnh quang bất biến, đó là Lạt ma bất tử. Điều này ám chỉ Lạt ma trường thọ, là Đức Phật Amitayus. Nó cũng ám chỉ ánh sáng bất biến của Pháp Thân, cái thấy của Đức Phật Phổ Hiền không bị tạo tác, đó là trạng thái của Đức Phật nguyên thuỷ. Vào cuối bài kệ phát tán ngắn, bạn niệm thần chú theo sau và buông xả trong giác tánh thuần tịnh.
    Vì đây là một thực hành ngắn, nên nó là pháp thực hành ở đó phương pháp gọi là “sự phát triển tức thời Bổn Tôn nhờ sự quán tưởng” được sử dụng. Trong cách thế giống hết như thế, sự hoá tán của Bổn Tôn cũng xảy ra lập tức dựa trên sự quán tưởng. Điều này có nghĩa rằng ngày khi bạn nghĩ về Bổn Tôn, thì bạn là Bổn Tôn. Ngay khi bạn nghĩ mình không phải là Bổn Tôn, thì bạn không phải là Bổn Tôn. Khi bạn niệm thần chú PEMA AYUS JNANA DHARMADHATU AH, bạn không còn nhận biết chính mình là Bổn Tôn. Mọi sự đều trở thành tánh Không, nền tảng nguyên sơ. Nếu muốn làm kỹ lưỡng hơn, bạn có thể thục hành các bản văn dài mà ở đó thế giới, là mạn đà la, trước tiên hoà tan vào mạn đà la Bổn Tôn yabyum chính, và sau đó vị phối ngẫu phát tán vào người bạn, và cuối cùng bạn phát tán vào thần chú, nó phát tán vào những chủng tự, các chủng tự phát tán từng chữ một vào tánh Không. Bạn có thể thực hành theo cách này như một bài tập trong tâm nếu bạn muốn.
    Để thực hiện sự tái hiện, trước tiên bạn niệm “OM AH HUM”. Đây là ba chữ của thân, khẩu, và ý kim cương. Vào lúc này, hãy phát khởi sự tỉnh giác về thân bạn là Bổn Tôn, ngữ của bạn là thần chú và ý của bạn là sự vận động của trí tuệ nguyên sơ. Bản văn
    tiếp: “Bình chứa và những gì nó chứa đựng ám chỉ thế giới vô tình va tất cả chúng sinh sống trong đó, và tất cả điều này là trạng thái phô diễn vĩ đại của Bổn Tôn (có nghĩa là Đức Phật Vô Lượng Thọ), thần chú, và trí tuệ nguyên sơ. “Cầu mong hành động hướng dận của con đem lại lợi ích cho tất cả chúng sinh rộng lớn như hư không, không loại trừ bất cứ ai.” Và một lần nữa, bạn phát khởi sự tỉnh giác bản thân bạn là Bổn Tôn và môi trường quanh bạn là mạn đà la. Sau đó bạn niệm thần chú: “VAJRA SAMADHI ATMA KO HAM”. Nếu bạn thực sự là một hành giả xuất sắc của giai đoạn phát triển thì sau đó bạn sẽ tiếp nối không gián đoạn sự tỉnh giác hậu-thiền định về mọi hình tướng là Bổn Tôn, mọi âm thanh là thần chú, và mọi tư tưởng, mọi trạng thái của tâm là sự hoạt động (nô đùa) của trí tuệ nguyên sơ.
    Trong phần kết thúc là những lời cầu nguyện thiện ý và điều tốt lành: “Nhờ công đức này, cầu mong con và chúng sinh rộng lớn như hư không đạt được sự hoàn toàn tịnh hoá hai nhiễm ô và sự quán đảnh của cuộc đời bất tử. Cầu mong những đám mây vĩ đại của sự thịnh vượng và đức hạnh tối hảo trong ba thời lan toả vẻ chói ngời tráng lệ của điều tốt lành khắp các cõi giới.” Sau khi niệm bài này, bạn cũng có thể niệm bất cứ bài nguyện nào khác mà bạn thích, chẳng hạn như bài nguyện hồi hướng công đức và bài cầu nguyện trường thọ cho vị Thầy, v..v..
    Phần Ba
    Những Bình Luận Kết Thúc, Câu Hỏi Và Giải Đáp
    Trong thế giới này của chúng ta, trong cõi người, tuổi thọ trung bình của con người thì bất định, và tuỳ thuộc vào những nguyên nhân, điều kiện và hoàn cảnh. Cuộc sống chúng ta giống như một ngọn nến trong cơn gió bão. Những nguyên nhân làm cho đời ta bị huỷ diệt thì nhiều hơn nguyên nhân giúp nó tồn tại. Trong thực tế, những nguyên nhân khiến ta mất đi cuộc đời thì nhiều không kể xiết. Ngay cả những sự việc đơn giản nhất cũng có thể dễ dàng lấy đi mạng sống của chúng ta, một cách đột ngột và không báo trước. Lại nữa, bởi những chướng ngại và hoàn cảnh bất ngờ, những tinh linh vô hình và kẻ thù hữu hình có thể cướp đi sinh lực của chúng ta. Điều này có thể xảy ra do sức mạnh của những thần chú bất thiện và huyền thuật. Tinh thần và sinh lực của chúng ta có thể bị tước đoạt, năng lực của chúng ta có thể suy giảm, và chúng ta có thể bị tổn hại trong những cách thức vi tế không được báo trước. Điều này dứt khoát phải xảy ra.
    Vì vậy, để bảo vệ cuộc đời ta, điều hết sức quan trọng là sử dụng một trong nhiều thực hành trường thọ không thể nghĩ bàn có giá trị cho chúng ta. Chúng ta thực sự có thể kéo dài tuổi thọ đến mức tối đa nếu ta thực hành một phương pháp kéo dài đời sống trên một nền tảng quy củ. Phương pháp mà mỗi người tìm được và gắn liền với sẽ phù hợp với nghiệp của họ. Nhờ thực hiện phương pháp một cách đúng đắn và thanh tịnh, chúng ta sẽ tạm thời thoát khỏi nhiều chướng ngại cho cuộc sống của chính mình, thoát khỏi mọi bệnh tật, và kéo dài cuộc đời ta. Và cuối cùng, thậm chí còn quan trọng hơn nữa, giống như Đức Guru Rinpoche đã làm, chúng ta sẽ thực sự có một linh kiến về Bổn Tôn trường thọ, Đức Phật Amitayus, và nhận được những sự ban phước trực tiếp từ Ngài, và đạt được trạng thái bất tử.
    Như Đức Guru Rinpoche đã nói, trong thế giới của luân hồi sinh tử này, thế giới gồm mọi sự mà con người nâng niu quý trọng, chẳng hạn như của cải, những người thân yêu, tài sản và v..v..thì cuộc đời dứt khoát phải là điều quý báu nhất. Nó là điều hiển nhiên bởi những gì ta dính mắc vào nhất chính là cuộc đời của riêng ta. Đặc biệt là đối với những người thực hành Pháp và đang đi trên con đừơng tâm linh, điều cực kỳ quan trọng là nhận ra sự quý giá của cuộc đời và quan tâm tới việc kéo dài tuổi thọ để đảm bảo rằng họ có thời gian tối đa để thực hành. Nhằm thành tựu hai mục đích, là mục đích cho bản thân ta và những người khác, việc nương tựa vào thân người là điều cần thiết, và đó là lý do tại sao cần phải làm bất kỳ điều gì ta có thể để bảo đảm rằng đời ta càng kéo dài càng tốt. Ta cũng phải từ bỏ việc cố ý cướp đi mạng sống của bất kỳ sinh linh nào, và thay vào đó, cố gắng bảo vệ mạng sống của những sinh linh khác – ví dụ như mua lại những chúng sinh sắp bị đem bán cho đồ tể và phóng sinh chúng. Đây là một điều hết sức quan trọng cần phải làm.
    Nhiều người trong số bạn thích nói dối, vì thế đây là pháp thực hành mà ở đó bạn có thể nói dối và nó sẽ thực sự trở thành một thiện hạnh. Ví dụ như, nếu có người đến và nói rằng: “Nó đâu rồi, tao sẽ giết nó,” thì nếu bạn biết anh ta ở đâu, bạn có thể nói dối và bảo rằng anh ta đã đi theo một hướng nào đấy rồi chỉ cho người cố tìm giết anh ta đi theo hướng khác. Thậm chí bạn có thể ăn cắp. Chẳng hạn như thấy có người muốn giết một con gà, bạn có thể ăn cắp con gà đó và bỏ chạy, đó cũng là một cách thực hành.
    Nếu bạn thực hành những phương pháp này, như bảo vệ mạng sống của những ngừơi sắp bị hãm hại hoặc bị giết, và nếu bạn rộng rãi trong việc thực hiện những công trình có giá trị, như đúc tượng, xây chùa và v.v.., nếu chúng ta tham gia vào bất kỳ hoạt động nào để giữ gìn các giáo lý được tồn tại trên thế gian thì chắc chắn là những điều này sẽ tạo ra các nguyên nhân kéo dài thọ mạng của chúng ta. Cho dù những nguyên nhân ta đang tạo ra dường như sẽ không đem lại kết quả trong đời này, thì chúng cũng tạo ra dấu ấn nghiệp sẽ đi cùng với tâm thức sang đời sau. Trong đời này và những đời sau, chúng ta sẽ ít bị bệnh tật, tâm ta ít bị hành hạ bởi những niệm tưởng lan man và sự đau khổ, chúng ta sẽ gặp may mắn và những hoàn cảnh tốt lành thuận lợi sẽ trội vượt trong đời ta. Tuy nhiên, động cơ của ta là điều quan trọng nhất. Nếu ta làm mọi thực hành này với một độntg cơ thế tục, thì chúng sẽ không tạo ra những nguyên nhân để được trường thọ.
    Tôi khuyến khích tất cả các bạn hãy làm thực hành này càng nhiều càng tốt trong khả năng của bạn, nhất là đối với những ai là đệ tử của H.H. Dudjom Rinpoche. Đây là thực hành mà Ngài khuyến khích tất cả đệ tử của Ngài trên khắp thế giới thực hiện để cầu trường thọ cho Ngài. Thực hành phương pháp này sẽ kéo dài thọ mạng của các vị Thầy của bạn, nó tẩy trừ các bệnh tật và chướng ngại của đời bạn, và khiến cho đời bạn tràn đầy sinh lực và ý nghĩa. Nó sẽ giúp bạn sống trường thọ. Đây thực sự là một thực hành guru yoga.
    Cuối cùng, tôi muốn nói rằng tôi rất tiếc đã không thể đưa ra những giáo lý rộng lớn hơn về thực hành này vì không đủ thời gian. Hãy coi đây là một giới thiệu cho việc thực hành. Có thể vào một lúc nào đó trong tương lai tôi sẽ ban những giáo lý sâu rộng hơn về vấn đề này.
    Hỏi: Ngài phải mất bao nhiêu thời gian để giảng dạy phương pháp này cho chúng con, thưa Rinpoche?
    Đá: Tôi nghĩ rằng thực sự mất khoảng một tháng. Vấn đề là khi tôi có thời gian, các bạn lại không có. Như vậy tình huống của chúng ta giống như một cái bập bênh. Vì thế điều chúng ta cần là một giao kết thực sự - giao kết của cả thầy lẫn đệ tử. Như thế, tôi
    nghĩ tối thiểu phải mất một tháng vào mỗi đêm. Đó là một khối lượng khá lớn. Đối với giáo lý rộng lớn, chúng ta phải cần nhiều hơn một tháng.
    H: Chúng con nên thực hành theo tiếng Tây Tạng hay tiếng Anh?
    Đ: Trước tiên nên thực hành theo tiếng Anh, và sau đó khi đã hiểu ý nghĩa những gì bạn trì tụng, bạn có thể tụng theo tiếng Tây Tạng.
    H: Chúng con nên thực hành trước hay sau Ngondro?
    Đ: Trước tiên là Ngondro, sau đó tới thực hành này. Hãy thực hành Ngondro cho tơớ phần guru yoga, sau đó bạn có thể thêm vào thực hành này, rồi trở lại Ngondro để thực hành sự hồi hướng công đức sau cùng vào lúc kết thúc. Nếu không đủ thời gian để thực hành đồng thời tất cả thì bạn có thể thực hành chúng riêng rẽ.
    H: Nếu con muốn tu tập thực hành và hướng năng lực của nó nhằm giúp đỡ người nào đó thì con phải làm thế nào? Có phải chỉ thực hành theo cách thường làm?
    Đ: Tương tự như cách bạn toả ra ánh sáng từ bản thân bạn và nó tụ hội tinh tuý của tất cả các yếu tố, sinh lực của mọi chúng sanh và đem nó vào trong bạn, hãy quán tưởng tất cả những điều này cũng được đem đến cho người đó.
    H: Nếu vì một vài lý do chúng con không có thời giờ thực hành vào ban ngày, vậy làm vào ban đêm có được không?
    Đ: Thậm chí vào giữa đêm cũng tốt. Thời gian đặc biệt cho thực hành này là buổi sáng, người ta nói như thế, nhưng tôi cảm thấy điều thực sự quan trọng là duy trì nó liên tục suốt ngày. Hãy thực hành đều đặn vào bất kỳ thời gian nào bạn có thể, thay vì cứ căng thẳng vì không thể làm vào buổi sáng do đó không thực hành. Hãy thực hành để làm lợi bản thân bạn và những người khác.
    Như các bạn đã biết, một số bạn thực sự có một vấn đề. Đó là gì? Thầy bạn cho bạn một số lần trì tụng nào đó phải hoàn tất, một trăm, một ngàn, hoặc bất cứ số lượng nào trong một số ngày, vào một thời điểm như thế v.v..Chắc chắn, nếu bạn có thể làm được thì rất tốt. Nếu không thể, thì có nghĩa bạn phải từ bỏ? Không. Bạn không cần từ bỏ, không cần phải bối rối, không cần phải căng thẳng. Bạn có thể mềm dẻo. Đức Phật và Guru Rinpoche đã ban tặng các giáo lý và thực hành cho mỗi chúng sinh một cách chính xác phù hợp với phẩm tính, trí tuệ, và khả năng của riêng họ, dù cao, trung bình hay thấp. Các Ngài luôn dạy dỗ cho dù chúng sinh ở mức độ nào. Do đó, bạn phải suy nghĩ theo cách này. Nếu bạn có thể thực hành vào buổi sáng, điều đó tốt, vậy hãy làm những gì bạn có thể. Nếu bạn không có cơ hội vào buổi sáng thì bạn có thể có cơ hội vào buổi chiều tối hay ngày mai. Ví dụ, có thể hôm nay bạn không niệm đủ túc số thần chú mà bạn đã cam kết thực hiện, thì ngày mai bạn có thể làm gấp đôi để bù cho ngày hôm nay.
    Điều quan trọng nhất là không nên căng thẳng hoặc khó chịu với chính mình, và rồi khó chịu cả với gia đình và bạn bè, tạo nên một sai sót to lớn trong thực hành của bạn. Hãy buông xả. Hãy tự động viên mình. Nghĩ tưởng rằng: Hôm nay tôi không làm được, nhưng ngày mai nhất định tôi muốn làm điều đó. Và sau đó hãy thực hành. Hôm nay tôi không dùng điểm tâm nhiều, vì thế chắc chắn là trưa nay tôi có mộ bữa trưa thịnh soạn. Ở Mỹ, bạn có phong tục không ăn nhiều vào buổi sáng ngày lễ Tạ Ơn, thậm chí có thể không ăn trưa, vì bạn để dành tất cả những bữa ắn tối – và sau đó bạn ăn nhiều làm sao. Hãy nghĩ về điều đó. Nhưng nếu bạn nhập thất và có một thời khoá biểu thì bạn phải tuân theo nó. Và nếu bị bệnh trong cuộc nhập thất, bạn không nên từ bỏ. Bạn thực hành trở lại khi đã khoẻ.
    Vả lại, hơn cả việc quán tưởng hay mấp máy cái miệng để trì tụng mà không biết bạn đang tụng cái gì, hoặc cố giữ thân ngồi thật thẳng như một tảng đá trong khi tâm bạn
    lại chạy tứ táng một trăm dặm một giờ, điều tối quan trọng là thực hành chậm rãi và bình thản. Dĩ nhiên, có thể trì tụng các thần chú, thực hành quán tưởng và thiền định thì rất tốt, nhưng điều thực sự quan trọng hơn là có những tư tưởng tốt lành và tử tế đối với người khác. Thật vậy, đây là thực hành của Đạo Phật. Vì thế hãy hoàn tất điều đó trước tiên. Sau đó bạn có thể nghĩ tưởng về mọi thực hành khác. Nếu bạn không có tư tưởng tốt lành đối với người khác, thì như thế bạn đánh mất toàn bộ quan điểm. Ngay bây giờ nhiều ngươờ trên khắp thế giới quan tâm tới hoà bình thế giới, họ hướng ra ngoài và nói: Chúng ta phải có hoà bình ở đây, ở kia, và ở tất cả những nơi chốn khác. Trước hết, chúng ta phải có sự an tĩnh trong bản thân mình. Nếu ta có sự an tĩnh trong tâm, điều đó sẽ ảnh hưởng tới những người khác và họ cũng trở nên an bình hơn. Lần lượt tất cả chúng ta trở nên an tĩnh, và đó là cách làm cho toàn thể thế giới trở nên an bình.
    Thực hành Chimed Sog Thig này thật sự là một loại thực hành hàng ngày. Đây chính là việc nó được tận dụng ra sao, bởi bạn đang nhìn vào bản thân cuộc sống, và đời sống hoàn toàn chỉ là việc bạn sống cuộc đời mình ra sao, bạn đối xử với nó như thế nào, hiểu rõ nó quý báu ra sao. Quan điểm này đem chúng ta trở lại những sự chuẩn bị, ngondro. Phần lớn các bạn ở đây đang thực hiện vài loại thực hành chuẩn bị. Nhiều người trong các bạn đã hoàn tất ít nhất một tích tập những thực hành chuẩn bị và vẫn đang tiếp tục làm điều đó. Vì thế, điều trọng yếu là suy nghĩ xem những thực hành đó là gì và suy nghĩ về việc áp dụng chúng trong đời sống hàng ngày. Chúng không tách rời với đời sống hàng ngày của bạn. Nhờ thực hành theo cách này bạn sẽ gia tăng tuổi thọ trung bình, bạn sẽ tăng trưởng công đức và cuối cùng bạn sẽ chứng ngộ sự giải thoát khỏi luân hồi sinh tử, bởi nó hoàn toàn sẵn có ở đó.
    Trái lại, nếu bạn cứ giữ một thái độ tự-quy trong kinh nghiệm sống hành ngày của bạn, thì bạn không phải là một Phật tử. Một Phật tử không chịu liên tục làm mồi cho năm cảm xúc phiền não, đặc biệt là khi họ biết được điều tốt hơn. Một Phật tử chân chính có bổn phận làm suy giảm năm cảm xúc phiền não và phát triển từ, bi, hy, và xả như thực hành chính trong đời họ. Họ cũng nên phát triển lòng tin và khả năng hoà thuận với bất kỳ người nào họ có thể hoà hợp. Họ nên mang lại niềm vui và hạnh phúc cho người khác hơn là những tiêu cực. Vì thế, nếu bạn nhận ra rằng mình như một con rắn độc, và nhận ra rằng đây chính là cách người ta phản ứng với bạn, thì trong trường hợp đó bạn không ở trên con đường của Phật Giáo. Điều đó có nghĩa là vào lúc chết bạn sẽ chẳng có thực hành Phật Giáo nào để nương tựa. Một điều mà giờ đây tất cả chúng ta cần phải làm là chuẩn bị cho cái chết. Trong trường hợp tốt nhất, chung ta phải sẵn sàng đến nỗi khi cái chết đến, mà chắc chắn là nó sẽ đến – và thời gian thì không thể xác định được – chúng ta sẽ cảm thấy hạnh phúc để chết và sẽ hoàn toàn bình an đối với chính mình bởi chúng ta đã hoàn tất tốt thực hành hàng ngày của mình. Tối thiểu là chúng ta không sợ hãi vào lúc đó. Nếu bạn có thể kinh nghiệm điều này vào lúc chết, thì bạn có thể xác quyết được rằng đời bạn là một cuộc đời hữu ích và tràn đầy ý nghĩa. Điều tối quan trọng mà bạn cần làm là hãy bắt đầu suy nghĩ và chuẩn bị cho sự chuyển di này.
    Hiểu rõ sức mạnh của ác hạnh, là những sự tích tập nghiệp bất thiện, là một điều quan trọng. Trên con đường tâm linh, nếu bạn quên xây dựng một nền tảng vững chắc là cái về sau bạn sẽ đem vào đời sống hàng ngày, màa bạn lại tiếp tục nỗ lực tìm kiếm những giáo lý mật truyền cao cấp, thì điều này giống như một ngôi nhà trăm tầng chứa đầy kim cương, vàng và những báu vật khác nhưng lại xây dựng trên nền móng bằng băng tuyết. Vào một ngày nóng bức, băng tan chảy, ngôi nhà sụp đổ, và bạn sẽ mất tất cả. Nếu bạn không xoay chuyển tâm thoát khỏi sự bám luyến vào luân hồi, và không phát
    khởi lòng bi mẫn đối với chúng sinh, thậm chí một chút cũng không có, thì một ngày kia, và điều này là chắc chắn, một trong những cảm xúc phiền não đó, bất kỳ cảm xúc nào mạnh nhất trong bạn, sẽ xuất hiện bởi vì nó luôn ở đó. Sự tham dục, sân hận, hay ghen tị, kiêu ngạo, bất kỳ nó là cảm xúc nào, đang sắp sửa xuất hiện, và mọi sự tu tập của bạn sẽ đội nón ra đi, chấm dứt tất cả. Cũng giống như chỉ cần ném một que diêm duy nhất vào đồng cỏ khô giữa mùa hè, mọi thứ sẽ bùng cháy tức thì. Trừ phi bạn có một nền tảng vững chắc và một sự từ bỏ thực sự, việc luôn cố gắng thâu thập nhiều giáo lý và những kỹ thuật phi thường sẽ không đem lại lợi ích. Cuối cùng thì bạn cũng sẽ hoàn toàn thất bại.
    Bạn đồng ý không? Vì thế điều này có nghĩa là bạn hãy cố gắng thực hành. Dù bạn là ai, điều đó không có gì là quan trọng. Ta là ai, bất kỳ ai trong chúng ta? Ví dụ như tôi đi theo nhiều vị Lạt ma cao cấp, còn nhiều hơn cả các bạn, và tôi đã nhận được rất nhiều giáo lý - vậy thì sao? Các Lạt ma chẳng thể làm được điều gì cho chúng ta. Chúng ta phải thực hành. Chúng ta phải đứng lên. Chúng ta phải ăn. Chúng ta phải tiêu hoá. Chúng ta phải nghe lời bác sĩ. Chúng ta phải uống thuốc. Nhưng chúng ta không làm như thế; thay vào đó chúng ta nói rằng: “Ồ, tôi có giáo pháp đặc biệt này, giáo pháp đặc biệt nọ, vị Lạt ma này, vị Lạt ma kia”. Chắc chắn điều đó nói lên được tình cảnh của tôi. Tôi có Đức Dudjom Rinpoche, Đức Karmapa, Đức Đạt Lai Lạt Ma, hai vị Giáo thọ của Ngài. Tôi cũng có rất nhiều vị Lạt ma cao cấp, nhưn đó không phải là vấn đề. Thậm chí Đức Phật Thích Ca Mâu Ni có đến đây, hay hàng ngàn đệ tử Bồ Tát của Ngài, vậy thì đã sao? Làm cách nào điều đó đem lại được lợi ích cho chúng ta? Ở Tây Tạng, Guru Rinpoche đã đến và sau Ngài đã xuất hiện nhiều bậc chứng ngộ, như một ngàn Hoá Thân Phật, và điều đó đã làm được gì cho người Tây Tạng? Ai đã thực hành? Ai đã khắc sâu giáo lý vào tận đáy lòng? Chắc chắn là những người Tây Tạng đã có được những điều đó nhưng họ có được cái gì? Không có gì cả.
    Bạn cũng có rất nhiều vị Lạt ma cao cấp, Hoá Thân này hay Hoá Thân khác, và bạn nghĩ rằng: “Chà! Đó là Hoá Thân nào đấy”, rồi bạn đi theo người này và người kia. Có rất nhiều Hoá Thân; các vị đến rồi đi. Nhưng bạn quá sức ngoan cố, quá sức ngu ngốc, chỉ chơi đùa với chính mình. Bạn nghĩ rằng mình khôn ngoan. “Tôi sắp theo đuổi điều này. Tôi sắp theo đuổi điều kia.” Bằng cách này thì bạn chẳng có được gì cả. Khi chết thì bạn sẽ chết như một con chó hoặc một con heo.
    Khi các Lạt ma đi rồi bạn bảo rằng bạn nhớ các ngài. Các ngài ban cho bạn một viên ngọc quý báu, khả năng giải thoát vì lợi ích của người khác chỉ trong một đời, nhưng bạn không khắc ghi lời chỉ dạy của các ngài. Bạn không để tâm tới nó. Bạn hỏi bác sĩ phải uống thuốc gì, nhưng bạn không uống. Bạn gặp vô số Lạt ma cao cấp, và vội vàng đòi hỏi mọi thứ - quán đảnh, giáo lý cao tột và v..v.. Mọi thứ. Nhưng tất cả những gì bạn có chỉ là một trái tim rỗng không, một bộ não trống rỗng, và rất nhiều ghi chép. Chẳng có gì ngoài rác rưởi bên trong. Bạn vẫn tự coi mình là trung tâm một cách thái quá. Đó là vấn đề của bạn, không phải là vấn đề của các Lạt ma, và cũng không phải là vấn đề của Giáo Pháp. Bạn cần phải nhận ra vấn đề của riêng mình. Bạn không thể chĩa mũi dùi vào chính mình. Bạn sẽ giải quyết vấn đề này ra sao? Bạn sẽ tự kết liễu đời mình ư? Không. Hãy tỉnh thức. hãy đứng trên đôi chân của chính mình. Bạn không được sử dụng đôi chân của người khác. Bạn có đôi chân của riêng mình, bộ óc của riêng mình.
    Vậy hãy hồi quang phản chiếu. Hãy coi lại vấn đề của chính bạn. Hãy quay trở lại nơi bạn đã khởi hành. Ngồi xuống. Hãy quay nhìn vào trong. Hãy quán chiếu về những điều này. Luôn giữ thái độ của một người mới bắt đầu. Hãy khiêm tốn. Đừng giống tôi
    khi nghĩ rằng: “Ta thật vĩ đại, vị thầy chót vót trên ngai cao,” và như thế chỉ chồng chất thêm năm độc càng lúc càng nhiều hơn. Khi nghĩ rằng “tôi đúng” thì có nghĩa là “tôi sai”. Tôi nghĩ rằng tôi đúng. Tôi nghĩ rằng tôi đẹp trai, nhưng tôi không nhìn khuôn mặt của chính mình. Vậy bạn có nghĩ rằng tôi đẹp trai không?
    Dù sau đi nữa, bạn phải nỗ lực thực hiện những điều này. Bạn phớt lờ những điều đơn giản, và sau đó bạn bôi nhọ chúng. Vì thế hãy thực hành.
    II. YOGA CỦA ĐỨC PHẬT VÔ LƯỢNG THỌ
    Một Pháp môn đặc biệt để Gia tăng Thọ mạng, Trí tuệ và Công đức
    Dẫn nhập
    Đối với chúng ta, không gì quý giá hơn cuộc sống của chính ta. Bởi lẽ nhờ có một đời người quý báu mà chúng ta có cơ hội trải nghiệm cả hạnh phúc tạm thời lẫn hạnh phúc tối hậu. Chúng ta thường coi những tài sản vật chất như cái gì vô cùng quan trọng và hết sức nỗ lực để có được chúng, nhưng thật ra đời người của chúng ta mới chính là tài sản quý báu nhất.
    Tất cả chúng ta đều cần được sống lâu. Nếu mất cuộc đời này, chúng ta sẽ mất đi cơ hội thụ hưởng một đời người để thực hành Phật Pháp và để đạt được giải thoát và giác ngộ. Đó là lý do tại sao Ngài Je Tsongkhapa đã nói rằng đối với những ai mong muốn kinh nghiệm hạnh phúc thuần tịnh thì chính cái chết và sự vô minh là trở ngại to lớn nhất cho việc hoàn thành các ước nguyện của họ. Cái chết phá huỷ cơ hội nắm giữ được điều cốt lõi của cuộc sống quý giá này của chúng ta, và sự vô minh huỷ hoại cơ hội khiến ta có thể phát triển một kinh nghiệm thuần tịnh về Pháp.
    Để vượt qua các chướng ngại này chúng ta cần tăng trưởng thọ mạng và trí tuệ của mình, và Pháp môn chính yếu để thực hiện điều này là Pháp môn yoga của Đức Phật Vô Lượng Thọ (Amitayus).
    Nhằm đem lại cho mọi người cơ hội được thực hành pháp môn yoga của Đức Phật Vô Lượng Thọ, tôi đã chuẩn bị nghi quỹ (sadhana)này. Cầu mong công đức của tác phẩm này là một tác nhân để tất cả chúng sinh tìm được sự an bình và hạnh phúc thuần tịnh.
    Geshe Kelsang Gyatso Rinpoche
    Yoga của Đức Phật Vô Lượng Thọ
    Quy y và phát Bồ Đề Tâm
    Cho đến khi đạt được giác ngộ
    Con quy y Đạo Sư, Phật, Pháp, và Tăng.
    Để thành tựu hạnh phúc cho tất cả những bậc cha mẹ chúng sinh
    Con nguyện phát triển tâm giác ngộ siêu việt
    (ba lần)
    Phát triển Bồ Đề tâm đặc biệt
    Đặc biệt để nhanh chóng giải thoát những người lang thang lầm lạc,
    Con nguyện đạt được Phật Quả trong đời này;
    Vì thế con nguyện nỗ lực thực hành yoga thâm sâu
    Về thiền định và trì tụng về Đạo Sư Thủ hộ Vô Lượng Thọ Phật
    (ba lần)
    Tự-phát sinh và sự phát sinh trước
    Mọi hiện tượng của sinh tử luân hồi và Niết bàn chẳng hạn như bản thân con và những thực thể trường-thọ trở thành tánh Không, không có sự hiện hữu nội tại. Từ trạng thái của tánh Không xuất hiện một ngai khổng tước (ngai chim công), trên đó là một hoa sen ngàn cánh và một mạn đà la mặt trăng. Giữa mạn đà la là một chữ HRIH màu đỏ, từ đó ánh sáng rực rỡ phóng chiếu ra và thực hiện hai mục đích. Khi thâu rút trở lại, ánh sáng hoà tan vào chữ HRIH, chữ này hoàn toàn biến hiện thành bản thân con và Đức Thủ hộ Vô Lượng Thọ trong không gian phía trước. Mỗi người chúng con đều có thân màu đỏ như một ngọn núi san hô, khuôn mặt mỉm cười an bình, và hai tay kết Định Ấn. Chúng con cầm những tịnh bình báu tràn đầy chất cam lồ bất tử, miệng bình trang hoàng một cây như ý, từ đó xuất hiện tất cả những gì người ta mong ước. Chúng con trang sức bằng những búi tóc nạm ngọc trên đỉnh đầu, và nhiều báu vật như những bông tai, những vật trang sức ở cổ, xuyến, vòng cổ chân, chuỗi ngọc và kiềng dài tuyệt hảo. Những Báo Thân của chúng con trang hoàng bằng những dấu hiệu, biểu tượng và trang phục đẹp đẽ, xuất hiện ra nhưng không có sự hiện hữu thực sự. Chúng con ngồi theo tư thế kiết già giữa một vùng ánh sáng rực rỡ.
    Đứng trên một hoa sen và mặt trăng ở luân xa trên đỉnh đầu con là Đạo Sư Bảo Hộ Vô Lượng Thọ, thân Ngài màu đỏ, một mặt; hay tay, cầm một bình đầy chất cam lồ bất tử. Tóc Ngài buộc thành búi, từ đó bím tóc thả dài xuống gót chân. Được tô điểm với nhiều vật trang sức như một vương miện bằng ngọc và một kiềng ngọc dài tới chân, Ngài xuất hiện như một cầu vồng, rực rỡ với những dấu hiệu và biểu tượng tráng lệ huy hoàng.
    Cầu thỉnh và tan hoà trí hữu tình
    Con, Đức Phật Vô Lượng Thọ ở phía trước, và Đấng Thủ Hộ Vô Lượng Thọ trên đỉnh đầu con, có chữ OM màu trắng trên đỉnh đầu, chữ AH màu đỏ ở cổ họng, và nơi trái tim một chữ HUM màu xanh dương được chạm nổi bằng chữ HRIH màu đỏ. Từ đây ánh sáng chiếu ra và cầu thỉnh tập hội các Đạo Sư, chư Phật, và các vị Bồ Tát từ những chốn siêu phàm như cõi Cực Lạc quang lâm tới đỉnh đầu của những chúng sanh hứa nguyện (nguyện hữu tình).
    DZA HUM BAM HO
    Chúng con trở thành bất khả phân, có cùng một vị. (Ấn)
    Ban quán đảnh và trang hoàng đỉnh đầu
    Một lần nữa, từ chữ HUM và HRIH tại trái tim của chúng con, ánh sáng chiếu ra cầu thỉnh Ngũ Bộ Phật quang lâm từ trụ xứ tự nhiên của các Ngài. Các Ngài ban những
    quán đảnh và thân con tràn đầy ân phước. Con kinh nghiệm đại lạc và mọi nhiễm ô đều được tịnh hoá. Nước cam lồ còn lại hoàn toàn biến thành Đạo Sư Vô Lượng Quang (Guru Amitabha) trang hoàng đỉnh đầu con.
    Đảnh lễ
    Đức Phật Vô Lượng Thọ, Bậc Dẫn dắt chính yếu của thế gian,
    Đấng tiêu diệt mọi cái chết non yểu,
    Nơi nương tựa cho những kẻ đau khổ và bơ vơ;
    Con xin đảnh lễ Đức Phật Vô Lượng Thọ.
    Con xin đảnh lễ Đạo sư gốc và những Đạo sư của dòng truyền thừa, suối nguồn của những thành tựu.
    Xin đảnh lệ Ngài Drubpai Gyalmo, Sangngak Dongpo, Dorje Dragpa, và Wangchuk Milarepa;
    Xin ban cho con sự thành tựu của cuộc đời bất tử.
    Ngoại cúng dường
    Trí tuệ cao quý của đại lạc vô nhiễm và tánh Không
    Xuất hiện trong khía cạnh của mọi thức uống cúng dường trong thế giới
    Con cúng dường Ngài, Ô Đấng Thế Tôn Vô Lượng Thọ;
    Cầu xin Ngài thâu nhận và ban cho con và tất cả chúng sanh khắp hư không
    Những thành tựu của cuộc đời và trí tuệ cao quý của đại lạc và tánh Không.
    OM APARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA AHRGHAM PRATITZA YE SOHA
    Trí tuệ cao quý của đại lạc vô nhiễm và tánh Không
    Xuất hiện trong khía cạnh của mọi nước tắm cúng dường trong thế giới
    Con cúng dường Ngài, Ô Đấng Thế Tôn Vô Lượng Thọ;
    Cầu xin Ngài thâu nhận và ban cho con và tất cả chúng sanh khắp hư không
    Những thành tựu của cuộc đời và trí tuệ cao quý của đại lạc và tánh Không.
    OM APARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA PADAM PRATITZA YE SOHA
    Trí tuệ cao quý của đại lạc vô nhiễm và tánh Không
    Xuất hiện trong khía cạnh của mọi bông hoa cúng dường trong thế giới
    Con cúng dường Ngài, Ô Đấng Thế Tôn Vô Lượng Thọ;
    Cầu xin Ngài thâu nhận và ban cho con và tất cả chúng sanh khắp hư không
    Những thành tựu của cuộc đời và trí tuệ cao quý của đại lạc và tánh Không.
    OM APARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA PUPE PRATITZA YE SOHA
    Trí tuệ cao quý của đại lạc vô nhiễm và tánh Không
    Xuất hiện trong khía cạnh của mọi trầm hương cúng dường trong thế giới
    Con cúng dường Ngài, Ô Đấng Thế Tôn Vô Lượng Thọ;
    Cầu xin Ngài thâu nhận và ban cho con và tất cả chúng sanh khắp hư không
    Những thành tựu của cuộc đời và trí tuệ cao quý của đại lạc và tánh Không.
    OM APARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA DHUPE PRATITZA YE SOHA
    Trí tuệ cao quý của đại lạc vô nhiễm và tánh Không
    Xuất hiện trong khía cạnh của mọi ánh sáng cúng dường trong thế giới
    Con cúng dường Ngài, Ô Đấng Thế Tôn Vô Lượng Thọ;
    Cầu xin Ngài thâu nhận và ban cho con và tất cả chúng sanh khắp hư không
    Những thành tựu của cuộc đời và trí tuệ cao quý của đại lạc và tánh Không.
    OM APARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA ALOKE PRATITZA YE SOHA
    Trí tuệ cao quý của đại lạc vô nhiễm và tánh Không
    Xuất hiện trong khía cạnh của mọi nước hoa cúng dường trong thế giới
    Con cúng dường Ngài, Ô Đấng Thế Tôn Vô Lượng Thọ;
    Cầu xin Ngài thâu nhận và ban cho con và tất cả chúng sanh khắp hư không
    Những thành tựu của cuộc đời và trí tuệ cao quý của đại lạc và tánh Không.
    OM APARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA GANDHE PRATITZA YE SOHA
    Trí tuệ cao quý của đại lạc vô nhiễm và tánh Không
    Xuất hiện trong khía cạnh của mọi thực phẩm cúng dường trong thế giới
    Con cúng dường Ngài, Ô Đấng Thế Tôn Vô Lượng Thọ;
    Cầu xin Ngài thâu nhận và ban cho con và tất cả chúng sanh khắp hư không
    Những thành tựu của cuộc đời và trí tuệ cao quý của đại lạc và tánh Không.
    OM APARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA NEVIDE PRATITZA YE SOHA
    Trí tuệ cao quý của đại lạc vô nhiễm và tánh Không
    Xuất hiện trong khía cạnh của mọi âm nhạc cúng dường trong thế giới
    Con cúng dường Ngài, Ô Đấng Thế Tôn Vô Lượng Thọ;
    Cầu xin Ngài thâu nhận và ban cho con và tất cả chúng sanh khắp hư không
    Những thành tựu của cuộc đời và trí tuệ cao quý của đại lạc và tánh Không.
    OM APARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA SHAPTA PRATITZA YE SOHA
    Cúng dường những chất liệu chuyển hoá tâm thức và năm chi còn lại
    Con dâng một tập hội cúng dường làm hài lòng, cả về vật chất lẫn quán tưởng.
    Con sám hối mọi tiêu cực, sa sút, và tuỳ hỷ mọi công đức.
    Cầu xin Ngài trụ thế mãi mãi để chuyển Pháp Luân đại thừa cho chúng sinh trong luân hồi.
    Con hồi hướng những cội công đức của con cho sự toàn giác.
    Tán thán
    Ô Đấng Thủ Hộ Vô Lượng Thọ, xuất hiện từ chữ HRIH,
    Trên một đế mặt trăng trên một hoa sen ngàn cánh,
    Thân màu đỏ son như mặt trời lúc rạng đông
    Được che phủ bởi một tấm màn vàng-đỏ dễ chịu.
    Con đảnh lễ Ngài, thân Ngài hoàn toàn tuyệt hảo
    Bởi những trang phục khác nhau về nhiều vật trang sức quý báu,
    Giống như một ngọn núi hồng ngọc
    Được hoàn toàn bao phủ bởi ánh sáng mặt trời.
    Con đảnh lễ Ngài, Bậc ban tặng thành tựu của cuộc đời
    Từ một tịnh bình tràn đầy cam lồ bất tử
    Mà Ngài cầm trong lòng bàn tay,
    Mềm mại như những nhánh cây non.
    Con đảnh lễ Ngài, bậc chói ngời với những dấu hiệu và biểu tượng huy hoàng,
    Đảnh đầu Ngài trang điểm một búi tóc, đen lánh như hạt huyền,
    Từ đó rũ xuống một bím tóc dài
    Và Ngài mặc một hạ y bằng những loại lụa mềm rực rỡ khác nhau.
    Con đảnh lễ Ngài, bậc ban mọi điều tốt lành,
    Hai tay con chắp lại với niềm tinh mạnh mẽ
    Con hết lòng tán thán những phẩm tánh tuyệt diệu của Ngài
    Với giọng dịu dàng làm chuyển hoá tâm chúng sinh.
    Con đảnh lễ Ngài, bậc là suối nguồn nương tựa trường cửu,
    Thanh kiếm trí tuệ của Ngài chặt đứt mạng lưới vô minh,
    Lòng bi mẫn của Ngài đối với tất cả chúng sanh không ngơi nghỉ,
    Và là bậc mang vác không mệt mỏi gánh nặng giải thoát tất cả chúng sinh.
    Con đảnh lễ Ngài khắp mọi thời.
    Chỉ nhờ niệm danh hiệu Ngài, cái chết non yểu bị huỷ diệt;
    Nhờ hằng nhớ Ngài trong tâm tưởng, chúng con được che chở thoát khỏi nỗi sợ hãi sinh tử luân hồi và sự an tịnh cô quạnh;
    Và nhờ nương tựa vào Ngài như một nơi trú ần, chúng con được hưởng hạnh phúc lâu dài.
    Với lòng sùng kính con nương tựa vào Ngài, bậc thoát khỏi những lỗi lầm.
    Một cách tương đối, cầu xin mọi hiểm hoạ không mong muốn được an định trong đời này,
    Và một cách tuyệt đối, cầu mong con hoá sinh tự nhiên từ một hoa sen trong đời sau
    Trong cõi Cực Lạc và làm những gì khiến Ngài vui lòng.
    Tụng niệm mantra cho mục đích riêng của hành giả
    Cầu khẩn theo cách này, Đạo Sư Vô Lượng Thọ trên đỉnh đầu con được hoan hỷ. Tan hoà vào con, Ngài và con trở nên bất khả phân
    Trên một mặt trang trong trái tim con là chữ HRIH được bao quanh bởi những chuỗi thần chú. Ánh sáng chiếu ra từ chủng tự và những chuỗi thần chú và thâu rút lại năng lực của năm yếu tố; những sự ban phước thuộc thân, khẩu, ý, những phẩm tánh tốt, những hành động của các bậc Đạo Sư, Bổn Tôn, Tam Bảo, v..v..năng lực và tiềm năng của các thần chú, của cuộc đời và công đức của từng sinh linh trong sáu cõi - tất cả đều nằm trong phạm vi của cam lồ bất tử và ánh sáng. Những thứ này đi qua đỉnh đầu và tràn ngập thân con. Mọi điều bất thiện, ngăn che, và chướng ngại cho đời sống đều hoàn toàn được an định, và con đạt được thân kim cương bất tử siêu phàm.
    Tụng niệm thần chú vì mục đích của người khác
    Một lần nữa, ánh sáng chiếu ra từ chữ HRIH nơi ngực Đức Vô Lượng Thọ ở không gian phía trức và rút lại năng lực của năm yếu tố; những sự ban phước thuộc thân, khẩu, ý, những phẩm tánh tốt, những hành động của các bậc Đạo Sư, Bổn Tôn, Tam Bảo v..v..năng lực và tiềm năng của các thần chú, của cuộc đời và công đức của từng chúng sanh trong sáu cõi - tất cả đều nằm trong phạm vi của chất cam lồ bất tử và ánh sáng. những thứ này tan hoà vào chữ HRIH đỏ và những chuỗi thần chú, từ đó một dòng cam lồ đi xuống đỉnh đầu con và chúng sinh cần được cứu giúp. Thân chúng con tràn đầy cam lồ, mọi chướng ngại cho đời sống được an định và tất cả chúng con đạt được cuộc đời bất tử.
    OM NAMO BHAGAVATE APARIMITA AYUS JNAN SUMBINI TSITA
    TEDZO RANDZAYA TATHAGATAYA, ARHATE SAMYAK
    SAMBUDDHAYA, TADYATHA, OM PUNAYE PUNAYE MAHA PUNAY
    APARIMITA PUNAYE APARIMITA PUNAYE JNANA SAMBHA ROPATSITE, OM SARVA SAMKARA PARISHUDA DHARMATE GAGANA SAMUGATE, SOBHAVA VISHUDDHE MAHA NAYA PARIVARE SOHA
    (7 lần, 21 lần, v..v..)
    OM AMARANI JIVANTIYE SOHA (100 lần, 1.000 lần, v..v..)
    Ban phước cam lồ sinh lực
    OM VAJRA AMRITA KUNDALI HANA HANA HUM PHAT
    OM SVABHAVA SHUDDHA SARVA DHARMA SVABHAVA SHUDDHO HAM
    Mọi sự trở thành hư không (tánh Không).
    Từ trạng thái hư không, từ YAM trở thành gió, RAM trở thành lửa, từ AH thành
    một vỉ lòng bằng ba đầu người. Trên đó, từ AH xuất hiện một chén sọ người rộng lớn mênh mông, bên trong chứa năm loại thịt và năm chất cam lồ. Những thứ này được tẩy tịnh, chuyển hoá, và tăng trưởng nhờ ba chủng tự và trở thành một đại dương cam lồ-sinh lực vô nhiễm của trí tuệ cao quý.
    OM AH HUM (21 lần, 100 lần, 1.000 lần, v..v..)
    Ban phước torma
    OM VAJRA AMRITA KUNDALI HANA HANA HUM PHAT
    OM SVABHAVA SHUDDHA SARVA DHARMA SVABHAVA SHUDDHO HAM
    Mọi sự trở thành hư không (tánh Không).
    Từ trạng thái hư không, từ YAM trở thành gió, RAM trở thành lửa, từ AH thành
    một vỉ lòng bằng ba đầu người. Trên đó, từ AH xuất hiện một chén sọ người rộng lớn mênh mông, bên trong chứa năm loại thịt và năm chất cam lồ. Những thứ này được tẩy tịnh, chuyển hoá, và tăng trưởng nhờ ba chủng tự và trở thành một đại dương cam lồ-sinh lực vô nhiễm của trí tuệ cao quý.
    OM AH HUM (3 lần)
    Cúng dường torma
    Đạo Sư Vô Lượng Thọ dùng chất torma bằng cách rút nó qua lưỡi là một ống ánh sáng kim cương (vajra).
    OM APARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA IDAM BALINGTA KHA KHA KHAHI KHAHI (3 lần hoặc 7 lần)
    Ngoại cúng dường
    OM PARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA AHRGHAM PRATITZA SVAHA
    OM PARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA PADAM PRATITZA SVAHA
    OM PARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA PUPE PRATITZA SVAHA
    OM PARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA DHUPE PRATITZA SVAHA
    OM PARIMITA AYUS JNANA SAPARIVARA ALOKE PRATITZA SVAHA
    Khẩn cầu sự độ lượng
    OM VAJRA SATTVA SAMAYA MANU PALAYA, VAJRA SATTO TVENO PATISHTA, DRIDHO ME BHAVA, SUTO KAYO ME BHAVA, SUPO KAYO ME BHAVA, ANURAKTO ME BHAVA, SARVA SIDDHI ME PRAYATZA, SARVA KARMA SUTZA ME, TZITAM SHRIYAM KURU HUM, HA HA HA HA HO BHAGAVAN, SARVA TATHAGATA, VAJRA MA ME MUNTSA, VAJRI BHAVA, MAHA SAMAYA SATTO AH (HUM PHAT)
    Phát tán
    Nếu bạn có bày những viên thuốc-sinh lực ở trước mặt, hãy niệm:
    Như thế trí hữu tình được mời thỉnh ở phía trước tan hoà vào con, và nguyện hữu tình tan thành ánh sáng và nhận những viên thuốc-sinh lực.
    Nếu bạn không bàn những viên thuốc-sinh lực ở trước mặt, hãy niệm:
    Như thế, Đạo Sư Vô Lượng Thọ ở phía trước được hoan hỷ. Ngài phát tán vào con và con đạt được trạng thái bất tử.
    Bài nguyện cát tường
    Ngài, bậc trở thành một vị Phật Siêu việt Toàn thiện nhờ năng lực của sáu ba la mật
    Ô, Sư Tử Vương của nhân loại, khi đã chứng ngộ năng lực của chúng
    Cầu xin Ngài giảng dạy sáu ba la mật
    Vì lòng bi mẫn, bất cứ khi nào Ngài xuất hiện trong thế gian này,
    Cầu xin mọi sự được cát tường để hoàn thành sáu ba la mật và tăng trưởng thọ mạng,
    Và cầu xin ngay bây giờ con được hưởng hạnh phúc và điều tốt lành.
    Lời cuối sách:
    Nghi quỹ này do Thượng toạ Geshe Kelsang Gyatso Rinpoche soạn thảo và được phiên dịch dưới sự hướng dẫn từ bi của Ngài.
    III. PHƯƠNG PHÁP LÀM LỢI ÍCH CHÚNG SINH VÀO LÚC CHẾT, CỨU VỚT NGƯỜI BẤT HẠNH
    Trung tâm Kusali Dharma Vajra
    Dịch từ tiếng Tây Tạng: Lạt ma Thubten Zopa Rinpoche
    Lời nói đầu
    Con đảnh lễ Đạo sư và Đức hayagriva, là những bậc bất khả phân mà năng lực của lòng bi mẫn của các Ngài giải thoát mọi chúng sanh trong luân hồi khỏi những cõi giới khốn cùng. Con xin soạn ra những lời khuyên hầu đem lại lợi ích cho chúng sinh vào lúc chết.
    Phương pháp này có tên là “Làm lợi ích cho Chúng sanh vào Lúc Chết”, được thực hành bởi các hành gỉ của Đức Thế Tôn Shri Hayagriva, là bậc mà những việc làm lợi ích cho người khác của Ngài hoàn toàn được thúc đẩy bởi lòng từ và bi. Nó gồm có hai phần:
    - Chánh Hành Pháp
    - Những lợi ích của Pháp Hành.
    CHÁNH PHÁP HÀNH
    Các Đạo Sư Thiêng Liêng nói:
    “Ngay cả đối với một người đã theo đuổi thực hành đức hạnh suốt cuộc đời, nếu vào lúc chết, tâm thức người ấy chuyển di trong khi các niệm tưởng bất thiện mạnh mẽ như giận dữ và tham luyến đang phát khởi, thì người ấy sẽ tái sinh trong một cõi xấu.
    “Tuy nhiên, nếu một người đã làm việc xấu trong suốt cuộc đời lại phát khởi những tư tưởng đạo đức, thanh tịnh trong khi tâm thức của họ chuyển di vào lúc chết, thì người ấy sẽ tái sinh trong một cõi giới tốt lành.”
    “Bởi tâm thức ngay trước khi chết cực kỳ mãnh liệt, nó gia tăng một cách mạnh mẽ khuynh hướng của nghiệp đặc biệt đã được tao ra từ trước để làm chín mùi trước tiên, dẫn đến việc tái sinh trong một cõi tương ứng. Tuy nhiên, nghiệp thiện và bất thiện khác từng được tích luỹ trong đời người ấy sẽ kết thành quả vào thời điểm thích hợp, tức là khi đã hội đủ mọi điều kiện cần thiết. Chưa từng xảy ra việc không tạo nghiệp mà lại phải kinh nghiệm nó hay nghiệp đã tạo có thể bị tiêu huỷ đi.”
    Cốt lõi của mọi phương pháp làm lợi ích chúng sinh vào lúc chết là sự phát triển các niệm tưởng đức hạnh thanh tịnh như lòng sùng mộ, không để cho các tư tưởng bất thiện như sự giận dữ phát khởi mạnh mẽ.
    Mặc dù tốt nhất là nên tự mình thực hành phương pháp này, tuy nhiên những nguời bình thường không thể làm được điều đó cũng sẽ được lợi lạc nếu như phương pháp này được các vị thầy đức hạnh hoặc các thiện tri thức thực hiện giúp họ.
    Ta có thể giúp đỡ ra sao.
    Đối với người sắp chết (cận tử), điều tối quan trọng là tránh cho họ nhìn thấy những đối tượng làm cho sự bám luyến hoặc tức giận phát sinh mạnh mẽ. Các đối tượng này bao gồm những sự việc như tài sản vật chất, thân quyến, những người mà với họ người sắp chết có một sự bám víu mạnh mẽ, cũng như những kẻ thù v..v..những người mà họ ghét.
    Ngoài ra, trong lúc một người đang hấp hối cũng như ngay sau đó, điều quan trọng là phải tự chế không nói hay làm bất cứ điều gì có thể làm nhiễu loạn sự quân bình của họ. Do vậy trong tầm nghe của người sắp mất, ta không nên nói về những điều như tài sản họ để lại, và chúng sắp được phân chia ra sao, cũng đừng nên tạo ra những âm thanh gây phiền nhiễu, như tiếng la hét, than vãn hay nói lớn tiếng.
    Như đã được giảng trong giáo lý, yếu tố gió di chuyển những mê tín bất thiện chay trong kinh mạch bên phải. Do đó, hãy đặt người hấp hối nằm nghiêng về bên phải và bịt lỗ mũi phải của họ bằng vải hoặc những gì tương tự. Sau đó, nếu có thể, hãy đặt trước mắt họ các vật thiêng liêng tượng trưng cho những Đấng tôn quý siêu phàm cùng những vật cúng dường - những hình ảnh Guru của họ, các Bổn Tôn (yidam) ràng buộc-tâm linh mà họ sùng kính, cõi tịnh độ của Đấng Chiến Thắng A Di Đà, v..v.. Hãy loại bỏ bất kỳ động cơ nền tảng nào có thể hiện diện trong tâm họ như sự tìm kiếm thanh danh, các sự cúng dường vật chất hay tôn kính đối với bản thân họ. Thay vào đó, hãy phát khởi lòng từ và bi mạnh mẽ đối với người xấu số đang tiến gần đến cái chết này.
    Với lòng sùng kính và niềm tin vững chắc vào những phẩm tính của vị Guru, các Đấng tôn quý siêu phàm, các thánh hiệu của chư Phật và những thần chú linh thánh và sâu xa, hãy niệm lớn, rõ ràng, chậm rãi và không nhầm lẫn như sau:
    (Trong khi niệm bài này, hãy quán tưởng các đối tượng quy y quang lâm và an trụ trong không gian phía trước như những đám mây)
    “Không chút phóng tâm, hãy quán tưởng trên đỉnh đầu bạn là vị Guru gốc và các Bổn Tôn-ràng buộc tâm linh mà bạn sùng kính. Chung quanh tập trung hội chính này bạn cũng có thể quán tưởng những Guru và chư Phật khác.
    Bạn nên theo lời tôi chỉ dẫn, hãy cầu nguyện mãnh liệt tận đáy lòng bạn và nghĩ:
    “Ngài, Bậc Đạo Sư và những Đấng siêu phàm tôn quý, xin cứu vớt con khỏi những sợ hãi của đời này, đời sau và trang thái trung ấm, và xin dẫn dắt con đến cõi cực lạc thanh tịnh tối thượng.
    Cho tới khi con giác ngộ, con xin quy y Phật, Pháp, Tăng. Nhờ đức hạnh của việc bố thí và những toàn thiện (ba la mật) khác, cầu mong con nhanh chóng đạt đến giác ngộ vì lợi ích của tất cả những bà mẹ chúng sinh tốt lành.
    Tập hội những Guru gốc, Guru của dòng truyền thừa, các Bổn Tôn ràng buộc-tâm linh, những Đấng tôn quý siêu phàm, các Thanh Văn, Daka và Dakini, và các Hộ Pháp trong ba thời – các Ngài là những bậc sáng tạo của mọi điều toàn thiện, hạnh phúc và tốt lành, cầu mong các Ngài quang lâm và an trụ tại đây với lòng bi mẫn.”
    Sau đó, nếu ta muốn và có thời gian, hãy dâng cúng bài nguyện bảy nhánh chi tiết.
    Bài nguyện bảy nhánh chi tiết
    Bằng thân, khẩu, ý, con đảnh lễ tất cả các Đấng trong quá khứ, hiện tại, và vị lai du hành trên con đường dẫn tới sự toàn thiện, những Sư Tử Vương của nhân loại, cho dù các Ngài đông đảo tới đâu trong tất cả các cõi của vũ trụ, con xin đảnh lễ mỗi một và tất cả các Ngài.
    Nhờ nguyện lực của Đức Samantabhadra (Phổ Hiền), tất cả các Đấng Chiến Thắng xuất hiện trong phạm vi tri giác của con và con đảnh lễ tất cả các Ngài bằng thân thể con nhiều như vô số vi trần trong các cõi PHật.
    Trên mỗi vi trần này, lại có chư Phật nhiều như vô số vi trần trong vũ trụ, mỗi vi an toạ giữa một tập hội rộng lớn gồm những Bồ Tát, trong cách này khi nhận ra rằng vạn pháp không có thực tại nội tại, con khao khát toàn thể thế giới tràn đầy chư Phật như thế.
    Con xin tán thán những phẩm tính siêu phàm muôn hình vạn trạng của mỗi Đấng Chiến Thắng bằng một đại dương những bài ca tán tụng Đấng tối thượng trong tất cả các Đức Như Lai. Nhưng giống như một đại dương bao la không đáy, con chưa từng khô cạn nguồn diễn bày những đức hạnh của các Ngài.
    Những bông hoa tươi thắm nhất, những chuỗi tràng quý báu nhất, những nhạc cụ, dầu lễ, và những tán lọng vương giả tuyệt diệu, những ngọn đèn tối hảo, và trầm hương quý giá, con xin cúng dường tất cả lên các Đấng Chiến Thắng.
    Bằng năng lực niềm tin vào các công hạnh của Đức Phổ Hiền, con xin cúng dường bất kỳ những vật hiện hữu vô tận và không gì sánh lên tất cả các Đấng Chiến Thắng. Con tôn kính và cúng dường những vật này lên từng Đấng Chiến Thắng.
    Dưới ảnh hưởng của tham, sân và si, con đã vi phạm những tội lỗi thuộc thân, khẩu, và ý. Giờ đây con xin sám hối mỗi một và tất cả những tội lỗi này mà con từng vi phạm.
    Con thành tâm hoan hỷ trước những đức hạnh của tất cả các Đấng Chiến Thắng khắp mười phương, những Trưởng tử của chư Phật (Bồ Tát), các vị Phật Độc Giác, những người trong cái giai đoạn tu học hay vô-học, và trước những thiện hạnh của chúng sinh.
    Đối với những vị là ánh sáng của thế gian, những bậc dần dần đạt đến giác ngộ mà không bám chấp vào Phật Quả, con khẩn cầu tất cả những vị Bảo hộ này chuyển Pháp luân vô song.
    Đối với những bậc đã đến lúc thị nhập Niết Bàn, con chắp tay khẩn cầu, vì lợi ích và hạnh phúc của tất cả chúng sinh, xin các Ngài trụ thế nhiều kiếp như những vi trần trong tất cả các cõi Phật.
    Khi kính lễ, cúng dường, sám hối tội lỗi, tuỳ hỷ công đức của người khác, khẩn nài và cầu nguyện, bất kỳ đức hạnh nhỏ bé nào con có được từ những thực hành này, con xin hồi hướng tất cả cho sự Giác ngộ tối thượng.
    Sau đó tụng:
    (Chú tâm khẩn cầu từ đáy lòng):
    “Con khẩn cầu những Đạo sư từ ái, các Ngài là hiện thân thực sự của Đức Phật, bậc sáng tạo tám mươi bốn ngàn Pháp môn cho trời và người, và là bậc kiệt xuất trong tất cả các Đấng Tôn quý.
    Cũng như đối với các ngài: Đức Chenrezig (Quán Tự Tại), kho tàng vĩ đại của lòng bi mẫn không mong cầu một hiện hữu thực có, và Đức Manjushri (Văn Thù), Đạo
    sư của trí tuệ không lỗi lầm, Ôi Đức Tzong-k’apa, viên ngọc trang sức đỉnh đầu của các bậc hiền nhân xứ Tuyết, dưới chân Ngài, Lozang Dr’agpa, con khẩn cầu:
    Xin dẫn dắt chúng sinh này, đối tượng đáng thương không người hướng dẫn của lòng bi mẫn này thoát khỏi nỗi sợ hãi của đời này, đời sau và trạng thái trung ấm.
    Hỡi Đấng Vinh quang của trí tuệ, Guhyasamaja, Heruka, Yamantaka, Kalachakra, Hevajra, Chakra Vĩ đại v..v.. và vô số những Bổn Tôn ràng buộc-tâm linh:
    Xin dẫn dắt chúng sinh này, đối tượng đáng thương không người hướng dẫn của lòng bi mẫn này thoát khỏi nỗi sợ hãi của đời này, đời sau và trạng thái trung ấm.
    Con khẩn cầu Đức Phật tôn quý, nhà sáng lập tối thượng, người dẫn đạo siêu việt, Giáo Pháp thiêng liêng và cao quý, những bậc dẫn đạo siêu việt, Tăng Đoàn quý báu, những đối tượng của sự quy y, ba Đấng tôn quý siêu phàm (Tam Bảo):
    Xin dẫn dắt chúng sinh này, đối tượng đáng thương không người hướng dẫn của lòng bi mẫn này thoát khỏi nỗi sợ hãi của đời này, đời sau và trạng thái trung ấm.
    Con khẩn cầu tám nam tử vĩ đại thân thiết nhất, Đức Manjushri (Văn Thù), Vajrapani (Kim Cương Thủ), Avalokiteshvara (Quán Tự Tại), Kshitigarbha (Địa Tạng), Sarvanivarana – Viskambini, Khagarbha, Maitreya (Di Lặc) và Samantabhadra (Phổ Hiền):
    Xin dẫn dắt chúng sinh này, đối tượng đáng thương không người hướng dẫn của lòng bi mẫn này thoát khỏi nỗi sợ hãi của đời này, đời sau và trạng thái trung ấm.
    Con khẩn cầu vô số Daka và Dakini trong tam giới, những bậc hùng lực với sự tiên tri và năng lực siêu linh, an trụ trong thánh điện siêu phàm gọi là “Hoan hỷ trong Pháp Giới”, và bảo hộ những hành giả như những nam tử của các Ngài:
    Xin dẫn dắt chúng sinh này, đối tượng đáng thương không người hướng dẫn của lòng bi mẫn này thoát khỏi nỗi sợ hãi của đời này, đời sau và trạng thái trung ấm.
    Con khẩn cầu Đức Mahakala bậc cứu giúp mau chóng, Đức Kalarupa ràng buộc-thệ nguyện, Đức Mahakali phi thường và quang vinh, Đại vương Namtose, Đức Mahakala tứ diện mà trên đỉnh đầu trang hoàng một đầu quạ, v..v..; những bậc thủ hộ có trí tuệ siêu việt:
    Xin dẫn dắt chúng sinh này, đối tượng đáng thương không người hướng dẫn của lòng bi mẫn này thoát khỏi nỗi sợ hãi của đời này, đời sau và trạng thái trung ấm.
    Hỡi các Đấng Thiêng Liêng, nơi nương tựa không bao giờ-lừa dối, đã tới lúc phát khởi mạnh mẽ nhất năng lực ban phước bi mẫn của các Ngài và trở thành Bậc cứu độ chúng sinh này, đối tượng đáng thương không được che chở của lòng bi mẫn.
    Xin ban phước để xoa dịu nỗi đau đớn và khốn khổ.
    Xin ban phước để làm yên lắng những quan niệm bất thiện và mê lầm.
    Xin ban phước để phát triển những thiện niệm mạnh mẽ.
    Xin ban phước để hồi tưởng những khai thị của Guru.
    Khi sự biến dịch của các yếu tố đem lại bốn kẻ thù và ba thị kiến khủng khiếp, khi những dấu hiệu bất định khác nhau xảy ra, xin ban phước để được tái sinh vào cõi tịnh độ nhờ phương tiện của yoga nội, ngoại và bí mật.
    Xin ban phước để chúng sinh này tái sinh trong một thân thể siêu việt, được thực hành mật chú trong cõi thuần tịnh Kacho, hoặc hoàn thiện những chứng ngộ về hai con đường tiệm và đốn để thành tựu ba thân (kaya) nhờ thực hiện ba sự tu tập với thân thể này.
    Nếu có những Guru và Bổn Tôn ràng buộc-tâm linh đặc biệt mà người sắp chết có lòng sùng mộ đối với các ngài thì việc tụng những lời cầu nguyện và những bài kinh khác của các vị ấy cũng rất tốt.
    Sau đó, bằng một giọng to và rõ, hãy tụng những câu sau đây nhiều lần
    (Ba hoặc bảy lần tuỳ theo thời gian bạn có)
    chom.dan.da d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya rin.che’en tsug.tor.chan ch’ag.ts’al.lo chom.dan.da d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya pal.gyal.wa shakya t’ub.pa.la ch’ag.ts’al.lo
    chom.dan.da d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya man.gyi.la ben.durya o.kyi gyal.po.la ch’ag.ts’al.lo
    chom.dan.da d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya ts’en.leg.pa yong.drag pal.gyi gyal.po.la ch’ag.ts’al.lo
    chom.dan.da d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya rin.po.ch’e d’ang pa.a d’ang da.wa rab.tu gyang.pa k’a.pa.zi.ji dra.yangkyi gyal.po.la ch’ag.ts’al.lo
    chom.dan.da d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya ser.zang dri.me rin.ch’en nang.tul.shug drub.pa.la ch’ag.ts’al.lo
    chom.dan.da d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya nya.ngan.me ch’og.pal.la ch’ag.ts’al.lo
    chom.dan.da d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya ch’o.drag gya.ts’o yang.la ch’ag.ts’al.lo
    chom.dan.da d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya ch’o.drag gya.ts’o ch’og.gi.lo nam.par rol.pa ngon.par ky’en.pa gyal.po.la ch’ag.ts’al.lo
    chom.da.da d’ezhin.sheg.pa dra.com.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya mi.tr’ug.pala ch’ag.ts’al.lo
    chom.dan.da d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya o.pag tu.me.pa.la ch’ag.ts’al.lo
    chom.danda d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya jam.pa gon.po.la ch’ag.ts’al.lo
    Vào lúc này, hãy niệm Thánh hiệu Ba mươi lăm vị Phật Sám hối.
    1. ton.pa chom.dan.da d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya pal.gyal.wa shakya t’ub.pa.la ch’ag.ts’al.lo
    2. d’e.zhin.sheg.pa d’or.je nying.po rab.tu.jom.pa.la ch’ag.ts’al.lo
    3. d’e.zhin.sheg.pa rin.ch’en o.tr’ola ch’ag.ts’al.lo
    4. d’e.zhin.sheg.pa lu.wang gyi gyal.po.la ch’ag.ts’al.lo
    5. d’e.zhin.sheg.pa pa.wo de.la ch’ag.ts’al.lo
    6. d’e.zhin.sheg.pa pal.gye.la ch’ag.ts’al.lo
    7. d’e.zhin.sheg.pa rin.ch’en me.la ch’ag.ts’al.lo
    8. d’e.zhin.sheg.pa rin.ch’en da.o.la ch’ag.ts’al.lo
    9. d’e.zhin.sheg.pa t’ong.wa don.yo.la ch’ag.ts’al.lo
    10. d’e.zhin.sheg.pa rin.ch’en da.wa.la ch’ag.ts’al.lo
    11. d’e.zhin.sheg.pa dr’i.ma me.pa.la ch’ag.ts’al.lo
    12. d’e.zhin.sheg.pa pal.jin.la ch’ag.ts’al.lo
    13. d’e.zhin.sheg.pa ts’ang.pa.la ch’ag.ts’al.lo
    14. d’e.zhin.sheg.pa ts’ang.pa jin.la ch’ag.ts’al.lo
    15. d’e.zhin.sheg.pa ch’u.lha.la ch’ag.ts’al.lo
    16. d’e.zhin.sheg.pa ch’u.lha.lha.la ch’ag.ts’al.lo
    17. d’e.zhin.sheg.pa pal.zang.la ch’ag.ts’al.lo
    18. d’e.zhin.sheg.pa tsan.dan pal.la ch’ag.ts’al.lo
    19. d’e.zhin.sheg.pa zi.ji t’a.ya.la ch’ag.ts’al.lo
    20. d’e.zhin.sheg.pa o.pal.la ch’ag.ts’al.lo
    21. d’e.zhin.sheg.pa nya.ngan me.pa pal.la ch’ag.ts’al.lo
    22. d’e.zhin.sheg.pa se.me kyi.b’u.la ch’ag.ts’al.lo
    23. d’e.zhin.sheg.pa me.tog pal.la ch’ag.ts’al.lo
    24. d’e.zhin.sheg.pa ts’ang.pa o.zer nam.par rol.pa ngon.par ky’en.pa.la ch’ag.ts’al.lo
    25. d’e.zhin.sheg.pa pa.ma ozer nam.par rol.pa ngon.par ky’en.pa.la ch’ag.ts’al.lo
    26. d’e.zhin.sheg.pa nor.pal.la ch’ag.ts’al.lo
    27. d’e.zhin.sheg.pa dr’an.pa pal.la ch’ag.ts’al.lo
    28. d’e.zhin.sheg.pa tsan.pal.shin.tu yong.dr’ag.la ch’ag.ts’al.lo
    29. d’e.zhin.sheg.pa wang.po tog.gi gyal.tsan.gy’I gyal.po.la ch’ag.ts’al.lo
    30. d’e.zhin.sheg.pa shin.tu.nam.par non.pa pal.la ch’ag.ts’al.lo
    31. d’e.zhin.sheg.pa yul.la shin.tu nam.par gyal.wa.la ch’ag.ts’al.lo
    32. d’e.zhin.sheg.pa nam.par non.pa sheg.pa pal.la ch’ag.ts’al.lo
    33. d’e.zhin.sheg.pa kun.na nang.wa ko.pa pal.la ch’ag.ts’al.lo
    34. d’e.zhin.sheg.pa rin.ch’en pa.ma nam.pa non.pa.la ch’ag.ts’al.lo
    35. d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya rin.po.che d’ang pa.mal.a rab.tu zhug.pa ri.wang.g’I gyal.po.la ch’ag.ts’al.lo
    Hoặc niệm Danh hiệu Ba mươi lăm vị Phật Sám hối bằng tiếng Việt:
    1. Namo Như Lai, Ứng cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
    2. Namo Đáo Bỉ Ngạn Kim Cương Bất Hoại Phật,
    3. Namo Đáo Bỉ Ngạn Phổ Quang Phật,
    4. Namo Đáo Bỉ Ngạn Hàng Phục Ma Vương Phật
    5. Namo Đáo Bỉ Ngạn Nhất Thiết Thế Gian Nhạo Kiến Thượng Đại Tinh Tấn Phật
    6. Namo Đáo Bỉ Ngạn Hoan Hỷ Tạng Bảo Tích Phật
    7. Namo Đáo Bỉ Ngạn Bảo Hoả Phật
    8. Namo Đáo Bỉ Ngạn Bảo Nguyệt Quang Phật
    9. Namo Đáo Bỉ Ngạn Đại Cường Tinh Tấn Dũng Mãnh Phật
    10. Namo Đáo Bỉ Ngạn Bảo Nguyệt Phật
    11. Namo Đáo Bỉ Ngạn Vô Cấu Phật
    12. Namo Đáo Bỉ Ngạn Tài Công Đức Phật
    13. Namo Đáo Bỉ Ngạn Thanh Tịnh Phật
    14. Namo Đáo Bỉ Ngạn Ly Cấu Phật
    15. Namo Đáo Bỉ Ngạn Thuỷ Thiên Phật
    16. Namo Đáo Bỉ Ngạn Đại Thánh Thuỷ Thiên Phật
    17. Namo Đáo Bỉ Ngạn Huệ Tràng Thắng Vương Phật
    18. Namo Đáo Bỉ Ngạn Chiên Đàng Hương Phật
    19. Namo Đáo Bỉ Ngạn Đại Thông Quang Phật
    20. Namo Đáo Bỉ Ngạn Bảo Đăng Quang Phật
    21. Namo Đáo Bỉ Ngạn Vô Ưu Phật
    22. Namo Đáo Bỉ Ngạn Hiện Vô Ngu Phật
    23. Namo Đáo Bỉ Ngạn Bảo Hoa Du Bộ Phật
    24. Namo Đáo Bỉ Ngạn Quảng Trang Nghiêm Vương Phật
    25. Namo Đáo Bỉ Ngạn Hư Không Bảo Hoa Quang Phật
    26. Namo Đáo Bỉ Ngạn Đại Thông Quang Phật
    27. Namo Đáo Bỉ Ngạn Lưu Ly Trang Nghiêm Vương Phật
    28. Namo Đáo Bỉ Ngạn Thiện Danh Xưng Công Đức Phật
    29. Namo Đáo Bỉ Ngạn Thượng Đại Tinh Tấn Phật
    30. Namo Đáo Bỉ Ngạn Trí Huệ Thắng Phật
    31. Namo Đáo Bỉ Ngạn Đấu Chiến Thắng Phật
    32. Namo Đáo Bỉ Ngạn Đại Cường Tinh Tấn Dũng Mãnh Phật
    33. Namo Đáo Bỉ Ngạn Ưu Đàm Bát La Hoa Thù Thắng Vương Phật
    34. Namo Đáo Bỉ Ngạn Bảo Liên Hoa Thiện Trụ Ta La Thọ Vương Phật
    35. Namo Đức Đại A La Hán, Đức Toàn Giác, Đức Nhất Thiết Thắng Vương Quá Tu Di, Mani Châu Bảo Liên Thường Trụ.
    Sau đó, từ năm đoạn của thần chú, hãy niệm thần chú Trí tuệ gốc để tịnh hoá chuyển nghiệp bất thiện đưa đến việc tái sanh trong những cõi xấu:
    OM NAMO BHAGAVATE SARVA DURGATI PARI SHODHANA RADZAYA, TATHAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA, TAYATHA, OM SHODHANI SHODHANI, SARVA PAPAM VISHOMDHANI VISHODHANI SHUDHE VISHUDE VISHUDHE SARVA KARMA AWARANA VISHODHANE SOHA
    Sau đó, niệm thần chú Tịnh hoá các nghiệp chướng:
    NAMO RATNA TRAYAYA, OM KAMKANI KAMKANI, ROTZANI ROTZANI, TORTANI TORTANI, TRASANI TRASANI, PASTIHANA PARTIHANA, SARVA KARMA PARAM PARANI ME SARVA SATTVA NAM SOHA
    Nếu có thể, niệm thần chú dài của Ngài Tsugtor Namgyal thì rất tốt, còn nếu không thì niệm thần chú ngắn:
    OM BHRUM SOHA, OM AMRITA AYU DADE SOHA
    Cũng niệm thần chú dài của Đức Phật Tsugtor Drime, nếu không thể thì nệm bài ngắn:
    OM NAMA STRIYA DHIKANAM, SARVA TATHAGATA HRI DAYA GARBHE JVALA JVALA, DHARMA DHATU GARBHE, SAMBHARA MAMA AYU, SAM SHODAYA MAMA SARVA PAPAM SARVA TATHAGATA SAMANTA USHNISHA VIMALE VISHUDDHE HUNG HUNG HUNG HUNG, OM BAM SAM DZA SOHA
    Sau đó niệm thần chú của Đức Phật Pema Tsugtor:
    OM PEMO USHNISHA VIMALE HUNG PHAT
    Đây là những thần chú chính. Những thần chú khác là “Xá lợi Bí mật”, “Một trăm ngàn Vật Trang hoàng Giác ngộ” và “Duyên sinh Tâm chú”. Người ta nói rằng niệm những thần chú này sẽ có lợi ích lớn lao. Do đó, bây giờ hãy niệm ba thần chú này (nhập chung):
    OM SARBA TATHAGATA UNIKANA DHATU MUDRANI SARBA TATHAGATA DHARMA DHATU VIBHUKITE ATI THITE HURU HURU HUNG HUNG SOHA, OM SARBA TATHAGATA JAWALOKITE SOHA, DZAYA DZAYA SOHA, OM HURU HURU DZAYA MUKHE SOHA, YE DHARMA HE TU PARBHAVA HETUNTESHAN KENTA THAGATO HYA WADA TESHAM CHAYO NIRODHA E WAM VADI MAHA SHRAMANAYE
    Sau đó niệm thần chú Lời nguyện của Đức Phật Di Lặc:
    NAMO RATNA TRAYAYA, NAMO BHAGAVATI SHAKYAMUNAYE, TATHAGATAYE, ARHATO SAMYAKSAM BUDDHAYA, TAYATHA, OM ADZITE, ADZITE, APARDZITE, ADZITAN DZAYA, HARA HARA, METRI AWALOKITE, KARA KARA, MAHA SAMAYA SIDDHI, BHARA BHARA, MAHA BODHI MENDA BIDZA, MARA MARA, EMAKAM SAMAYAM, BODHI BODHI MAHA BODHI SOHA
    Tâm chú:
    OM MOHI MOHI MAHA MOHI SOHA
    Tâm chú mật thiết hơn:
    OM MUNE MUNE MARA SOHA
    Vào lúc này, hãy niệm vào tai người chết những thần chú ban phước khác để làm yên lắng nghiệp bất thiện, như thần chú Quán Âm Thập Nhất Diện:
    NAMO RATNA TRAYAYA NAMO ARYA JNANA SAGARA VAIROTSANA VIHUYA RADZAYA TATHAGATAYA ARHATE SAMYAK SAMBUDDHAYA NAMA SARVA TATHAGATEBHYAH ARHATEBHYAH SAMYAK SAMBUDDHEBHYAH NAMA ARYA AVALOKITESHVARAYA
    BODHISATTVAYA MAHASATTVAYA MAHAKARUNIKAYA TADYATHA: OMDHARA DHARA DHIRI DHIRI DHURU DHURU ITTI WATTE CHALE CHALE PRACHALE PRACHALE KUSUME KUSUME WARE ILI MILI TSITE JVALA MAPANAYE SVAHA.
    Với những người đã thực sự chết có thể niệm bài nguyện sau vào lúc kết thúc việc tụng niệm thần chú:
    “Bạn đã qua đời, tất cả những nghiệp bất thiện và chướng ngại của bạn SHINTAM (được yên lắng) KURUYE (tất cả) SOHA (đều).” (đều được yên lắng).
    Niệm những thần chú này cùng với lời cầu nguyện ngắn kèm theo đây sẽ đem lại lợi ích vô hạn, sau đó thổi vào nước rồi dùng nước ấy lau rửa tử thi. Bạn cũng thổi vào bụi đất, những hạt mù tạt vàng và hạt mè đen rồi rải chúng lên tử thi. Cũng viết những thần chú vàa đặt lên đỉnh đầu hoặc trong mộ cùng với tử thi.
    Khi hơi thở đã ngừng, để thực hiện việc chuyển di tâm thức, hãy nghiền những yếu tố chuyển di như các viên xá lợi của những bậc thánh nhân, xương cốt của các Guru thiêng liêng, tro lấy từ vỏ ốc xà cừ (loại nhỏ) bị đốt cháy hoặc nam châm, trộn với mật và đặt trên đỉnh đầu người chết.
    Trong trường hợp một người đã chết được vài ngày, bạn nên đưa tâm thức trợ lại xác bằng cách đọc ba lần:
    “Namo. Nhờ năng lực của giới luật chân chính của Phật, giới luật chân chính của Pháp, giới luật chân chính của Tăng đoàn, giới luật chân chính của những thần chú bí mật và thần chú trí tuệ, và đặc biệt là nhờ năng lực của căn nguyên tương thuộc (lý duyên sinh) không dối gạt và chân lý của thể tánh bất biến, cầu xin tâm thức của ………..(nhắc lại tên) đã qua đời, được triệu thỉnh về đây lập tức dù ở bất cứ nơi đâu, ở chót đỉnh của luân hồi sinh tử, trong những cõi thấp, ở một trong mười tám địa ngục hoặc bất kỳ nơi nào giữa những cõi giới đó, bên dưới, bên trên hoặc tại thế gian.”
    Sau đó nói:
    “Này! Này!..(Nhắc tên), Bạn đã qua đời, vì thế xin hãy lắng nghe! Bạn đã bỏ lại thân xác của đời này và tất cả những yếu tố (các đại) của bạn đang dần dần thâu rút lại. Trong lúc này, nhiều nỗi sợ hãi xuất hiện trong tâm. Đó là những thị kiến huyễn hoặc gây nên bởi sự thâu rút những yếu tố của bạn. Vì thế, chớ để nỗi sợ hãi do những thị kiến này chế ngự, hãy thiền định như sau:
    Ngay giữa thân bạn là kinh mạch trung ương có kích thước bằng một mũi tên tre, từ rốn đi lên và tới tận đỉnh đầu. Trong kinh mạch này, nơi trái tim hãy quán tưởng tâm bạn là một giọt màu trắnng có bản tánh của ánh sáng, lớn bằng một hạt đậu lăng ở tư thế sẵn sàng phóng lên trên.
    Sau đó khi bạn đã thực hiện được những quán tưởng này, từ cõi tịnh độ Dewachen, Đấng cứu độ A Di Đà bất khả phân với Guru gốc của bạn, cùng tất cả quyến thuộc của Ngài dưới sự điều khiển của lòng bi mẫn vô lượng hiện xuống, hoan hỉ với bạn và an trụ trên lỗ mở ở đỉnh đầu bạn.”
    Hãy cầu thỉnh Phật A Di Đà và dâng cúng bài nguyện bảy nhánh sau:
    “Con cung kính đảnh lễ với ba cửa (thân, khẩu, ý) của con.
    Con dâng cúng mọi vật cúng dường thực tế và được quán tưởng, không loại trừ vật nào.
    Con xin sám hối mọi nghiệp và sa sút bất thiện.
    Con tuỳ hỷ mọi công đức.
    Con khẩn cầu Ngài chuyển Pháp luân thâm sâu và rộng khắp.
    Con khẩn cầu Ngài trụ thế vững chắc và đừng nhập Niết Bàn.
    Con xin hồi hướng công đức cho sự Giác ngộ tối thượng.”
    Sau đó, bạn chạm tay vào má người chết và dẫn dụ họ với giọng nói hết sức dịu
    dàng như sau:
    “Này! Này! Hỡi đứa con may mắn của điều cốt tuỷ. Kết thúc của việc sinh ra là cái chết. Chẳng có gì khác biệt giữa trẻ và già. Điều này có nghĩa là giờ đây cái chết của bạn đã đến, bạn cần tới Giáo Pháp mà tôi, một con người, đã giảng giải rất kỹ. Bạn phải đặt nó ngay trong tim mình, không chút phóng ta.
    “Này bạn, đừng bị dính mắc vào thân thể nào. Đừng dính mắc vào những thú vui vật chất. Đừng dính mắc vào nhà cửa hay xứ sở. Đừng dính mắc vào thân quyến và những người thân yêu. Bởi nếu bạn dính mắc, bạn sẽ bị tái sinh trong cõi ngạ quỷ. Nếu không bám luyến, bạn sẽ đi tới cõi cực lạc.
    “Kết thúc của sự tụ hội là phân li. Kết thúc của tích luỹ là mất mát. Kết thúc của gặp gỡ là chia lìa và kết thúc của sự sinh ra là cái chết.
    “Này bạn, giờ chết đã đến, nhưng bạn không phải là người duy nhất chết. Mọi người đều có bản tánh như vậy. Bạn không cần phải đau khổ khi nghĩ tới cái chết, bởi không ai hạnh phúc và vui sướng hơn bạn.
    “Trên đỉnh đầu bạn, trên những đĩa mặt trời và mặt trăng là Đức Phật A Di Đà bất khả phân với Guru gốc của bạn đang an toạ. Khi bạn chuyển kiếp, mọi chướng ngại đều bị tiêu huỷ bởi việc nhớ tưởng tới Ngài. Bây giờ, để có thể có được một con đường chuyển di tâm thức tới một cõi thanh tịnh, hãy khẩn cầu từ tận đáy lòng bạn:”
    Hãy quán tưởng lời cầu khẩn này như xuất phát từ người đã qua đời:
    “Con khẩn cầu Ngài, Đấng cứu độ A Di Đà Phật, Ngài là tinh hoa của Tam Bảo không dối gạt, Đấng giải thoát chúng sinh khỏi nỗi sợ hãi các cõi xấu và là bậc dẫn dắt tối thượng, chuyên chở tất cả chúng sinh đến cõi tịnh độ.
    Con khẩn cầu Ngài dẫn dắt con khỏi nỗi sợ hãi Yama (Tử Thầm)
    Con khẩn cầu Ngài giải thoát con khỏi con đường bất trắc của giai đoạn trung ấm khủng khiếp.
    Con khẩn cầu Ngài dẫn dắt con đến cõi Cực Lạc tối thượng.
    Ngoài Ngài ra, con không còn nơi nào khác để hy vọng. Xin dẫn dắt con với lòng bi mẫn.”
    Sau đó niệm bài Bạt Nhất thiết Nghiệp chướng Vãng sinh Tịnh độ:
    NAMO RATNATRAYAYA NAMAH AMITABHAYA TATHAGATAYA ARHATE SAMYAK SAMBUDDHAYA TADYATHA: OM AMRTE AMRTO BHAVE AMRTA SAMBHAVE AMRTA VIKRANTE AMRTA VIKRANTA GAMINI GAGA NAKIRTI KARE SARVA KLESHA YAM KARI (Tên người chết..) SVAHA.
    Tâm chú:
    OM AMIDEWA HRI
    Khi quán tưởng như vậy, bởi lời khẩn cầu mãnh liệt này tận đáy lòng bạn, từ trái tim của Đấng cứu độ, những tia sáng như những chiếc móc phóng xuống, đi vào lỗ mở ở đỉnh đầu người chết, lay động tâm thức họ. Tâm thức người chết được quán tưởng trong hình tướng một giọt màu trắng và được kéo lên. Trong lúc đang quán tưởng như vậy, chú tâm kéo gió ở phía dưới lên và phát ra tiếng nấc nhiều lần.. Nhờ việc này, giọt sẽ đi lên và qua kinh mạch trung ương, phóng ra ngoài lỗ mở ở đỉnh đầu, đi vào chỗ bí mật của vị Guru và dần dần thấp nhập vào trái tim Ngài. Nhờ thực hành này, Guru A Di Đà đi tới cõi Cực lạc Dewachen, như một viên đạn nhắm trúng mục tiêu.
    Hãy tưởng tượng rằng người chết chú tâm rút gió ở phía dưới lên. Cùng một lúc, hãy ra tiếng nấc nhiều lần mạnh tóc ở giữa đỉnh đầu người chết. Sau đó quán tưởng rằng Đấng cứu độ A Di Đà đi tới cõi Cực lạc và hãy thiền định một lúc về điều này.
    Sau đó niệm bài nguyện này:
    “Cầu mong người chết được sinh ra từ một hoa sen cực kỳ tươi đẹp và linh thiệng trong mạn đà la tốt lành, thuần tịnh của Đấng Chiến Thắng. Cầu mong điều tiên đoán về sự giác ngộ của người ấy (sự thọ ký) được thực sự biểu lộ, và cầu xin người đã chết này được Đức Phật Vô Lượng Quang A Di Đà tiếp dẫn.
    “Cũng nhanh chóng như người ấy bước sang cuộc đời mới, cầu mong người ấy đi vào nhụy hoa sen trong cõi cực lạc và thanh tịnh. Cầu mong lời nguyện này nhanh chóng thành tựu nhờ năng lực chân lý của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, bậc dẫn dắt, Đức Phật A Di Đà, bậc bất khả chiến bại, Bồ Tát Di Lặc, Văn Thù, Kim Cương Thủ, chủ nhân của điều mật nhiệm, những bậc đã thể nhập cực lạc, những bậc luôn hiện diện xung quanh và nhờ năng lực của lý duyên sinh không dối gạt.”
    NHỮNG LỢI ÍCH CỦA PHÁP HÀNH
    Niệm thánh hiệu của vị Guru vào tai người sắp chết và giúp họ nhớ tưởng tới các Ngài là phương pháp chuyển di tốt nhất.
    Tantra do Ngài Pungsang khẩn cầu nói:
    “Với một người sắp chết, tưởng nhớ vị Guru của họ chỉ trong vài giây là phương pháp chuyển di tốt nhất trong tất cả các phương pháp chuyển di. Người này sẽ có thể đạt được toàn giác.”
    Điều tối cần thiết là làm cho người chết nhớ lại vị Guru của họ, và đặc biệt là làm cho họ phát sinh lòng sùng kính đối với Guru và các Bổn Tôn có ràng buộc tâm linh với họ. Trong bản văn Peybum Ngonpo có nói:
    “Bậc mà Ngài ta hiến mình sẽ hàng phục.”
    Nếu người chết được nghe thánh hiệu của Đức Phật Rinche Tsugtor Chan (Có một Nhục Kế Qúy báu), họ sẽ không bị đọa vào những cõi xấu. Con trai của một thủ lãnh các thương nhân tên là Ky’i.we Ch’u.b’eb niệm lớn thánh hiệu của Đức Phật này trong tầm nghe của mười ngàn con cá và chúng được sinh vào cõi thiên.
    Trong giáo lý của Đức Phật Ser O D’ampa (Thân Toả Hào Quang Vàng) có nêu rõ:
    “Việc trì tụng thánh hiệu của Đạo Sư Thích Ca Mâu Ni Phật khiến tịnh hoá nghiệp bất thiện trong tám mươi ngàn kiếp và chỉ nghe thánh hiệu một lần, người đó sẽ không xa rời con đường dẫn đến sự Giác ngộ viên mãn, tối thượng.”
    Trong Kinh Những Đám Mây Quý Báu Siêu Phàm (Kon.ch’og Trin Gy’I D’o) có nói:
    “Chỉ nhờ nghe danh hiệu của Đức Phật Dược Sư, Đấng Chiến Thắng, người ta sẽ không tái sinh vào những cõi xấu.”
    Trong Kinh Ánh sáng Lam Ngọc (Bedurya O Kyi D’o) có nói:
    “Với những người được nghe thánh hiệu của các Đức Như Lai này thì không còn cơ hội tánh sanh vào những cõi xấu.”
    Lạt ma Atisha cũng nói rằng chỉ nhờ nghe thánh hiệu của Đức Phật Dược Sư mà người ta sẽ được tẩy sạch những đau khổ của việc tái sanh vào những cõi xấu . Những lợi ích khác là họ sẽ không rời bỏ con đường dẫn đến Giác ngộ tối thượng, nghiệp bất thiện và những che chướng được tịnh hoá và Mara (Ma Vương) không thể sai sử được họ. Đặc biệt là những người sắp kinh nghiệm khía cạnh chín mùi nặng nề của những hành động xấu của họ như keo kiệt, ghen tị, kiêu ngạo, và của việc không tuân theo những hành vi đạo đức đều được giải thoát khỏi đau khổ và thọ nhận hạnh phúc hoàn hảo nhờ việc nhớ tưởng thánh hiệu của Đức Phật Dược Sư sau khi nghe. Thậm chí những người đã tái sinh vào những cõi xấu cũng được giải thoát khỏi chúng chỉ nhờ nhớ lại một thánh hiệu như vậy. Ngay cả đối với những người đã để cho thực hành đạo đức suy đồi trong đời này, khía cạnh chín mùi v..v.. có thể được tịnh hoá bằng cách niệm thánh hiệu của Đức Phật Dược Sư. Ta được dạy rằng việc trì niệm như thế sẽ được vô số lợi lạc. Cũng có nói rằng để được sinh vào cõi Tịnh Độ Cực Lạc Dewachen, việc tụng niệm và nghe những thánh hiệu của Đức Phật Dược Sư thì thậm chí còn nhanh chóng hơn việc tụng niệm và nghe thánh hiệu của Đức Phật A Di Đà và cầu nguyện Ngài. Có những lợi ích không thể nghĩ bàn trong việc tụng niệm và nghe các thánh hiệu của Đức Phật Dược Sư, như đã được nói rõ trong Tám Trăm Kinh Đức Phật Dược Sư.
    Lợi ích của thánh hiệu Ngài Nitr’ugpa (Phật Bất Động) đã được giảng trong Kinh De Zhingko. Lợi ích của việc nghe thánh hiệu Phật A Di Đà đã được giảng rộng rãi trong giáo lý được gọi là Kontseg, trong chương năm dưới tựa đề “Sự trang hoàng đẹp đẽ của Phật A Di Đà”. Số lượng Kinh văn sẽ làm khủng hoảng nếu tôi phải trích dẫn luận giảng “Sự Sám hối những Sa sút”, diễn giải sự tịnh hoá của những nghiệp bất thiện và che chướng trong rất nhiều kiếp nhờ đọc thánh hiệu của ba mươi lăm vị Phật. Do đó, hãy nỗ lực thấu hiểu những Kinh văn này và phát khởi đức tin kiên cố nơi chúng. Có những lợi ích to lớn trong việc tụng niệm những thần chú ban phước đặc biệt như những thần chú Kangkani, Durgati, Tsugtor, Namgyal, Tsugor Drime, Pemo Unika v..v..vào tai người chết sau khi gọi tên họ. Ta cũng có thể niệm những thần chú này rồi thổi vào cát, hạt mè hoặc nước và rải vào xương hay trên tử thi, hoặc rửa tử thi với nước trước khi hoả táng. Ta có thể viết các thần chú này rồi đặt trên đỉnh đầu tử thi trước khi chôn. Trong bản văn Thần chú Tịnh hoá các Nghiệp chướng có nói:
    “Thậm chí với đối tượng là một con thú, chim muông, người, phi-nhân, hoặc tinh linh hung dữ, nếu ta niệm thần chú này với lòng bi mẫn trong tầm nghe của họ vào lúc chết, thì họ sẽ không tái sanh vào các cõi xấu. Hoặc, nếu họ đã chết, ta niệm thần chú này một trăm, một ngàn, mười ngàn hay một trăm ngàn lần với lòng từ bi, thì cho dù họ đã bị tái sanh vào các cõi địa ngục, ngay lúc ấy họ sẽ được giải thoát khỏi nơi đó. Khi niệm thần chú này và thổi vào đất, hạt mù tạt vàng, hạt mè hay nước và rắc vào xương hay tử thi, hoặc đem thiêu hay chôn tử thi thì sau khi rửa nó bằng nước và viết thần chú đặt trên đỉnh đầu, đem lại kết quả là cho dù người chết đã bị tái sanh vào những cõi thất, thì trong vòng bảy ngày chắc chắn họ sẽ được giải thoát khỏi những cõi đó và được tái sanh vào một cõi tốt lành – có nghĩa là nếu họ không có một tái sanh tốt đẹp nhờ vào năng lực của sự cầu nguyện của chính họ.”
    Trong Tantra Tịnh hoá những Cõi Xấu cũng có nêu rõ:
    “Tóm lại, việc trở thành vua của các vị trời là điều có thể được. Chỉ nhờ vào việc nhớ tưởng các danh hiệu của những Guru và chư Phật, chúng sanh kém may mắn sẽ hoàn toàn được giải thoát khỏi mọi nguyên nhân làm tái sinh vào những cõi xấu.”
    Chú Dược Sư:
    OM BESHEJE BESHAJE MAHA BESHEJE RAJA SAMUNGATE SOHA
    Tâm chú Dược Sư:
    NAMAH SAMATA BUDDHANAM OM HULU HULU CHANDALI MATANGHI VIH SOHA
    Bản văn này đề cập tới thần chú Trí tuệ gốc:
    OM NAMO BHAGAVATE SARVA DURGATI PARI SHODHANA RADZAYA, TATHAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA, TAYATHA, OM SHODHANI SHODHANI, SARVA PAPAM BISHODHANI
    BISHODHANI SHUDHE BISHUDE SARVA KARMA AVARANA VISHODHANE SOHA
    Nó cũng được đề cập tới trong luận giảng về thần chú của Ngài Namgyalma:
    “Nếu ta niệm thần chú này hai mươi mốt lần, sau đó thổi vào các hạt mù tật
    vàng rồi ném chúng vào xương của chúng sanh tích tập nhiều nghiệp bất thiện và đã
    chết, thì cho dù chúng sanh đó đã tái sanh vào cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, trong
    cõi của Yama (Thần Chết) hay trong những cõi xấu, nhờ năng lực của thần chú này
    họ sẽ được giải thoát khỏi những cõi giới bất hạnh đó.”
    Trong luận giảng về thần chú của Đức Phật Bất Nhiễm cũng có nói rằng nếu ta
    niệm thần chú OM NAMA STRIYA DHIVIKANAM, SARVA TATHGATA HRI DAYA
    GARBHE JVALA JVALA, DHARMA DHATU GARBHE, SAMBHARA MAMA AYU
    SAM SHODAYA MAMA SARVA PAPAM SARVA TATHAGATA SAMATA
    USHINISHA VIMALE VISHUDDHE HUNG HUNG HUNG HUNG, OM BAM SAM
    DZA SOHA hai mươi mốt lần, sau đó thổi vào cát và rắc lên mộ hay xương, thì những
    người đã chết mà xương cốt được cát này chạm vào nếu tái sanh vào bất kỳ cõi địa ngục
    nào đều hoàn toàn được giải thoát khỏi nơi đó và nhận một tái sinh cao hơn. Nếu được
    tái sinh vào cõi cao hơn họ sẽ nhận được một trận mưa hoa trên thân thể.
    Trong bản văn Bài nguyện Chi tiết của Đức Phật Donzhag nói rõ:
    “Nếu ta niệm OM PEMO USHNISHA VIMALE HUNG PHAT bảy lần, sau đó thổi vào cát sạch rồi ném lên xương, tro cốt hay bất cứ phần nào của chúng sinh đã chết là những người từng tích tập nghiệp khiến tái sinh vào các cõi địa ngục, hay bất kỳ tu sĩ đã thọ cụ túc giới đã đứt giới hay vi phạm các giới nguyện phụ, hành vi đạo đức căn bản, hoặc bất kính với Tu viện trưởng hay vị Thầy chính, thì ngay lập tức sau khi các được ném lên than, thì cho dù người đó đã tái sinh vào địa ngục, ngạ quỷ, quỷ dữ hay la sát, ngay lúc đó chúng sinh được chuyển thế và được tái sinh vào những cõi cao hơn, không bao giờ đoạ địa ngục.”
    Đây là những lợi ích của việc trì tụng các thần chú cho những người sắp chết hay đã chết. Bên cạnh những điều này, các lợi ích của việc tụng niệm những thần chú này như thực hành hằng ngày việc viết ra và đặt chúng trong tháp v.v.. đã được Đức Phật giải thích rộng rãi. Nếu muốn biết những lợi ích này, hành giả nên xem những bài nguyện của các Bổn Tôn riêng của mình.
    Lợi ích của thần chú Lời Nguyện của Đức Phật Di Lặc như sau:
    Nếu nghe được những lời của thần chú này và tụng niệm hang ngày, suy niệm ý nghĩa, hoặc trong trường hợp của chim muông và dã thú v..v.., chỉ cần nghe thần chú ta sẽ không bị tái sinh vào những cõi thấp và trở thành một Chuyển Luân Thánh Vương trong một ngàn kiếp tính theo thời gian của cõi thiên. Ta cũng sẽ đi theo con đường mười hành vi đức hạnh (thập thiện), thọ nhận được mọi điều vui thích mà ta tìm kiếm và đặc biệt là, khi Đức Phật Di Lặc hiển bày mười hai hành động của một vị Phật, Ngài sẽ dẫn dắt chúng sanh này thoát khỏi sự cùng khổ. Cho dù chúng sinh đó ở trong một địa ngục, Phật Di Lặc nhất định sẽ tìm ra họ và ban cho sự tiên tri về thời điểm giác ngộ của hô. (thọ ký).
    Sự giải thích những lợi ích của các thần chú và thánh hiệu này không phải là ẩn dụ. Người ta không cần hiểu rõ ý nghĩa – ý nghĩa thì hoàn toàn chính xác như được nói ra. Do đó, chớ nên nghi ngờ, bởi những bậc Guru thiêng liêng đã nhấn mạnh vào các lợi ích nhận được nhờ lòng sùng kính và niềm tin.
    Tantra gốc Jampal Tsaggyu của Đức Văn Thù nói:
    “Những người có lòng sùng kính sẽ đi theo một sự hướng dẫn đưa đến giác ngộ. Tuy nhiên, những người không có những phẩm tính cần thiết, đặc biệt là sự sùng kính, sẽ không đi theo một hướng dẫn như vậy, và đặc biệt là sẽ không đạt được chứng ngộ trong bất kỳ thực hành Kim Cương Thừa nào.”
    Bản văn Konch’og Tsegpa (Trụ Chống Quý Giá Siêu Phàm) trình bày:
    Người đã thọ nhận giáo lý của Đấng Chiến Thắng và người có trí tuệ tích luỹ nhiều công đức hơn người chỉ có lòng tin. Để đạt được ý nghĩa tối hậu, lòng sùng kính là cội gốc. Do đó, nhờ lắng nghe, hành giả nên loại bỏ tâm hoài nghi.”
    Ta nên thực hành với niềm tin và sùng mộ vững chắc, hãy suy nghĩ:
    “Chắc chắn ta sẽ nhận được những lợi ích này như đã được thuyết giảng, bởi những lời Phật dạy không bao giờ hư dối.”
    Nếu hành giả phát sinh tà kiến và hoài nghi về tính xác thực của những lợi ích, và suy nghĩ với sự kiêu mạn: “Tôi đang kiểm soát vì tôi rất thông minh”, thì không có cách nào để nhận được những lợi ích và sự chứng ngộ.
    Liên quan đến điều này, tantra Yamantaka nói:
    “Với những bậc hiền minh không hoài nghi ý nghĩa của bản tánh phi thường, sự giác ngộ đã cận kề. Với những người khờ khạo có lòng sùng kính vững chắc, sự giác ngộ cũng gần kề. Tuy nhiên, nếu ta trở thành một kẻ lý sự ngu si, chao đảo trước chân lý của Giáo Pháp, thì sự giác ngộ còn xa vời.”
    Người ta có thể tự hỏi, “Nếu đây là sự thật, vậy tại sao Đạo sư Thích Ca Mâu Ni nói:
    “Hỡi các tu sĩ đã thọ cụ túc giới và những người có trí tuệ, không nên thực hành giáo lý của ta chỉ vì niềm tin. Tốt hơn là hãy truy xét cẩn thận những lời ta nói, giống như các ông muốn có vàng, thì đầu tiên phải nấu chảy nó, sau đó gọt chạm rồi đánh bóng; chỉ đến khi đó mới thực hành.”
    Nói chung, ngay cả với những giáo lý của Đức Phật, phải có thời gian để kiểm chứng các xác định và ẩn dụ. Tuy nhiên, có những vấn đề không thể tưởng tượng nổi và vượt lên sự truy xét của tranh luận trí thức. Mong muốn trở nên thanh tịnh bằng cách kiểm chứng với trí tuệ nhỏ nhoi thì chẳng khác gì việc hy vọng vượt qua Núi Tu Di bằng cách chui qua lỗ kim. Do đó, chắc chắn là bạn phải hiểu rằng việc khám phá ra những khía cạnh cực kỳ tăm tối của cuộc sống thì hoàn toàn tuỳ thuộc vào những giáo lý kinh điển đáng tin cậy.
    Chính vì thế, ngay trong Kinh Đức Phật Dược Sư Man Kyi Lha Bedurya có nói:
    “A Nan, ông có tin vào những thuyết giảng về các phẩm tính của các Đức Như Lai?”
    “Kính bạch Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tôn quý, Bậc Tiêu Trừ những hiểm nguy, con không hề nghi ngờ gì về giáo lý đã được Ngài thuyết giảng, bởi các Đức Như Lai không có chút bất tịnh nào trong các hành vi thuộc thân, khẩu, ý.”
    “Này A Nan, trí tuệ và hành vi của một vị Phật khó có thể tin được. Những gì ông đã tin tưởng và sùng kính phải được coi là nhờ vào năng lực của Đức Phật.”
    Hãy trì tụng những thần chú thâm sâu này hàng ngày cũng như lúc chết vào tai không chỉ đối với con người và cả với loài vật chẳng hạn như con ngựa bạn cưỡi. Ngoài ra cũng niệm chú trên xương hay tóc của người chết, và thậm chí trên lục, len, hay thịt mà họ dùng, hãy nghĩ tưởng tới chúng sinh đem lại sự thụ dựng; nghĩ tưởng tới vải vóc được làm ra từ những con tằm, len từ loài cừu, v..v..Tôi nghĩ điều này hết sức cần thiết để khỏi bị mắc nợ.
    Tôi khẩn cầu những người thông tuệ áp dụng các thực hành này, bởi chúng có những tham chiếu thanh tịnh, dễ thực hành và có ý nghĩa to lớn.
    Lời Bạt Của Tác Giả
    Nếu người có lòng từ bi mong muốn làm lợi ích cho chúng sinh sắp bị con quỷ vô thường khủng khiếp nhai nuốt, họ nên sử dụng phương pháp đã được Đức Phật thuyết giảng này.
    Khi cái thấy sinh động của đời sống này đột nhiên suy giảm và người ta thấy mình cô độc ở một nơi không quen thuộc và hỗn độn, hãy nghĩ: “Ngoại trừ Pháp, liệu có phương pháp nào đem lại lợi ích không?” Vì thế, trước khi con quỷ to lớn khủng khiếp không thể bị trì hoãn đó xuất hiện, điều rất đáng làm là nỗ lực sở hữu được Pháp là điều chắc chắn mang lại lợi lạc, nương tựa vào Guru (Đạo sư) và những Đấng tôn quý siêu phàm là những bậc dẫn dắt trên con đường trong những đời sau.
    Nhờ công đức của tác phẩm này, cầu xin con nhanh chóng giải thoát mọi bà mẹ chúng sinh, là những người mà thân xác đang bị sự vô thường nhai nuốt và đang kinh nghiệm những đau khổ không thể chịu đựng nổi trong đại dương luân hồi bao la vô hạn.
    Bản văn này có tựa đề Phương Pháp Làm Lợi Ích Chúng Sinh Vào Lúc Chết, Cứu Vớt Người Bất Hạnh được viết ra vì lý do (chưa nói tới chúng sinh bình thường đang chịu sự sai sử của thời buổi suy đồi hiện tại) tôi đã từng thấy một số người tự hào là bậc dẫn đạo nhiều chúng sinh trong luân hồi và là người khi tới bên giường một người hấp hối, nhưng đã không biết làm gì khác ngoài việc đặt những viên thuốc ban phước vào miệng người ấy. Ngoài ra, tôi cho rằng sẽ lợi ích cho một số người nếu tôi soạn ra những phương pháp này khiến chúng sinh có căn cơ thấp thỏi lẫn những người siêu phàm đều có thể thực hành dễ dàng.
    Bản văn này được viết ngay tại trung tâm Hoa Viên, bởi trung tâm Kusaili Dharma Vajra và được tỳ kheo Wagindra Shasenwarta ghi chép lại.
    Lời Khuyên của Lạt ma Thubten Zopa Rinpoche
    Với những người không thể làm được những thực hành này thì phương pháp làm lợi ích cho chúng sanh vào lúc chết có thể thực hiện đơn giản như sau:
    Hãy đọc những bài nguyện và thần chú sau đây vào tai người sắp chết, hoặc ngay cả những người đã chết:
    La.ma ton.pa chom.dan.da d’e.zhin.sheg.pa dra.chom.pa yang.d’ag.par dzog.pa sang.gya pal.gyal.wa shakya t’ub.pa.la ch’ag.tsal.lo kyab.su ch’i.wo ch’o.do j’in.gy’I lab.tu.sol chom.dan.da d’e.zhin.sheg.pa rin.ch’en tsug.tor.chan.la ch’ag.ts’al.lo
    Thần chú của Đức Phật Đại Bi:
    OM MANI PEME HUNG
    Thần chú Bánh xe Như ý cứu vớt chúng sanh khỏi những cõi thấp:
    OM PEMO USHNISHA VIMALE HUNG PHAT
    Thần chú của Ngài Milarepa ban sự tái sinh vào cõi tịnh độ Ngonga của Ngài:
    OM AH HUNG GURU HASA VAJRA SARVA SIDDHI PHALA HO
    Thần chú của Đức Liên Hoa Sanh ban sự tái sinh vào Núi Huy Hoàng Màu-Đồng Đó của Ngài
    OM AH HUM VAJRA GURU PADMA SIDDHI HUM.
    PHỤ LỤC
    NHỮNG LỢI ÍCH CỦA VIỆC TRÌ TỤNG
    THẦN CHÚ OM MANI PADME HUM
    Những lợi ích của việc trì tụng thần chú của Đức Phật Bi Mẫn thì thật vô biên, giống như bầu trời bao la vô hạn.
    Cho dù bạn không hiểu biết nhiều về Pháp, cho dù điều duy nhất bạn biết là Om Mani Padme Hum thì cuộc đời hạnh phúc nhất vẫn là cuộc đời sống với một thái độ giải thoát khỏi tám mối bận tâm thế tục. Nếu bạn sống cuộc đời mình với thái độ trong sạch thoát khỏi sự tham luyến với cuộc đời này và chỉ đơn thuần trải đời mình trong việc trì tụng Om Mani Padme Hum - thần chú sáu-âm này là tinh tuý của toàn bộ Giáo Pháp – thì đó là Pháp thanh tịnh nhất. Việc trì tụng có vẻ rất đơn giản, rất dễ dàng. Nhưng nếu bạn
    nghĩ tưởng về những lợi lạc của nó, thì điều đó không hoàn toàn đơn giản. Ở đây tôi sẽ chỉ đề cập tới cốt lõi của những lợi lạc vô biên của nó.
    Trì tụng thần chú của Đức Phật Bi Mẫn chỉ một lần sẽ hoàn toàn tịnh hoá sự gãy bể bốn giới nguyện gốc của Biệt Giải Thoát và năm nghiệp tiêu cực không bị gián đoạn.∗
    Trong các tantra cũng đề cập rằng bằng cách trì tụng thần chú này bạn thành tựu bốn phẩm tính để được sinh vào cõi Tịnh độ của Đức Phật A Di Đà và những cõi Tịnh độ khác; vào lúc chết được thấy Phật và ánh sáng xuất hiện trên bầu trời; chư thiên cúng dường bạn; và không bao giờ bị tái sinh trong các cõi địa ngục, ngạ quỷ hay súc sinh. Bạn sẽ được tái sinh trong cõi Tịnh độ của Đức Phật hay như một hiện thể tái sanh tốt lành.
    Khi một người trì tụng mười chuỗi thần chú một ngày bơi lội, dù trong sông, biển hay một vài thân thể sống trong nước nào khác, nước chạm vào thân người đó cũng sẽ được ban phước.
    Ta cũng được biết bảy đời tổ tiên (cửu huyền thất tổ) của người đó cũng không bị tái sinh trong các cõi thấp. Đó là nhờ năng lực của thần chú, thân được ban phước bởi những người trì tụng thần chú và quán tưởng thân họ trong sắc tướng của thân linh thánh như Đức Chenrezig (Quán Tự Tại). Vì thế, thân thể trở nên rất mạnh mẽ, tràn đầy ân phước đến nỗi nó tác động tới tâm thức cho tới bảy đời và kết quả là nếu người ấy chết với một niệm tưởng bất thiện, người ấy sẽ không bị tái sinh trong một cõi thấp.
    Vì thế, khi một người mà mỗi ngày từng trì tụng mười chuỗi Om Mani Pame Hum đi xuống sông hay biển, nước chạm vào thân người ấy được ban phước, và sau đó chất nước được ban phước đó sẽ tịnh hoá hàng tỉ tỉ chúng sinh trong nước. Người này cứu giúp những sinh vật trong nước đó thoát khỏi nỗi khổ không thể tưởng tượng nổi nơi các cõi thấp. Việc ấy thật lợi lạc đến mức khó tin.
    Khi một người như thế đi xuống một con đường, gió chạm vào thân người ấy và sau đó tiếp tục chạm vào những côn trùng, nghiệp tiêu cực của chúng được tịnh hoá và nhờ đó chúng có một tái sinh tốt đẹp. Tương tự như vậy, khi một người như thế xúc chạm vào thân người khác, nghiệp tiêu cực của những người đó cũng được tịnh hoá.
    Việc một người như thế nhìm ngắm thì thật đầy ý nghĩa; việc được nhìn và xúc chạm trở thành một phương tiện để giải thoát chúng sinh. Điều này có nghĩa là thậm chí hơi thở của người đó chạm vào thân của chúng sinh khác cũng tịnh hoá nghiệp tiêu cực của họ. Bất kỳ thân tướng nào uống nước trong đó một người như thế từng bơi lộ cũng được tịnh hoá.
    Chúng ta có may mắn lạ lùng là đã gặp được Pháp và có cơ hội để trì tụng và thiền định về Đức Phật Bi Mẫn. Đó là một phương pháp dễ dàng để tịnh hoá bất kỳ nghiệp tiêu cực nào mà ta từng tích tập, không chỉ trong đời này mà còn trong nhều đời trước nữa.
    Bởi chúng ta từng gặp được Phật Pháp và đặc biệt là phương pháp này - sự thực hành Đức Phật Bi Mẫn và trì tụng thần chú của Ngài – nó thật dễ dàng để tịnh hoá nghiệp tiêu cực và tích tập công đức rộng lớn và do đó thành tựu sự Giác ngộ. Chúng ta thật may mắn không ngờ.
    Như thế, chẳng còn gì ngu dại hơn việc không chịu sử dụng sự thuận lợi của cơ hội vĩ đại này. Nói chung, chúng ta liên tục xao lãng và phí phạm cuộc đời mình. Không chỉ có thế, mọi hành vi được làm với bản ngã và tâm thức nhiễm ô ba độc tham, sân và si
    ∗ Đây là những nghiệp nặng tới nỗi chúng lập tức chin mùi thành một tái sinh trong cõi địa ngục khi nghiệp đời này cạn kiệt.
    tạo nên nghiệp tiêu cực, là nguyên nhân của đau khổ. Trong cả cuộc đời, không còn gì ngu xuẩn hơn việc sử dụng thân người toàn hảo này chỉ để tạo nên đau khổ.
    Ở những nơi như Tây Tạng, Nepal, Ấn Độ, và Ladakh đã có một truyền thống tốt đẹp lâu đời là thực hiện khoá nhập thất Đức Phật Bi Mẫn và trì tụng 100 triệu thần chú Om Mani Padme Hum. Khoá nhập thất được tổ chức ở Viện Chenrezig là kỳ nhập thất như thế lần đầu tiên được tiến hành ở Tây phương và khoá nhập thất đầu tiên trong tổ chức FPMT (Tổ chức Bảo vệ Truyền thống Đại Thừa). Việc này xảy ra ở đó mỗi năm một lần - mỗi năm chỉ một lần!
    Nếu bạn bị dày vò bởi tội lỗi trong đời mình, bạn có thể khắc phục cảm xúc đó bằng sự tịnh hoá khi tham dự khoá nhập thất này. Khoá nhập thất không chỉ trì tụng thần chú với các sadhana, mà cũng bao gồm cả việc trì giữ Tám Giới luật Đại Thừa, nếu không mỗi ngày thì ít nhất cũng thường xuyên. Bất kỳ công đức nào mà bạn tích tập trong ngày đó sẽ tăng trưởng gấp 100.000 ngàn lần. Việc này trở nên một phương pháp dễ dàng và nhanh chóng tịnh hoá, tích tập công đức bao la, thành tựu sự Giác ngộ và giải thoát chúng sinh khỏi nỗi khổ không thể tưởng tượng nổi và mau chóng đưa họ tới sự Giác ngộ.
    Được tham dự một kỳ nhấp thất mani là một điều may mắn khó tin. Cho dù bạn không thể hiện diện trong toàn bộ khoá nhập thất, bạn cũng có thể tham dự hai tháng, một tháng hay ít nhất một vài tuần. Thậm chí bạn có thể chỉ nhập thất một tuần. Tôi đặc biệt hy vọng rằng khoá nhập thất này sẽ được tổ chức tại Mông Cổ, bởi thực phẩm chính của họ là thịt và quá nhiều thú vật bị giết mỗi ngày ở đó. Thực hành này trợ giúp để tịnh hoá điều đó. Sau khi các ngôi chùa của chúng tôi ở Mông Cổ được xây dựng xong, tôi hy vọng rằng hàng ngàn người sẽ tham dự các kỳ nhập thất mani tại đó. Dần dần, tôi mong khoá nhập thất này cũng được tổ chức ở nhiều nơi khác tại phương Tây.
    Khoá nhập thất này cũng ban phước cho quốc gia nơi nó được tổ chức và đem lại rất nhiều sự an lạc, hạnh phúc và thịnh vượng.
    Cho dù bạn hiểu biết giáo lý về cách thiền định về Bồ Đề Tâm, bạn vẫn cần thọ nhận những ân phước đặc biệt của vị Bổn Tôn, Đức Phật Bi Mẫn. Bạn nhận những ban phước này bằng cách thực hiện việc thiền định và trì tụng mà cúng tôi thực hành trong khoá nhập thất mani. Như thế, việc trì tụng Om Mani Padme Hum là một phương pháp thể nhập Bồ Đề Tâm - để chuyển hoá tam bạn thành Bồ Đề Tâm và làm cho việc bạn thiền định về Bồ Đề Tâm được hiệu quả.
    Nói chung, theo kinh nghiệm của tôi, ở trụ xứ của tôi tại Solu Khumbu trong rặng Hymalayas ở Nepal, có những người sống cuộc đời họ trong việc trì tụng Om Mani Padme Hum nhưng không có ý niệm nào về tánh Không – ngay cả trên chữ nghĩa. Mặc dù họ không thể đọc và thậm chí không biết vần abc, họ có một lòng sùng mộ vĩ đại đối với lòng bi mẫn và Bồ Đề Tâm và sống cuộc đời họ trong việc trì tụng Om Mani Padme Hum. Những người như thế có một trái tim nồng nhiệt, hết sức tốt lành, vô cùng bi mẫn. Đây là một bằng chứng từ kinh nghiệm của tôi rằng nó hữu hiệu trong việc chuyển hoá tâm thức thành một trái tim thiện hảo và bi mẫn.
    Không có Bồ Đề Tâm, bạn không thể đem lại hạnh phúc cho mọi chúng sinh. Bạn không thể thực hiện những công việc tàon hảo cho tất cả chúng sinh; và bạn không thể thành tựu những phẩm tính toàn thiện của những sự chứng ngộ và ngừng dứt, thậm chí cho chính bạn.
    Như thế, mọi người sẽ rất được hoan nghênh khi tham dự khoá nhập thất 100 triệu thần chú Om Mani Padme Hm.
    Lạt ma Thubten Zopa Rinpoche

    Read more »
  • Lời Phật Dạy Ca Hát Tứ Chúng, có nên hay không?

     

    LỜI PHẬT DẠY VẪN CÒN KHẮP 10 PHƯƠNG. TU HÀNH KIỂU NÀY LÀM SAO THUYẾT PHÁP ĐỘ CHÚNG SANH.

    Này các tỳ-khưu, đây là năm điều bất lợi khi ngâm nga giáo pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài. Này các tỳ-khưu, không nên ngâm nga giáo pháp theo âm điệu ca hát với sự kéo dài; vị nào ngâm nga thì phạm tội dukkata (tác ác) – (Luật tạng, Tiểu phẩm).

    TU HÀNH KIỂU NÀY CHẮC MAU GIÁC NGỘ, KHÔNG HIỂU LUÔN

     

    Read more »
  • Chuyễn hướng tâm - Tu tập Bồ Đề Tâm

    Bốn tư tưởng chuyển hướng tâm có trong các kinh, về sau được các đại sư Ấn Độ đúc kết lại để thành một phần của những thực hành sơ bộ. Hiện giờ bốn tư tưởng này trong Phật giáo Tây Tạng là do đại sư Ấn Độ Atisha ( khoảng 982 – 1054) qua dạy ở Tây Tạng và được viết ra trong Ngọn đèn của con đường giác ngộ và các tác phẩm khác của ngài. Atisha là một trong những vị quan trọng nhất đã đem Phật giáo vào Tây Tạng. Từ phái Kadam do chính ngài lập ra, bốn tư tưởng chuyển hướng tâm được phổ biến trong tất cả bốn phái Tây Tạng hiện nay, là một phần trong những thực hành sơ bộ cho cả bốn phái.

    Bốn tư tưởng chuyển hướng tâm là sự phản tỉnh, phản tư trên chính cuộc đời mình để xoay hướng nó đến mục tiêu đích thật của cuộc đời mỗi người, đồng thời là động lực để thúc đẩy con người đi đến đó. Mục tiêu này này là sự giải quyết cho những câu hỏi muôn đời của nhân loại : Chúng ta từ đâu đến, chúng ta sống để làm gì, và chết chúng ta đi về đâu.

    1/ Vô thường và cái chết

    Đây là điều chúng ta thấy hàng ngày, trước mắt, nhưng không muốn nhớ, thành thử luôn luôn quên.

    Khi nghiêm túc suy nghĩ trở lại cuộc đời mình, ai cũng thấy mình có được nhiều thứ sở hữu. Chúng ở với chúng ta một thời gian rồi đi hay hư hoại mất. Được để rồi mất, đó là số phận của mỗi người chúng ta. Như một sự thật mà đạo Phật đã nêu ra, cái gì có sanh thì cái ấy có diệt. Thành thử được nhiều bao nhiêu thì mất nhiều bấy nhiêu. Cho đến cuối cùng, cái chết là sự mất tất cả. Cuộc sống của chúng ta mong manh và ảo tưởng biết bao nhiêu: chúng ta chỉ nhớ cái đang được và quên cái đã mất.

    Nhìn lại hôm qua, hôm kia, chúng ta thấy mình đã mất một số điều, của cải có, tình cảm có, sự vật cũng có. Mất vì chẳng có không gian nào thời gian nào lập lại được. Những cái đó qua đi, không bao giờ trở lại như cũ được, bởi thế con người mới có danh từ “kỷ niệm”.

    Thời gian của con người là thời gian hướng về cái chết. Chẳng phải văn chương, triết học, tôn giáo của loài người đều nói đến những cảm xúc như vậy sao? Nhìn sâu xa, tất cả những việc làm của con người để tạo ra văn hóa và văn minh đều nhằm chống lại cái chết. Đó không phải là một quan niệm bi quan, mà là sự thật, một vấn đề lớn nhất mà con người phải đối mặt, dầu có muốn giả lơ, quên đi bằng những hoạt động hay giải trí để xao lãng.

    Nhưng không thể nào bỏ qua được. Mỗi ngày xé đi một tờ lịch là mất đi một ngày, mà không có Thượng đế nào, thần linh nào lấy lại được cho chúng ta, dán lại tờ lịch đó cho chúng ta được. Mỗi giây phút qua đi, đối với đời người thì không thể nào lấy lại.

    Khi thấy cuộc đời mình cứ trôi đi như một dòng sông không thể nào giữ lại, lúc ấy người ta có thái độ nghiêm túc với cuộc đời mình: chúng ta sinh ra để làm gì, rồi sẽ đi về đâu. Khi ấy Phật pháp sẽ là câu trả lời cho vấn đề này, vì lý do tồn tại của đạo Phật là để giải quyết cho con người về vấn đề sanh tử này. Lúc đó, Phật pháp mới “ thiết thực hiện tại”, mới là sự thực hành, là sự sống trong mỗi hơi thở của chúng ta. Lúc đó cuộc đời vô thường này mới tìm lại được ý nghĩa thật sự của nó: nó là phương tiện duy nhất chúng ta đang có để đạt đến cái mà đạo Phật gọi là giải thoát khỏi sanh già bệnh chết, cái bất tử, cái không sanh không diệt.

    Vô thường và cái chết là một động cơ lớn để giải thoát. Trong đạo Phật, nhớ nghĩ đến cái chết là một trong Sáu Niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niêm Tăng, niệm thí, niệm chư thiên và niệm cái chết.

    2/ Nhân quả nghiệp báo

    Nói cuộc đời là vô thường nhưng trong tính chất vô thường đó, vẫn có định luật nhân quả vận hành đời sống. Đời sống là vô thường nhưng không phải vì thế mà ngẫu nhiên, may rủi, tùy tiện. Không có cái gì tự nhiên mà có, nó có đó là vì có những nhân đã tạo ra nó. Một cảm xúc vui buồn, thậm chí dai dẳng, không thể tự nhiên từ trên trời rớt xuống, nó có những nguyên nhân trước đó, nhiều khi xa xôi đến không thể nhớ lại được.

    Nhân nào có sanh ra rồi cũng có lúc diệt, quả nào đã thành rồi cũng phải hoại. Bởi vì có sự sanh diệt của nhân quả mà có sự vô thường của cuộc đời. Cho nên, đời sống vô thường vì có định luật nhân quả, và vì có định luật nhân quả nên đời sống là vô thường.

    Định luật nhân quả nghĩa là hành động nào dù tốt dù xấu cũng là một nhân, và nhân đó sẽ sinh ra quả, dù sớm hay muộn. Thế nên, trong đời sống hàng ngày, chúng ta cần tránh tạo những nhân xấu và cố gắng tạo những nhân tốt, tức là hành động của thân, khẩu, ý tốt để cuộc đời chúng ta được thoải mái, như ý.

    Nhưng nhân quả tốt đến đâu cũng chỉ đưa chúng ta đến cao nhất là hưởng những phước báo cao cấp của cõi người hay các cõi trời, mà những cõi này vẫn nằm trong sanh tử, nghĩa là trong vô thường và cái chết. Còn vì mê lầm, tham lam, oán giận, ghen ghét mà tạo ra những nhân xấu thì sẽ phải chịu những quả báo xấu trong những cõi thấp, tối tăm và khổ đau.

    Nhân quả nghiệp báo đưa chúng ta đến một xác quyết: có đời trước và đời sau. Có những đời trước mới có quả xấu tốt hưởng trong đời này, và có những đời sau để cho những nhân đời này trổ quả. Khi nhận định rằng có đời trước và đời sau, chúng ta thấy rằng mọi đời của chúng ta đều do sự chọn lựa của chúng ta. Chúng ta trách nhiệm về tất cả đời kiếp của mình.

    Sự thực hành của đạo Phật, những tiến bộ tâm linh cũng dựa trên nhân quả. Đạo Phật là sự tích tập trí huệ và công đức, sự tích tập này dựa trên định luật nhân quả.

    Định luật nhân quả nghiệp báo tạo ra ba cõi sinh tử. Cho nên còn sống trong ba cõi thì còn chịu sự thống trị của nhân quả, do đó mà vẫn chưa được tự do.

    Như vậy mục đích của đời người là đạt đến tự do, giải thoát khỏi ba cõi. Nhưng không phải giải thoát khỏi ba cõi là hủy hoại ba cõi, như một số tôn giáo chờ đợi ngày tận thế. Cũng không phải ra là khỏi ba cõi theo nghĩa đen. Mà giải thoát thực sự khỏi ba cõi, theo đạo Phật, là thấy được bản chất của ba cõi là tánh Không, do đó ở ngay nơi ba cõi mà giải thoát khỏi, tự tại với ba cõi.

    3/ Những khuyết điểm và nguy hiểm của sanh tử luân hồi

    Khuyết điểm của sanh tử mà ai cũng thấy là sanh già bệnh chết không thể tránh. Càng nguy hiểm hơn là chúng ta không ý thức về điều đó. Khuyết điểm của sanh tử là sự bất toại nguyện. Những niềm vui, hạnh phúc tạm thời rồi sẽ qua đi, chúng ta lại đi tìm niềm vui và hạnh phúc tạm thời khác. Như thế cho đến suốt đời. Nhưng tại sao chúng ta chúng ta cứ đi tìm mãi hạnh phúc và cả khổ đau, tâm chúng ta cứ loạn lên chẳng bao giờ dừng nghỉ được? Bởi vì thật sự bên trong chúng ta là sự trống rỗng mà tất cả niềm vui nỗi khổ, công ăn việc làm của cả một đời cũng không thể lấp đầy. Bất toại nguyện lớn nhất của chúng ta là sự trống rỗng của chúng ta, trống rỗng đến độ cả thế gian này cũng chẳng thể lấp đầy nó.

    Và nguy hiểm là chúng ta không hề biết điều đó, nhọc nhằn, vô ích cả một đời để mong lấp đầy được hư không. Trong quá trình tự lấp đầy này, chúng ta tạo ra bao nhiêu hành động, tốt có xấu có, nghĩa là bao nhiêu nghiệp. Chúng ta có thể nhọc nhằn vô vọng nhiều đời mà không thể lấp đầy chính mình được, cho đến một ngày nào chúng ta bắt đầu nhận ra một sự thật mà đạo Phật đã nói từ hàng ngàn năm nay. Chúng ta không thể lấp đầy mình được, bởi vì chúng ta là trống rỗng, không có một cái tôi nào cả để có thể được lấp đầy. Đây là sự thật rằng không có một cái tôi, sự thật rằng tất cả chúng sanh đều vô ngã.

    Cái nguy hiểm là chúng ta không biết sống như thế nào cả, không biết những định luật nào cai quản đời sống cả. Sự không biết này đạo Phật gọi là vô minh. Trong khi chỉ với Tám Chánh Đạo, bao gồm toàn bộ thân khẩu ý, nghĩa là bao gồm toàn bộ cuộc sống, người ta mới biết thế nào là sống đúng, sống đường chánh. Và nếu ứng dụng tám con đường chánh này đến mức tinh vi, thì đó cũng là những con đường đưa đến tự do, giác ngộ.

    Thế nên có những khuyết điểm và những nguy hiểm bởi vì chúng ta không biết. Sự không biết này bao trùm toàn bộ cuộc sống của chúng ta, biến nó thành mê lầm, hư hỏng. Chúng ta mù lòa, không thấy gì, vì không có Chánh kiến; chúng ta không suy nghĩ đúng được vì chúng ta không có Chánh tư duy; chúng ta tạo ra những lỗi lầm vì không có Chánh hành động hay chánh nghiệp… Nhờ có Pháp, là những lời dạy của bậc Giác ngộ, mà tạm thời chúng ta ít lỗi hơn, như người mù có cây gậy dò đường. Nhưng pháp chỉ thực sự là Pháp khi nhờ nó mà chúng ta sáng mắt, khi nó trở thành chính mạng sống của chúng ta, chính đời sống của chúng ta. Lìa bỏ nó, chúng ta lại rớt vào bóng tối của vô minh, của cái chết.

    4/ Sự quý báu của đời người.

    Ở trên chỉ là những suy nghĩ ngắn gọn của chúng ta, bởi vì đời sống sẽ dạy và nhắc nhở cho ta mỗi ngày về ba điều ấy. Nhưng chỉ suy nghĩ bấy nhiêu cũng đủ thấy cuộc sống chúng ta đang sống đây là đáng quý, vì chính nhờ cuộc sống này mà chúng ta đối phó và giải quyết được ba vấn nạn ấy.

    Con người được cho là có khả năng nhất để khắc phục, vượt qua những giới hạn, khổ đau của cuộc đời trong sanh tử. Con người có thể Nghe (Văn), Tư duy (Tư) và Thực hành (Tu) để vượt thoát những vấn nạn của sanh tử. So với những loài khác, như loài vật chẳng hạn, chúng không thể nghe và tư duy cái gì là sự thật chứ chưa nói đến thực hành. Với loài trời (chư thiên), vì quá nhiều hạnh phúc và sống rất lâu nên cũng khó phản tư về những điều như vô thường, khổ, và cái chết. Cuộc sống con người ngắn hơn nhiều, biến đổi nhanh chóng hơn nhiều, nên vô thường, khổ và cái chết là chuyện có thể thấy hàng ngày.

    Ngày nay, loài người đã tiến rất xa và rất nhanh so với cách đây mấy ngàn năm, với đủ loại môn nghiên cứu, đủ loại thành tựu, nhưng những vấn nạn của con người như khổ đau và cái chết vẫn chưa được giải quyết. Và có lẽ mãi mãi không được giải quyết, vì đó là thân phận con người. Đã sanh làm người thì phải có và phải chịu những điều đó. Mọi nhu cầu của cuộc sống hiện nay đều có các chuyên gia đáp ứng và giải quyết, xây nhà thì có kiến trúc sư, tạo một khu vườn thì có người trang trí ngoại thất, bệnh tật thì có bác sĩ, đi du lịch thì có các hãng lữ hành lo cho, kiện tụng thì có luật sư … Mọi nhu cầu đều được đáp ứng, chỉ những điều trên là không có môn ngành nào giải quyết được. Chính vì lý do đó mà đạo Phật vẫn tồn tại trong một thế giới dư thừa sự đáp ứng, dư thừa các giải pháp cho cuộc sống con người.

    Thế nên, được sanh làm người là điều quý báu để kinh nghiệm những khổ đau và biết được Pháp, con đường giải quyết mọi vấn nạn không thể giải quyết của số phận làm người.

    Khi thấy những may mắn thuận lợi đó, con người không bỏ lỡ cơ hội nghe, tư duy và thực hành Pháp, để ít nhất, đời sau vẫn có cơ hội làm người với những hoàn cảnh thuận lợi, và hơn nữa, để tìm ra giải pháp tối hậu giải quyết cho mọi vấn nạn của sanh tử. Càng thấy rõ các vấn nạn trên, người ta càng quyết tâm biến cuộc đời mình thành có ích lợi nhất, vì Pháp là cách giải quyết duy nhất cho thân phận con người, như đã chứng tỏ suốt dòng lịch sử nhân loại.

    II. Động lực thúc đẩy và tiêu trừ bệnh tật trong tâm

    Bốn tư tưởng chuyển hướng tâm là động lực để người ta tinh tấn giải quyết số phận mình. Sự nỗ lực trong từng phút từng giây, như “cứu lửa cháy trên đầu”. Càng thấm nhuần bốn tư tưởng trên, người ta càng bám chặt vào Pháp, như chiếc phao duy nhất trên dòng nước xiết của cuộc đời sanh tử.

    Bốn tư tưởng trên còn giữ gìn cho chúng ta khỏi những bệnh tật trong tâm khiến xao lãng, lạc khỏi con đường.

    Như một điều dĩ nhiên, con người sinh ra ai cũng đi dưới sự thúc đẩy của tiền, tình, danh, lợi… Xã hội càng tuyên truyền khiến những cái quyến rũ của cuộc sống thế gian càng thêm ám ảnh. Khi thấy tất cả mọi thành công trong cuộc đời không thể nào giải quyết những vấn nạn trên, người ta nghiên cứu và thực hành Pháp. Nhưng người ta đi vào con đường đạo mà vẫn mang theo con người xưa cũ của mình, những khuyết điểm của mình, những bệnh tật trong tâm của mình. Thế nên thay vì cạnh tranh ở cuộc sống thế gian, người ta tiếp tục cạnh tranh trên con dường giải thoát: tôi phải thực hành nhiều hơn mấy người kia, tôi phải giỏi kinh điển, phải niệm Phật, trì chú, ngồi thiền…hơn những người khác.

    Như trong một đoạn kinh Viên Giác, Đức Phật nói:

    Thiện nam tử! Chúng sanh đời mạt thế hy vọng thành đạo mà chẳng cầu ngộ Đạo, chỉ thêm học nhiều, khiến tăng trưởng thêm cái tôi. Phải tinh tấn hàng phục phiền não, khởi dũng mãnh lớn, những pháp chưa đắc phải khiến cho đắc, những cái chưa đoạn trừ phải đoạn trừ. Tham, sân, si, yêu thích, kiêu căng, tà vạy, đố kỵ… đối cảnh không sanh, ta người, yêu ghét tất cả đều lặng dứt. Phật nói người này sẽ thứ lớp thành tựu. Hãy cầu thiện tri thức để chẳng rơi vào tà kiến. Còn nếu đối với đạo mà sanh yêu ghét riêng tư thì chẳng thể vào biển Giác thanh tịnh.(chương Tịnh Các Nghiệp Chướng).

    Bốn tư tưởng chuyển hướng tâm làm cho người ta không rơi vào những khuyết điểm, bệnh tật trong tâm mình. Chúng làm chúng ta khỏi sa vào các bệnh mà kinh Viên Giác nói là “nhận giặc làm con”. Chúng khiến chúng ta chuyên tâm vào thực hành, không mắc kẹt, vướng bận trong tám mối bận tâm của thế gian hay tám ngọn gió thế gian: lợi, hao; vinh, nhục; khen, chê; sướng, khổ.

    III. Lòng bi

    Khi những tư tưởng trên đã thấm vào tâm thức, trở thành một phần của cuộc sống, giúp chúng ta tạm định hướng và có những chọn lựa đúng đắn cho cuộc đời mình, thì nhìn chung quanh, những người khác còn đang không biết sống thế nào, để làm gì, không tìm ra lối thoát, dễ dãi để cho những kẻ thù quyến rũ và thống trị. Nhìn cuộc đời họ, sống như những nạn nhân của sanh tử, tự nhiên chúng ta cảm thấy xót thương. Người khác đang tiêu phí cuộc đời họ một cách vô vọng, không biết làm gì khi đang trôi trên dòng nước đến bờ vực của cái chết. Họ không biết cái gì là những nguy hiểm của cuộc đời đang sống, đã vậy còn ngây thơ vui đùa, như kinh Pháp Hoa nói, “như những đứa trẻ vui chơi trong căn nhà lửa sắp sập”.

    Khi đã có được sự phản tư để có chút sáng tỏ trong tâm, nhìn ra cuộc đời, mọi người đều không hay biết gì về bốn điều trên, người báo động cảnh tỉnh thì ít và cũng ít ai nghe trong cơn vui chơi tập thể này, tự nhiên chúng ta khởi sanh sự thương xót hay lòng bi. Khi nhìn thấy người khác đang trốn chạy một cách vô vọng, trong tình yêu, danh vọng, tiền bạc, quyền thế… nhưng tất cả đều không giải quyết được gì, bản án tử hình vẫn còn đó, bản án mất tất cả vẫn còn đó… người thực hành đạo Phật tự nhiên có lòng bi. Một lòng bi không thể chịu đựng được, không thể nào đè nén nổi. Người đó không còn biết làm gì hơn là sống trọn vẹn hơn theo Pháp và nỗ lực quảng bá con đường thoát thân cho tất cả mọi người. Người đó trở thành một chiến sĩ, nỗ lực giải thoát cho mình đồng thời tìm cách giải thoát cho người, giác ngộ cho mình đồng thời giác ngộ cho người.

    Nhờ bốn tư tưởng chuyển hướng tâm và là động lực thực sự vì mình và vì người như thế, tâm người ta trở nên bao la trùm khắp, đến độ tấm lưới thời gian và cái chết không còn đủ rộng lớn để phủ chụp và bắt giữ một người như vậy nữa.

    SOURCE TVHS

    Read more »
  • Các tôn giáo lớn trên Thế Giới.

    NIỀM TIN CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ.

    Con người xuất hiện trên trái đất này phải đối diện với biết bao nỗi lo sợ về thiên tai, lụt lội, sấm sét, động đất, núi lửa, bảo tố, bệnh tật, đói nghèo làm cuộc sống vốn đã khó khăn càng thêm khổ sở và ảnh hưởng đến sự sống chết của họ. Lúc khoa học chưa xuất hiện, con người  không thông hiểu sự biến dịch, vận hành nên nỗi lo sợ là tác động khiến họ cố gắng tìm kiếm những lời giải thích, câu trả lời cho những hiện tượng liên quan đến đời sống của họ vì thế mà tôn giáo được ra đời.


    Nhưng nếu tôn giáo đã có những câu trả lời cho những vấn đề sống chết của thế nhân thì tại sao con người vẫn cần đến khoa học?


    Vì không thể giải thích những hiện tượng sinh diệt của thế gian một cách hợp lý, khách quan nên những tôn giáo thờ Thượng đế hoặc đấng Phạm thiên vội kết luận đó là do những tha lực ngoài khả năng của con người, như của Thượng đế, thần thánh…Về sau có những triết gia Đông Tây rất lỗi lạc cũng cố gắng tìm câu trả lời bằng cách phân tách và lý luận mà rốt cuộc vẫn nằm trong vòng lẩn quẩn chớ không thể kiểm chứng được. Sau cùng khoa học vì không chấp nhận những lối giải thích cứng ngắc, không hợp lý và thiếu nhân quả nên họ tách rời tôn giáo, tách rời triết học mà tự lập cho mình một con đường mới để tìm câu trả lời thiết thực về những hiện tượng của nhân sinh vũ trụ. Khoa học tuy tiến rất xa trong những thế kỷ vừa qua, nhưng con đường để có một câu trả lời hay một phương trình vật lý cho vũ trụ có lẽ vẫn còn xa lắm. Đáng lý ra khoa học có thể giúp con người thấu hiểu nhân sinh vũ trụ rõ ràng hơn, nhưng những nghiên cứu và phát minh mới cũng không ngoài mục đích phục vụ đời sống thêm tiện nghi, sung túc làm tăng trưởng lòng tham-sân-si khiến cho con người tiếp tục sống trong điên đảo khổ đau. Vì thế mà Arthur Eddington một khoa học gia rất nổi tiếng người Anh, người đã tìm ra phương cách để chứng minh thuyết vật lý của Einstein cũng đã tuyên bố như sau :


    “Khoa học không có khả năng dẫn dắt con người đến chân lý, mà khoa học chỉ có thể dẫn con người đến cái bóng của những ký hiệu”.


    Khác hẳn với những tôn giáo lớn khác trên thế giới đã cột chặt con người vào những giáo điều cứng ngắt để thọ lãnh những thưởng phạt bất công, đạo Phật luôn khuyến khích chúng sinh tự mình chứng ngộ chân lý, tự mình thể nghiệm Niết bàn, tự mình có được giải thoát giác ngộ mà đạo Phật chỉ là con đường, là phương tiện, là cổ xe để giúp chúng sinh đạt đến những cứu cánh tối thượng này.


    Tôn Tử ngày xưa nói rằng : ”Tri kỷ tri bỷ, bách chiến bách thắng” nghĩa là biết người biết ta, trăm trận trăm thắng cho nên có biết người mới biết con đường mình đi là đúng, là có giải thoát giác ngộ. Không phải ngày nay mới thấy có nhiều tôn giáo mà vào thời Đức Phật tại thế đã có gần trăm dị phái tư tưởng khác nhau. Vì thế đạo Phật là một tôn giáo duy nhất vô tiền khoáng hậu trong lịch sử nhân loại không tin vào thần linh mà chỉ chú trọng vào thực hành để có thực chứng. Đức Phật đã cách mạng hóa sự tin tưởng mù quáng mà nhắm mắt gởi gắm linh hồn của mình vào nơi vô định. Vì thế một khi hiểu biết những tôn giáo khác thì chúng ta càng kính ngưỡng Đức Phật và giáo lý nhiệm mầu của Ngài đã giúp con người tự mình giải thoát ra khỏi mọi hệ lụy của phiền não khổ đau để có an vui tự tại ngay bây giờ và bất cứ nơi nào. Phần lớn, những đại đệ tử Phật đều xuất thân từ đạo Bà la môn, một tôn giáo cao quý nhất trong xã hội Ấn Độ thời bấy giờ. Thế mà khi Đức Phật xuất hiện với tư tưởng bình đẳng, tự giác giác tha của Ngài đã đánh bại tất cả. Mặc dù trải qua không biết bao nhiêu thăng trầm, Phật giáo vẫn sáng soi chiếu rọi, khai tâm mở tánh hàng triệu triệu chúng sinh khắp năm châu bốn bể.


    Tôn giáo trên hoàn cầu thì rất nhiều, nhưng trong khuôn khổ nhỏ hẹp này, chúng tôi chỉ lượt qua những tôn giáo chính.
     

    1) Đạo Do Thái (Du già giáo) :

    Đạo Thiên Chúa phát xuất bên Do thái mà Tổ phụ là ông Abraham khoảng 2000 năm trước công nguyên được gọi là  Do thái giáo (đạo Du già). Khoảng 1000 năm trước công nguyên khi các vua Ai Cập cố tình đàn áp dân Do thái như cấm họ lấy vợ đẻ con và làm một số nghề nghiệp, anh hùng Moise xuất hiện để đưa dân Do thái từ Ai Cập đến vùng đất hứa tức là nước Do thái ngày nay. Tuy Moise dẫn dân Do thái từ Ai Cập đến vùng đất hứa, nhưng ông chết trước khi vào được vùng đất này. Trong cuộc hành trình đầy dẫy khó khăn đó, chính Moise đã lên núi Sinai và ở lại trên đó 40 ngày. Khi xuống núi ông đem theo hai khối đá có khắc 10 điều thánh lịnh làm nền tảng cho cuộc sống của người Do thái và cũng là khuôn mẫu cấu trúc xã hội cho những quốc gia theo Thiên chúa giáo hiện nay. Trong mười điều thánh lịnh thì năm điều dạy con người về đạo làm người và năm điều dạy con người tôn vinh Thượng đế. Sau khi đến được vùng đất hứa, dân Do thái bắt đầu chia rẽ thành những bộ tộc riêng, đến khi vua David thống nhất 12 bộ tộc để làm thành một quốc gia và họ chọn Jesusalem (nghĩa là hòa bình) làm thủ đô. Vua David chết, con là Salomon lên thay là vị vua mạnh nhất với lực lượng quân sự hùng hậu để chinh phục chư hầu. Ông xây đền Temple với trên 150,000 thợ xây liên tiếp trong 7 năm mới hoàn tất. Vì là danh tướng, chinh phục khắp nơi nên ông cũng nổi tiếng có tới 700 bà vợ và trên 300 bà thứ thiếp từ những giống dân khác nhau. Kinh Torah là Thánh kinh cựu ước còn những Thánh kinh sau thời Chúa Giê-Su là tân ước. Đối với đạo Do thái thì lễ Sabbat rất quan trọng vì dựa theo Thánh kinh là khi Thượng đế dùng 6 ngày để tạo ra con người và thế giới thì ngày thứ 7 tức là ngày chủ nhật Ngài phải nghĩ ngơi để dưỡng sức.


    Kinh thánh Cựu ước có tất cả 46 cuốn kể về những chuyện trước khi Chúa Giê-Su ra đời. Bộ này chia làm bốn tập :


    1)     Tập 1 gồm 5 cuốn Thánh kinh đầu tiên : Sáng thế ký, Xuất hành ký, Lê vi ký, Dân số ký và Thân mệnh ký.


    2)    Tập 2 là bộ sử thư gồm 16 cuốn.


    3)    Tập 3 gồm 7 cuốn là những thi ca triết học.


    4)    Tập 4 gồm 14 cuốn sách tiên tri.
     

    2) Thiên Chúa giáo :

    Vào thời Chúa Giê-Su, nước Do thái nằm dưới sự bảo hộ của đế quốc La Mã với Hoàng đế Auguste. Chính sách bảo hộ của La Mã bày ra rất nhiều loại sưu cao thuế nặng và cấm dân Do thái không được tiếp tục truyền thống cắt da quy đầu cho trẻ em. Trong khi đó người giàu có không còn quan tâm đến việc tôn giáo. Tệ hại hơn nữa, mọi người quá bất mãn về những hành động xá xí và thụ động của những giáo sĩ Rabbi. Trong hoàn cảnh đó, La Mã lại cử viên Thái thú mới tên là Ponce Pilate để thay thế Gratius. Ponce Pilate được Hoàng đế Auguste cho phép toàn quyền quyết định về an ninh, chính trị, thuế vụ và tòa án tại Do thái. Trong hoàn cảnh đó, Chúa Giê-Su bắt đầu đi giảng đạo khi Ngài 30 tuổi và địa bàn hoạt động chỉ chung quanh nơi sanh trưởng của Ngài tức là vùng phía bắc Palestine trong khi người anh em chú bác John the Baptist, người đã làm phép rửa tội cho Chúa Giê-Su trên dòng sông Jordan thì hoạt động ở miền Nam. Vài tháng sau John bị bêu đầu nên Chúa Giê-Su thay thế John.

    Chúa Giê-Su tự xưng mình là con của Thượng đế và sau khi  gây xáo động tại đền thờ Temple, Ngài bị bắt và bị đóng đinh trên thập tự giá vào năm 37 tây lịch chỉ sau khi Ngài hoạt động được 3 năm. Lúc đó Ngài vừa 33 tuổi. Khác với Đức Phật lúc nào cũng có trên ngàn đệ tử quanh Ngài, Chúa Giê-Su chỉ có 12 môn đệ. Ngày nay những quốc gia Tây phương thường kỵ ngày thứ sáu thứ 13 của mỗi tháng. Có nhiều lối giải thích cho vấn đề nầy, nhưng phần lớn đều đồng ý rằng thứ sáu là ngày Chúa bị đóng đinh và con số 13 ám chỉ cho người đệ tử thứ 13 là Ju-Đà đã bán Chúa cho đế quốc La Mã. Ba mươi bảy năm sau đó, toàn dân Do thái đồng lòng nổi dậy chống lại đế quốc La Mã. Kết quả là dân Do thái đã bị đế quốc La Mã tàn sát khoảng một triệu người, toàn diện ngôi đền Temple mà vua Salomon đã xây dựng bị tiêu hủy và dân Do thái bị lưu vong khắp thế giới cho mãi đến năm 1948. Dựa vào những dữ kiện lịch sử đó, có những sử gia danh tiếng sau này có đặt câu hỏi rằng thật sự Chúa Giê-Su có phải là nhà lãnh đạo tôn giáo hay chỉ là nhà cách mạng để đánh đuổi đế quốc La Mã ra khỏi đất nước của Ngài?


    Ba trăm trăm năm trước, chính đế quốc La Mã đã đóng đinh Chúa Giê-Su, nhưng khi đế quốc này đang trên đà suy vong thì Hoàng đế Constantine lại cải đạo và thiết lập tòa thánh Vatican tại Rome (La Mã tức nước Ý) vào năm 324 sau công nguyên cho đến ngày nay và tất cả những vị Giáo Hoàng đều là người Ý cho đến những thập niên gần đây mới có Giáo Hoàng người Ba Lan (John Paul II) và Đức (Benedict). Thật ra người có công lớn nhất trong việc bành trướng đạo Thiên Chúa giáo là ông Paul (Phao Lô). Ông Pual không phải là người Do thái, sanh tại Tarse thuộc nước Thỗ Nhĩ Kỳ, nhưng ông lớn lên tại Damas thuộc nước Syrie bây giờ. Ông nói tiếng Hy Lạp và mang quốc tịch La Mã. Ông không phải là môn đồ của Chúa Giê-Su và chưa bao giờ gặp mặt Chúa khi Ngài còn sống. Ông đề xướng đạo Thiên Chúa giáo là cho tất cả mọi người chớ không chỉ dành riêng cho dân Do thái nên ông dùng đường biển để truyền bá phúc âm khắp vùng Địa trung hải cho đến lúc bị La Mã chặt đầu ở hải cảng Ostie. Quan điểm của ông chính là khúc quanh lịch sử của đạo Thiên Chúa giáo bởi vì cho đến ngày nay đạo Do thái (đạo Du già) và ngay cả người Do thái vẫn không chấp nhận Chúa Giê-Su là đấng cứu thế và đạo này chỉ dành riêng cho dân Do thái. Trong một cuộc cãi vã lớn giữa em của Chúa Giê-Su là James và ông Paul tại thành Jesusalem, James nói rằng : ”Trong suốt ba năm truyền giáo, anh ta không bao giờ có ý định thành lập một tôn giáo mới, mà Ngài chỉ muốn cải tạo, sửa đổi đạo Do thái mà thôi”. Vì Paul không phải là người Do thái nên ông cực lực phản đối và khẳng định rằng cho dù là người Do thái hay không đều có quyền gia nhập đạo mới tức là Thiên Chúa giáo. Đạo Thiên chúa giáo có bốn bộ Thánh kinh gọi là “Tân ước” như sau:
     

    1) Matthew : kinh này được viết khoảng 50 tới 70 năm sau công nguyên. Đây là cuốn Thánh kinh có lẽ là hoàn hão nhất viết về trọn cuộc đời của Chúa Giê-Su. Kinh này viết tại Antioch dành cho dân Do thái và người Thiên chúa giáo nói chung.


    2) Luke : kinh này viết từ năm 58 tới 70 Tây lịch và viết tại Rome dành cho dân Hy Lạp và tín đồ Thiên chúa giáo.


    3) Mark : kinh này viết từ năm 50 tới 70 Tây lịch và chỉ viết trong thời gian 3 năm chúa đi giảng đạo. Kinh này cho người La Mã và tín đồ Thiên chúa giáo.


    4) John : kinh này viết từ năm 85 tới năm 95 Tây lịch, viết tại Ephesus và  nội dung chỉ nói lại 3 năm sau cùng của cuộc đời Chúa Giê-Su.


    Thiên Chúa giáo trên thế giới cũng không đồng nhất và được chia làm Công giáo có Tòa thánh ở Rome, rất nhiều chi phái Tin Lành và phái Chính Thống ở Nga, phái Hợp Nhất ở Hy Lạp…
    Tuy bốn cuốn Thánh kinh Tân Ước nói rất rõ về chúa Jesus từ lúc Ngài mới giáng sinh đến lúc Ngài bị đóng đinh trên thập tự giá, nhưng không có một Thánh kinh nào nói gì về cuộc đời của Ngài từ lúc 13 tuổi đến khi 30 tuổi là lúc Ngài bắt đầu đi truyền đạo. Đây là khoảng trống gần 17 năm. Những năm gần đây, có vài “huyền thoại” nói về vấn đề này, chúng tôi trong tư thế khách quan, xin trích đăng nguyên văn để quý Phật tử tư duy quán chiếu :


    1) Vào năm 1894, một bác sĩ người Nga, Nicolas Notovitch, xuất bản một quyển sách tựa đề là : ”Cuộc Đời Không Được Biết Của Giê-Su” dựa trên cuộc hành trình rộng lớn của ông ta ở A Phú Hản, Ấn Độ và Tây Tạng. Một trong những chuyến du hành, ông đã viếng Leh, thủ phủ của Ladakh và ở trong tu viện Phật giáo Hemis một thời gian khi ông ta bị gãy chân. Tại tu viện Hemis, ông đã được cho xem hai tập tài liệu lớn màu vàng bằng Tạng ngữ, “Cuộc đời của Thánh Issa”. Bởi vì Chúa Giê-Su được xem như là Issa tức là con trai của Thượng đế. Sách này được viết bởi một nhà học giả Vệ Đà. Notovitch ghi xuống 200 đoạn kệ ở phía sau nhật ký của ông mà ông giữ suốt chuyến du hành. Tài liệu này tạo thành một cơn giông bão ở phương Tây. Ngay cả Tu viện trưởng tu viện Hemis, một Lạt Ma lão thành của trường phái Phật giáo Drukpa, Gwalyang Drukpa cũng tin tưởng vào huyền thoại này nên phát biểu rằng :


    - Giê-Su được nói đã từng thăm viếng đất nước chúng ta và Kashmir để học hỏi Phật pháp. Ngài được truyền cảm hứng bởi giới luật và tuệ giác của Đức Phật.


    Swami Abhedananda, một học giả tâm linh và cũng là nhà tiên tri của Bengal, đã từng du hành đến Hy Mã Lạp Sơn để khảo sát huyền thoại Giê-Su thăm viếng Ấn Độ. Trong một buổi nói chuyện của ông về một quyển sách mang tựa đề “Kashmir O Tibetti”, nói về một cuộc viếng thăm tu viện Hemis ở Ladakh. Nó bao gồm một bản dịch bằng tiếng Bengal với hai trăm đoạn kệ về “Huyền thoại Issa” mà Notovitch đã sao chép lại. Ông nói rằng :


    -    Mọi người yêu mếm Giê-Su bởi vì Issa sống trong hòa bình với những Vaishyas và Shudras, là những người ông đã chỉ dẫn và giúp đỡ cho. Sự giảng dạy của Giê-Su ở những thành phố thiêng liêng cổ truyền Jagannath (Puri), Banares (ở Uttar Pradesh) và Rajagriha (Bihar) làm những người Bà la môn phẩn nộ. Họ làm áp lực Ngài phải lẩn tránh khỏi Hy Mã Lạp Sơn sau sáu năm.


    2) Quyển sách của học giả người Đức, Holger Kersten với tựa đề “Giê-Su Đã Sống Ở Ấn Độ” cũng đã kể về câu chuyện những năm đầu của Chúa Giê-Su ở Ấn Độ như sau :


    - Người trai trẻ đến vùng Sindh (dọc theo sông Ấn Hà) cùng với những người buôn bán. Ngài cư ngụ cùng người Arya với mục đích hoàn thiện chính mình và học hỏi những giới luật của Đức Phật vĩ đại. Người trai trẻ du hành rộng rãi qua những vùng đất của năm con sông (Punjab), ở lại một thời gian ngắn ngủi với những người Kỳ Na Giáo trước khi tiến tới Jagannath.


    3) Trong phiên bản tiếng Anh của Luận thuyết bằng tiếng Urdu được viết bởi nhà sáng lập phong trào Hồi Giáo Ahmaddiya, ông Hazrat Mirza Ghulam Ahmad (1835-1908) cũng nói về Chúa Giê-Su như sau :


    - Chúa Giê-Su đã viếng thăm A Phú Hản, “Nơi Ngài gặp những người Do Thái”, những người đã trú ngụ ở đây để trốn tránh sự bạo ngược của Hoàng đế Do Thái Nebuchadnezzar và rồi thì đến thung lũng Kashmir, nơi mà Ngài đã sống nhiều năm.


    (Quý Phật tử muốn đọc nguyên bản Anh Ngữ, xin vào:


    http://www.buddhistchannel.tv/index.php?id=70,8811,0,0,1,0)
     

    3) Đạo Tin Lành :

    Tòa thánh Vatican (Rome thuộc về Ý Đại Lợi tức là đế quốc La Mã ngày xưa) thiết lập từ năm 324 và phát triển rất mạnh cho đến năm 1506 thì Đức Giáo Hoàng Julius thứ nhì muốn tranh đua với những kiến trúc đồ sộ của giáo hội Hoàng gia Pháp Quốc nên khởi xướng xây cất tòa thánh cho trở thành vĩ đại, nguy nga đồ sộ như ngày nay. Công trình kiến trúc được nữa chừng thì giáo hội hết tiền mãi đến khi Giáo Hoàng Leo thứ mười phát động chiêu bài : ”Cho tiền nhà thờ để mua sự xá tội” nghĩa là giáo dân cho nhà thờ càng nhiều tiền thì tòa thánh bảo đảm người đó sẽ được vào nước chúa nhanh hơn. Vì thấy sự vô lý này, nên lúc bấy giờ ở Đức có vị linh mục tên là Martin Luther thuộc dòng thánh Augustin cực lực phản đối. Ngày 1-11-1517 ông đưa ra bản tuyên ngôn 95 điểm nhằm tố cáo những hành vi thương mãi, mua bán sự xá tội và dùng tôn giáo để thủ lợi của giáo hội. Một năm sau, giáo hội truất phế thông công (lấy chức linh mục) và khai trừ ông ra khỏi giáo hội Thiên Chúa giáo. Từ đó ông khai sinh ra đạo Tin lành.


    Đạo Tin Lành lấy kinh thánh làm giáo lý, nhưng chỉ công nhận 36 trong số 46 cuốn Cựu ước. Khác với Công giáo là kinh thánh chỉ dành cho giáo sĩ được quyền nghiên cứu và giảng giải cho tín đồ, các Mục sư đều có quyền sử dụng, nói và làm theo kinh thánh. Đạo Tin Lành tin rằng Đức mẹ Maria, người sinh ra chúa Jesus một cách nhiệm mầu, nhưng không xem bà là mẹ của Thiên chúa và chỉ đồng trinh đến khi sinh ra Chúa. Đạo Tin Lành không thờ tranh ảnh, hình tượng cũng như di vật và người tín đồ có thể xưng tội trực tiếp với Thiên Chúa chớ không qua trung gian vị Linh mục như Công giáo. Đạo Tin Lành không lập giáo hội duy nhất cho toàn đạo mà xây dựng các giáo hội riêng rẽ, độc lập với các hình thức khác nhau tùy theo hệ phái. Sau cùng đạo Tin Lành không cho tín đồ thờ cúng tổ tiên, các lễ hội…vì họ tin rằng những điều này trái với lời Chúa dạy. Vì thế những tín đồ của nhiều dân tộc trên thế giới theo đạo Tin Lành bắt buộc phải từ bỏ tôn giáo, văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

     

    4) Hồi giáo :

    Vào khoảng năm 570 sau công nguyên có ông Muhammad sinh tại Mecca thuộc nước Saudi Arabia ngày nay. Ông sống với người bác tên là Abu Talib vì cha mẹ chết khi ông còn bé. Ông làm nghề buôn bán cho người bác nên sau đó được làm quản lý cho một góa phụ giàu có tên là Khadija. Khi lên 25 tuổi thì ông kết hôn với góa phụ Khadija lúc đó đã ngoài tứ tuần. Nhưng khi bà này vừa tạ thế thì Muhammad cưới thêm 9 bà vợ khác nữa lúc đó ông đang ở lứa tuổi 50. Ông có rất nhiều con, nhưng tất cả con trai đều bị tử trận và sau cùng chỉ còn cô con gái sống sót tên là Fatima. Truyện kể rằng : Ông thường lên ngọn núi cao, vào bên trong những hang động vắng vẻ để cầu nguyện. Một trong lần cầu nguyện thì thiên thần Gabriel hiện ra cho biết ông đã được Thượng đế chọn như là vị tiên tri cuối cùng để truyền những thông điệp của Ngài vì những vị tiên tri trước như Abraham, Moise, Chúa Giê-Su không hoàn thành sứ mạng. Ông lập ra Hồi giáo và bắt đầu đọc kinh Koran (Qu’an) cho tông đồ chép lại bằng tiếng Ả Rập bởi vì ông là người mù chữ. Đây là thánh kinh duy nhất của Hồi giáo. Thánh kinh này khẳng định là trên thế giới này chỉ có một Allah (ông trời) duy nhất mà thôi chớ không chấp nhận Thượng đế hay ông trời nào của bất cứ tôn giáo nào khác.

    Từ khi thành lập Hồi giáo, Muhammad đã phải đương đầu với rất nhiều cừu địch từ phía khối Ả Rập không theo Hồi giáo đến dân Do thái và tín đồ Thiên Chúa giáo. Chính Muhammad đã phải đích thân ra chiến trường chống lại và sau 28 trận chiến đẩm máu thì ông ta mới đẩy lui họ ra khỏi Medina (gần Mecca, thánh địa của Hồi Giáo ở nước Saudi). Tháng 6 năm 632 đang lúc chuẩn bị cuộc chiến với Syria thì Muhammad bất ngờ lâm trọng bệnh và vì không chịu nổi những cơn đau hành hạ nên hai ngày sao đó ông đã trút hơi thở sau cùng trên ngực bà vợ Aisha. Sau khi ông chết, lực lượng quân sự Hồi giáo tiến chiếm vùng Do thái, Palestine, Syria, Ai Cập và vùng Iran. Sau cái chết của ông, Hồi giáo chia làm hai nhóm : Nhóm thứ nhất là phe Shi-ites dành cho những người thân thuộc với Muhammad. Nhóm này do Ali là chồng của Fatima lãnh đạo và ngày nay vẫn còn hoạt động ở Iran và phía nam của Irak. Nhóm thứ hai là phe Sunnies không chấp nhận hệ thống huyết thống thân thuộc mà người lãnh đạo chỉ được bổ nhiệm khi nào được đa số chức sắc trong hàng giáo phẩm đề cử. Mặc dù cùng là tín đồ Hồi giáo, nhưng hai phe Shi-ites và Sunnies đối xử với nhau như kẻ thù cho nên vào thời nhà độc tài Sadam Husan, ông ta rất ghét dân Shi-ites nên đã tiêu diệt rất nhiều người dân này ở miền nam Irak.


    Với sự trợ giúp của Hồi giáo, dân Palestine chiếm đất Do Thái từ đó. Mãi đến năm 1948 lần đầu tiên được sự ủng hộ của Hoa Kỳ và Liên Hiệp Quốc, người dân Do thái lần lượt về lại cố hương sau gần hai ngàn năm lưu vong xa xứ. Họ buột người Palestine phải trả đất lại cho họ khiến cho rất nhiều dân Palestine phải lưu vong sang những nước Ả Rập trong vùng Trung Đông như Jordan, Ai Cập… Có lẽ đây là khởi nguyên những cuộc tranh chấp tại Trung Đông giữa Do thái và khối à Rập mà Hoa kỳ là nước đở đầu cho Do Thái vì Do thái là thánh địa của Thiên Chúa giáo. Cuộc chiến khốc liệt năm 1968, lúc đó Kissinger là cố vấn an ninh quốc phòng cho Nixon, giữa Do thái và khối Ả Rập khiến Hoa kỳ đe dọa sẽ dùng bom nguyên tử bắt buộc Tổng thống Ai Cập lúc bấy giờ là Anwar Sadat phải rút quân. Về sau chính Sadat với sự trung gian của Tổng thống Jimmy Carter đã ký một thỏa ước hòa bình với Thủ tướng Do Thái là Menachem Begin để chấm dứt sự tranh chấp của hai nước. Chính sự hòa giải này đã khiến những người Hồi giáo quá khích ám sát Sadat năm 1981.


    Vài dòng về Henry Alfred Kissinger. Ông là người Đức gốc Do thái sinh năm 1923 và cái tên Kissinger là do ông cố nội tên là Meyer Lob đặt cho dựa theo tên của thành phố Bad Kissingen. Năm 1938 cả gia đình ông tỵ nạn diệt chủng người Do thái của Hitler, sang định cư ở New York và ông trở thành công dân Mỹ năm 1943. Kissenger giữ nhiều vai trò quan trọng cho chính phủ thuộc đảng Cộng Hòa từ năm 1968 đến năm 1976.


    Khi còn là cố vấn an ninh quốc phòng cho Tổng thống Nixon, Kissinger đã hòa giải với Bí thư Leonid Brezhnev để giảm bớt căng thẳng cho cuộc chiến tranh lạnh giữa Nga và Mỹ. Năm 1971 Kissinger đã bí mật qua Trung Quốc hai lần  thương thuyết với Thủ tướng Chu Ân Lai và Chủ tịch Mao Trạch Đông để mở đường cho cuộc viếng thăm lịch sử Trung Hoa của Tổng thống Nixon và sau đó bình thường quan hệ giữa hai quốc gia. Đây là khúc quanh lịch sử cho cuộc chiến Việt Nam bởi vì khi còn là giáo sư của đại học Harvard, Kissinger đã được Đại sứ Henry Cabot Lodge mời qua Sàigòn rất nhiều lần trong những năm 1965, 1966. Khi về Hoa Thịnh Đốn, Kissinger đệ trình lên Nixon chương trình “Việt Nam hóa cuộc chiến và rút quân trong danh dự”. Do đó khi cuộc chiến Trung Đông bùng nổ năm 1968, Kissinger đã không ngần ngại đánh đổi Việt Nam cho sự hòa bình của Do thái. Tại sao? Vì Nga sô và Trung Cộng là hai thế lực cung cấp vũ khí cho khối Ả Rập cho nên Kissinger nhượng bộ Việt Nam thì Nga và Tàu sẽ làm áp lực với Ai Cập buộc họ rút quân ra khỏi những vùng chiếm được của Do thái.

    Bù lại Hoa Kỳ sẽ rút quân ra khỏi Việt Nam. Kết quả đưa đến sự thương thuyết dai dẳng giữa Kissinger và Lê Đức Thọ rất nhiều năm và sau cùng Hiệp định đình chiến Paris năm 1973 ra đời mà trong đó Hoa Kỳ sẽ rút tòa bộ lục quân ra khỏi Việt Nam. Tháng 10 năm 1973 Kissinger và Lê Đức Thọ được giải thưởng Nobel cho hòa bình. Lê Đức Thọ từ chối không nhận vì ông nói rằng chiến tranh Việt Nam vẫn còn trong khi đó Kissinger bị nhiều khuynh hướng lên án hành động bán đứng đồng minh của ông chớ không phải thiết lập hòa bình cho miền Nam Việt Nam nên ông không xứng đáng lãnh giải thưởng này. Kissinger khi lãnh giải thưởng đã viết cho hội đồng Nobel là ”I accepted the award with humility” dịch là “Tôi nhận giải thưởng với bao sự nhục nhằn”. Kissinger làm Bộ trưởng ngoại giao cho Tổng thống Nixon năm 1973 đến khi Nixon từ chức vì vụ nghe lén Watergate năm 1974. Ông tiếp tục làm bộ trưởng ngoại giao cho Tổng thống Ford đến năm 1977 và dĩ nhiên chứng kiến sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam năm 1975.


    Truyền thống xung đột giữa Thiên Chúa giáo, Do thái giáo và Hồi giáo lúc tăng lúc giảm chớ không bao giờ biến mất theo thời gian. Muhammad sáng lập ra Hồi giáo dựa trên sự xâm lăng tàn bạo tiến chiếm cả vùng Trung Đông, tới bắc Phi Châu, sang tới A Phú Hãn, Parkistan và sang cả Á Châu như Nam Dương, Phi Luật Tân và Mã Lai Á.


    Nằm trong chủ trương cực đoan này mà Phật giáo ở Ấn Độ đã bị Hồi giáo tiêu diệt gần như mất tích. Sự biến mất của đạo Phật ở Ấn Độ, nơi mà Phật giáo đã được sinh ra, trưởng thành và đạt đến những thành tựu cao nhất là một hiện tượng khó tin nhưng có thật. Một trong những lý do là vì Đức Phật đã lên án chế độ giai cấp và nhấn mạnh vào sự bình đẳng của mọi người. Đức Phật đã làm một cuộc cách mạng chống lại những luật lệ xã hội áp bức lên con người và Ngài không thừa nhận nguồn gốc linh thiêng cũng như chứng minh sự giả dối của giai cấp Bà la môn. Tôn giáo của Đức Phật là một cái gai trong mắt của những người Bà la môn. Chính Đức Phật đã khẳng định rằng:”Giá trị là đặt nền tảng trên những hành động, chứ không phải trên sự sinh ra” nghĩa là tất cả mọi người đều giống nhau”. Thật sự, người Bà la môn không chống đối Phật giáo trên những giáo lý thuộc về triết lý hay đạo đức, mà họ rất ghét tư tưởng bình đẳng trong đạo Phật. Tiến sĩ Ambedkar xác định rằng :


    ”Bất bình đẳng là giáo lý chính thức của đạo Bà la môn. Đức Phật chống lại gốc rễ và cành lá của nó. Ngài là một đối thủ mạnh mẽ nhất của chế độ đẳng cấp và là cột trụ vững chãi nhất của tinh thần bình đẳng. Không có một lý lẽ nào về vấn đề giai cấp mà Ngài không bác bỏ”.


    Vì thế khi đạo Phật yếu đi, người Bà la môn dùng mọi cách để lấy lại quyền lực và danh vọng đã mất. Tệ hại hơn nữa, họ còn tìm cách hủy diệt những giáo pháp của Đức Phật khỏi đất nước Ấn Độ. Đạo Bà la môn thờ cúng đa thần như thần nước, thần lửa, thần mây, thần gió…nhưng giáo lý Đức Phật phủ nhận việc thờ cúng thần linh khiến họ rất căm thù. Một trong những nguyên nhân khác trong việc làm cho Phật giáo suy tàn và sụp đỗ nhanh chóng ở Ấn Độ là sự đàn áp của những nhà cầm quyền và những người cuồng tín. Lịch sử Phật giáo chép rằng Sasanka một người thuộc giai cấp Bà la môn, vua nước Gauda (Bengal) sau khi giết Rajyavardhana vào năm 605 sau Tây lịch, vị hoàng đế Phật giáo cuối cùng, đã cuồng tín đến nỗi, trong cơn giận dữ ông đã chặt bỏ cây Bồ-đề, đào đến tận mạch nước dưới đất, nhưng không thể đào đến chỗ rễ tận cùng của nó nên quá tức giận dùng lửa đốt và tưới nước mía lên với ý định tiêu diệt nó hoàn toàn và không để lại một vết tích nào về sau. Ông cũng đã dời tượng Phật từ ngôi chùa gần cây Bồ-đề và thay vào bằng thần Shiva. Ông cũng đã liệng vào sông Hằng tảng đá thiêng liêng có dấu bàn chân của Đức Phật ở thành Hoa Thị (Pataliputra). Sau đó ông tiêu diệt hết Tăng sĩ trong khu vực Câu Thi Na. Ngoài sự đàn áp của vua chúa và tôn giáo,

    Phật giáo còn là đối tượng đàn áp và tẩy chay của xã hội. Khi Phật giáo suy tàn, người Ấn Độ giáo khinh khi, đàn áp những tín đồ Phật giáo, xem họ như là thành phần bẩn thỉu, thấp hèn nhất trong xã hội Ấn Độ. Sau cùng, khi người Hồi giáo xuất hiện ở Ấn Độ bắt đầu từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 12 thì họ cố gắng thực hiện hai mục tiêu. Thứ nhất là nắm quyền chính trị và thứ hai là tiêu diệt những tôn giáo khác rồi truyền bá Hồi giáo. Sự xâm nhập của người Hồi giáo đẩy mạnh sự điêu tàn của Phật giáo trên đất Ấn. Họ san bằng các tu viện và thủ tiêu hầu hết các Tăng sĩ trong tu viện đó. Vua Mahmud Gazinavi đã cướp bóc những chùa chiền và vua Bakhtiaruddin đã phá hũy những tu viện Nalanda, Vikramasla và Odentapuri. Họ quét sạch tận gốc những tu viện Phật giáo rãi khắp trong nước. Cả ngàn Tăng sĩ sống sót phải chạy trốn qua Nepal, Tây Tạng, Tích Lan và những nước ngoài Ấn Độ. Hàng chục ngàn tu sĩ Phật giáo đã bị giết chết dưới lưỡi gươm bởi những người lính Hồi giáo. Đây là cuộc khủng bố lớn nhất làm cho Phật giáo suy tàn ở Ấn Độ.


    Đạo Phật bị biến mất tại Ấn Độ mãi cho đến khi những người khảo cổ của Anh Quốc khám phá vào năm 1860 một cột đá khá cao mà ngày xưa vua A Dục đã cho khắc lên đó rằng : ”Đây là nơi sinh ra của đấng giác ngộ” bằng cổ ngữ Brami tức là ngôn ngữ của người bản xứ lúc bấy giờ. Tiến trình này kéo dài cho đến năm 1890 thì họ mới tìm được nơi Đức Phật đản sinh Lâm tì ni và cung thành Ca tỳ la vệ. Đây là một công trình khảo cổ kéo dài rất nhiều năm với sự hướng dẫn của tiến sĩ khảo cổ học Cunningham của nước Anh.


    Nhưng tại sao Phật giáo bị suy yếu?


    Chính Đức Phật đã vạch ra con đường cho những đệ tử của Ngài, những vị Tỳ kheo hay cư sĩ tại gia, là những người không những tìm sự giác ngộ bằng thực hành những giới luật đạo đức và tâm linh, mà còn là những người phụng sự xã hội, dìu dắt chúng sinh và hướng đạo cho quần chúng. Đức Phật là một vị Thầy tôn giáo đầu tiên ở Ấn Độ và là của toàn thế giới đã đưa ra lý tưởng hy sinh, quên mình và phục vụ cho kẻ khác (Bồ-tát đạo). Ngài khuyến khích chư đệ tử đi và đi khắp mọi nơi vì hạnh phúc và lợi ích của chúng sinh. .

    Ngài chủ trương rằng một Tỳ kheo phải xin ăn, phải sống bằng vật bố thí và phải hạn chế chỉ ăn ngày một bữa. Nhờ áp dụng triệt để lời dạy của Thế Tôn, những Tỳ kheo đầu tiên đã đạt đến những tiêu chuẩn cao nhất của lòng hy sinh, phụng sự và kính tín. Họ đã biến Phật giáo trở thành một tôn giáo phổ biến và được tôn kính nhất ở Ấn Độ. Tiếc thay, con ma vô thường cũng không thương xót cho dù đó là Phật giáo. Khi các tu viện trở nên giàu có thì việc hoằng dương Phật pháp không còn y theo lời dạy của Phật. Các vị Tỳ kheo trở nên xao lãng và thụ động nên họ đánh mất đi sự tương quan giao hảo gần gũi với đại chúng. Những khuôn mẫu đem Phật giáo đến với đại chúng không còn nữa, mà chúng sinh phải đến tu viện để được thọ pháp. Vì thế dần theo thời gian số người đến với tu viện càng ngày càng giảm cũng như mối tương giao giữa Phật giáo và đại chúng không còn chặt chẽ tha thiết như thời Đức Phật còn tại thế. Họ chỉ lo nghiên cứu từ chương thay vì truyền bá giáo Pháp.


    Chính nhà khảo cổ, thám hiểm và học giả Cunningham đã nói về vấn đề này như sau :


    “Phật giáo thực sự đã trở thành một tín ngưỡng già nua và kiệt lực. Những vị khất sĩ không còn đi khất thực, nhưng từ lâu đã được hổ trợ bằng đất đai dành riêng cho các tu viện. Các vị Sa Môn và Tỳ Kheo không giống như những người của thời xưa, những người uyên bác và trí tuệ. Sự tiết độ về thân xác và sự nhất tâm thiền quán cộng với những chủ trương thực tiễn và gương mẫu trong sạch đã kích thích lòng sung kính của quần chúng. Những Tỳ Kheo Phật giáo hiện tại rơi vào tình trạng mục nát, họ bằng lòng sống một đời thụ động trong những công việc tẻ nhạt hằng ngày của đời sống tu viện, nơi đó còn một vài dấu hiệu tôn giáo bề ngoài, nhưng không còn sự tha thiết nồng nhiệt trong sinh hoạt thiếu sinh khí của những công việc tẻ nhạt hằng ngày.  Lòng hăng say đã có thời đốt cháy trong tim của mỗi người tu sĩ Phật giáo trong việc truyền bá tôn giáo của họ đã dập tắt từ lâu”.


    Một nguyên nhân lớn lót đường cho sự suy tàn của Phật giáo là Ấn Độ giáo đã thần thánh hóa Đức Phật và họ còn đưa ra một số thần và nữ thần Ấn Độ giáo vào làm các vị thần Phật giáo dưới dạng những Bồ-tát làm cho Phật giáo không còn khác biệt với các thần thánh của Ấn Độ giáo. Chính điều này đã xóa tan sự khác biệt giữa hai tôn giáo và họ chứng minh rằng Phật giáo chỉ là một tông phái của Ấn Độ giáo. Cũng vậy, khi Phật giáo truyền vào Trung Hoa đã bị Lão giáo và Nho giáo biến Phật giáo thành thần giáo mê tín dị đoan. Tóm lại, tất cả những tôn giáo lớn trên thế giới đều là thần giáo duy chỉ có Phật giáo là  tôn giáo không có tín ngưỡng mà thôi.
     

    5) Đạo Nho (Khổng Giáo) :


    Vào thời Đức Phật tức là khoảng thế kỷ thứ 6 trước công nguyên,  trong khi châu Âu còn nằm trong bóng tối của sự man rợ duy chỉ có Hy Lạp khởi đầu với các triết gia Heraclitus và Pythagoras (571-497 B.C) (nhà triết học và toán học nổi tiếng của cổ Hy Lạp), sau đó còn có những triết gia Hy Lạp khác là Socrates (469-399 B.C) và Plato (427-347 B.C) (tên thật là Aristocles) đã mở rộng ảnh hưởng chính trị và văn hóa của mình thì xã hội Trung Hoa tương đối được tổ chức có kỷ cương với nếp sinh hoạt văn hóa cao nhất. Đây là thời Xuân Thu kéo dài từ năm 722 tới năm 481 trước công nguyên. Trong thời kỳ này mặc dầu nhà Châu vẫn còn đó, nhưng các tiểu quốc tranh giành, chém giết triền miên khiến dân tình sống trong lầm than khổ sở. Vì sự bất ổn này mà đã xuất hiện rất nhiều “thuyết trị quốc” khác nhau nên được gọi là “Bách gia chu tử”. Nhưng nổi bật hơn hết là hai nhà hiền triết Khổng Tử và Lão Tử. Lão Tử sinh năm 584 trước công nguyên, khoảng 18 hoặc 20 năm trước Khổng Tử và mãi 58 năm sau tức vào năm 526 mới gặp Khổng Tử. Khổng Tử ngựa xe bôn ba lục quốc để thuyết triết lý an bang trị nước. Triết lý của Khổng Tử có thể được hiểu đại để như sau :


    1) Tam cương :  vua tôi, cha mẹ, vợ chồng.


    2) Ngũ thường : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín.


    3) Tứ hạnh : hiếu, đễ, trung, tín.


    4) Tứ duy : lễ, nghĩa, liêm, sĩ.

     


    Nói chung đạo Nho là đạo xử thế, đạo làm người vì tu thân, tề gia mới có thể bình thiên hạ được. Ông tin vào quỷ thần nên có tục tế Trời, tế Đất và tế Quỷ Thần. Khổng Tử xem Trời như là một Chúa Tể càn khôn, sinh hóa ra muôn vật và chủ trì vận mệnh của vũ trụ và con người. Khi nói về đạo Trời, ông nói rằng : ”Dục tu Tiên Đạo, tiên tu Nhân Đạo; Nhân Đạo bất tu, Tiên Đạo viễn hỷ” nghĩa là muốn tu đạo Trời thì trước hết phải tu đạo làm người. Nếu không tu đạo làm người thì đạo Trời xa vời, không bao giờ đạt được. Thật ra ngày nay đạo Nho không còn thực dụng và chỉ còn là môn cổ học vì xã hội phong kiến bất bình đẳng :  “Quân xử thần tử thần bất tử bất trung, Phụ xử tử vong tử bất vong bất hiếu, Trai năm thê bảy thiếp gái chính chuyên một chồng, trên đội dưới đạp, chồng chúa vợ tôi” đã bị cáo chung và được thay thế bằng hệ thống bầu cử khách quan dân chủ, bình đẳng dựa theo tinh thần “Dân vi quý”.


    Gần đây có một cô gái ở Cần Thơ vừa lấy chồng Đài Loan than thở rằng : ”Nhà em không nghèo. Không phải em lấy chồng Đài Loan vì sợ nghèo. Mà em không biết lấy ai trong đám trai làng. Từ ông, tới bố, tới các chú các bác, tới đám thanh niên, tối ngày nhậu nhẹt, say xỉn. Rồi chửi bậy, đánh nhau, rồi mắng mỏ mẹ em khi bà vừa bước ngoài đồng về đã sấp ngửa lo nấu bữa cơm chiều. Chị em đi lấy chồng, được vài bữa thì bị chồng đánh đập. Nhà em không dám can ngăn. Em sợ cái cảnh đó lắm”. Nhưng cô có biết rằng Trung Hoa, cho dù là Đài Loan Trung Hoa, vẫn là cái nôi của phong kiến, hy vọng cô tránh vỏ dưa đừng gặp vỏ dừa.


    Khi nói về giải phóng văn hóa, cải cách xã hội thì nhóm Tự Lực Văn Đoàn có lẽ là những người đi tiên phong để thay đổi hệ thống “quân, sư, phụ” trên đội dưới đạp, trọng nam khinh nữ, mẹ chồng nàng dâu khắc nghiệt của chế độ phong kiến. Năm 1932, nhóm Tự Lực Văn Đoàn do Nhất Linh Nguyễn Trường Tam sáng lập với chủ trương :


    “Lúc nào cũng mới, trẻ, yêu đời, có chí phấn đấu và tin ở sự tiến bộ. Theo chủ nghĩa bình dân, không có tính cách trưởng giả quý phái. Tôn trọng tự do cá nhân. Làm cho người ta biết đạo Khổng không hợp thời nữa”. Translation : ”It is always new, youthful, life affirming and believes in progress. It adheres to a popular ideology and shuns elitism. It respects individual freedom. It teaches that Confucianism is no longer relevant”.


    Nhóm Tự Lực Văn Đoàn đã đóng góp rất nhiều cho nền văn chương, thơ phú và đã chuyển Việt ngữ trở thành Quốc ngữ như ngày nay. Nhóm này quy tụ những ngòi bút đã cách mạng hóa cuộc sống phong kiến của người dân Việt cả ngàn năm lệ thuộc Tàu như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long), Thạch Lam (Nguyễn Tường Lân), Tú Mở (Hồ Trọng Hiếu), Thế Lữ (Nguyễn Thứ Lễ), Xuân Diệu, Trần Tiêu, Trọng Lang, Huy Cận…với những tác phẫm như : Hồn Bướm Mơ Tiên bởi Khái Hưng, Đoạn Tuyệt bởi Nhất Linh, Tiêu Sơn Tráng Sĩ bởi Khái Hưng, Gánh Hàng Hoa bởi Khái Hưng, Nửa chừng Xuân bởi Khái Hưng, Dưới Bóng Hoàng Lan bởi Thạch Lam, Một Người Say Rượu bởi Thế Lữ… Hãy lắng nghe bài thơ :

     


    Hẹn Hò của Thi Sĩ Xuân Diệu :


    Anh đã nói, từ khi vừa gặp gỡ


    Anh rất ngoan, anh không dám mong nhiều


    Em bằng lòng cho anh được phép yêu


    Anh sung sướng với chút tình vụn ấy


    Em đáp lại: Nói gì đau đớn vậy!


    Vừa gặp anh em cũng đã mến rồi


    Em phải đâu là ngọn nước trôi xuôi


    Chưa hy vọng sao anh liền thất vọng?


    Lời nói đó về sau đem gió sóng


    Cho lòng anh đã định chỉ yêu thôi


    Anh tưởng em là của anh rồi


    Em mắc nợ, anh đòi em cho được.


    Đấy, ai bảo em làm anh mơ ước


    Lúc đầu tiên anh có mộng gì đâu


    Tưởng có nhau ai ngờ vẫn xa nhau


    Em ác quá! Lòng anh như tự xé...


    Tháng 3 năm 1946, chánh phủ Liên Hiệp Kháng Chiến được ra đời đặt thủ đô tại Hà Nội mà Chủ tịch là Hồ Chí Minh, Phó Chủ tịch là Nguyễn Hải Thần, một người thuộc đảng Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội và Nguyễn Tường Tam thuộc đảng Việt Quốc làm Bộ Trưởng Ngoại giao. Nhắc lại trước đó tháng 5 năm 1945, tại Trùng Khánh Trung Hoa, Nguyễn Tường Tam sáp nhập Đại Việt Dân Chính đảng với Việt Nam Quốc Dân đảng, nhưng mãi đến cuối năm 1945 tổ chức này ra công khai với danh xưng Mặt Trận Quốc Dân đảng gọi chung là Việt Nam Quốc Dân đảng hay Việt Quốc. Thực dân Pháp lúc bấy giờ vừa mới chiếm lại miền Nam, vài tỉnh miền Nam Trung phần và đang trên đường đến Quảng Nam và Huế.

    Chỉ 4 tháng sau ngày thành lập chánh phủ Liên Hiệp, tức là tháng 7 năm 1946, khi tranh chấp giữa Việt Minh (Cộng Sản) và các phe đối lập quốc gia xảy ra, Nguyễn Hãi Thần chạy trốn thoát sang Trung quốc, Khái Hưng bị bắt giam tại một trại tù ở Việt Bắc. Vì quá ốm yếu, bị đi kiết lỵ và bị hành hạ với cuộc sống đầy ải của nhà tù nên Khái Hưng chết ngày 17-11-1947, Nguyễn Tường Tam vội vượt Trường Sơn vào Nam lánh nạn và định cư ở Đà Lạt. Mãi đến năm 1960 ông từ Đà Lạt về Sài Gòn thành lập Mặt trận Quốc Dân Đoàn kết, ủng hộ cuộc đảo chánh của Đại tá Nguyễn Chánh Thi và Trung tá Vương Văn Đông. Đảo chánh thất bại, ông bị chánh quyền Ngô Đình Diệm giam lỏng tại nhà riêng. Ngày 8-7-1963, là ngày chánh phủ Ngô Đình Diệm đưa ông ra tòa xét xử, Nguyễn Tường Tam dùng thuốc độc quyên sinh để phản đối chính quyền độc tài của Ngô Đình Diệm. Trong tờ di chúc, ông có để lại một câu nói rất nổi tiếng :


    “Đời tôi để lịch sử xử. Tôi không chịu để ai xử tôi cả…Tôi chống đối sự đó và tự hủy mình để cảnh cáo những người chà đạp mọi thứ tự do”.


    Nhất Linh tuy ra đi, nhưng :


    “Người quay tơ đôi bạn tối tăm,


    Anh phải sống chớ sao đoạn tuyệt?


    Đời mưa gió lạnh lùng bướm trắng,


    Buổi chiều vàng đâu nhỉ nắng thu?


    Thi sĩ Vũ Hoàng Chương đã viết bài truy điệu cho ông rằng :


    “Than ôi! Đời chính trị lông hồng gieo núi Thái


    Ngẩng đầu lên sấm sét vẫn chưa nguôi,


    Việc văn chương một tấc để ngàn thu,


    Ngoảnh mặt lại đá vàng sao khỏi thẹn,


    Muốn gào to hồn phách anh linh,


    Để vọng khắp giang sơn tam biến!”.


    Tuy cuộc đời chính trị của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam có vẻ phước tạp đầy sóng gió, nhưng có lẽ sự quan trọng nhất trong con người của ông và nhóm Tự Lực Văn Đoàn là ở tấm lòng tha thiết với sự canh tân đổi mới của văn học và văn hóa dân tộc.
     

    6) Đạo Lão :


    Lão Tử sinh vào ngày 14 tháng 9 năm 604 trước tây lịch (cách nay tức năm 2010 khoảng 1614 năm). Dựa theo truyện Đông Châu Liệt Quốc thì ông sinh vào năm thứ ba đời vua Châu Định Vương thuộc nước Sở tại ấp Khúc Khâu, làng Lạc, quận Tần. Tương truyền rằng mẹ của Ngài là một người trinh nữ một hôm bà đứng dưới gốc cây “lý” thấy trên cây có một trái lý chín rất tươi đẹp và thơm ngon nên bà bèn với tay hái trái lý mà ăn. Từ đó bỗng nhiên bà có thai. Phụ thân của bà là một tướng sư đoán biết con gái mình đang mang thai thánh nhân nên nuôi dưỡng bà rất kỹ lưỡng. Bà mang Ngài ở trong thai 81 năm mà vẫn chưa sinh ra được.

    Một hôm bà ra đứng dưới cây lý hóng mát, bỗng nghe ở hông bên trái ngứa ngáy nên bà vội ngó xuống xem thì thấy hông ấy da thịt rách ra một đường dài. Ngài liền theo đường nứt đó mà chào đời. Lúc ấy trên trời hiện ra 9 con rồng phun nước xuống tắm gội cho Ngài. Vì ở trong thai 81 năm nên khi ra đời tóc, râu Ngài đều bạc trắng cả. Vì vậy mà người đời gọi Ngài là Lão Tử (Lão là già, Tử là đồng tử, là đứa con nít. Tuy là con nít mà lại là ông già đầu râu, tóc bạc). Vì không có cha, và do ăn trái lý mà thọ thai Ngài nên mẹ Ngài lấy chữ Lý làm họ, đặt cho tên là Nhĩ, tự Bá Dương. Khi Đức Khổng Tử còn du học ở Lạc Ấp có đến yết kiến Lão Tử thì được Ngài dạy rằng : ”Người quân tử gặp thời thì đi xe, không gặp thời thì đội nón lá mà đi chân đất”. Ý nói là phải biết an phận, thủ thường.


    Khác với Khổng Tử ngựa xe bôn ba lục quốc chư hầu, Lão Tử ẩn dật ở đất Bái nước Châu. Thấy nhà Châu suy vi, Lão Tử bỏ đi. Khi đến ải Hàm Cốc, quan lệnh là Doãn Hỉ nói:”Ngài sắp đi ẩn, xin cố vì tôi viết sách để lại”. Lão Tử nán lại vài ngày soạn xong Đạo Đức kinh với trên 5,000 chữ gồm có 81 đoạn ca ngắn, để ở đó, rồi cưỡi trâu mà đi. Lão Tử là người đầu tiên tại Trung Hoa đưa ra một quan niệm về vũ trụ và những lời trong cuốn sách nhỏ này đã thấm sâu vào dân tộc và làm cốt lõi của văn hóa Trung Hoa. Về sau, vua nhà Đường đã thỉnh cầu Tam tạng Pháp sư Trần Huyền Trang dịch Đạo Đức kinh sang tiếng Phạn để phô trương văn hóa Trung Hoa cho người Ấn Độ. Đạo Đức kinh tạo thú sống cho tao nhân quân tử vừa là một tôn giáo cho giới bình dân ngưỡng vọng.

    Trọng tâm của học thuyết Lão Tử là Đạo và Đức. Theo ông, Đạo là một, một sinh hai, hai sinh ba…và sau đó sinh ra vạn vật. Lão Tử đếm vài con số và nói như thế, nhưng phải hiểu rằng Đạo thì không thể nói hay định nghĩa được. Nhưng Đạo có trước vũ trụ và Đạo là nguồn gốc của vũ trụ. Theo Lão Tử trời đất, muôn sinh vạn vật do Đạo mà sinh thành. Đạo là cái hỗn mang chưa phân, là cái nguyên thủy và là sự vận động hằng hữu mà ta không thể cảm, không thể biết. Đạo vô danh, vô hình và là căn nguyên cốt lõi của muôn vật. Do đó muôn vật đều khởi đi từ Đạo, đi theo Đạo và quay về Đạo. Phần thứ hai là Đức. Chữ Đức ở đây không phải là đức hạnh hiểu theo lối luân lý thông thường, mà dựa theo Lão Tử thì Đức là mầm sống ngấm ngầm trong vạn vật. Vì thế Đạo sinh ra còn Đức thì nuôi nấng. Cái Đạo “phi thường Đạo” được Lão Tử nói đến là thiên nhiên, năng lượng sức sống và sự vận hành của thiên nhiên.

    Còn Đức là cứ theo tự nhiên mà sống, thuận theo thiên lý mà lưu hành. Trong cái Đạo của vũ trụ đó, thiên nhiên và những quy luật của chúng tập hợp thành cái trụ cốt, cái bản thể. Còn trời đất và sinh linh là những thực thể có vị trí thích hợp và chức năng thích hợp theo một thể thức tự nhiên. Đạo chỉ biết được bằng trực quan chớ không phải bằng lý trí. Lão Tử không lập luận về Đạo vì ông chống lý trí. Tư tưởng của Lão Tử là lý trí khiến ta nhìn cuộc đời với con mắt nhị nguyên. Trí năng khiến con người phân biệt cái hay cái dở nên sinh ra ham muốn. Ông chủ trương bỏ trí năng, bỏ văn tự, bỏ việc dạy dỗ dân, để dân chúng sống mộc mạc, tự nhiên. Một điểm then chốt khác của Lão Tử là ông nhìn sự vật thường xuyên biến đổi và nhận ra luật mâu thuẫn của vạn vật.

    Đó là cái yên tĩnh là chủ của cái xao động, cái cao lấy cái thấp lám gốc, cái thật đầy thì giống như trống không, con người thật khôn khéo thì giống như quá vụng về…Ông còn nhận ra luật phản phục ở bên trong vũ trụ. Đó là vật gì phát tới cực điểm thì phản hồi, hễ tăng rồi thì phải hao giảm, trăng tròn rồi lại khuyết, hết mùa đông tới mùa xuân…Tất cả đều là “Cùng tắc biến, biến tắc thông”. Vũ trụ trong cùng một lúc, bị chi phối bởi luật mâu thuẩn và luật phản phục nên vạn vật đều nương tựa với nhau mà sinh tồn và tương tác tạo điều kiện cho nhau. Do đó “có” và “không’ cùng sinh, khó và dễ cùng thành, dài và ngắn cùng hình, cao và thấp cùng nghiêng, âm và thanh cùng họa, trước và sau cùng theo.

    Lão Tử cho rằng tuy Đạo không thể hiểu, không thể nói, không thể bàn, nhưng loài người chỉ cần sống tốt nhất bằng việc đi trên con đường Đạo. Song song với Đạo, loài người sống với Đức là sống không phân biệt nhị nguyên, không miễn cưỡng mà sống rất tự nhiên, vi vô vi, làm một cách tự nhiên và đi đúng con đường vận hành của Đạo. Đối với phép trị nước an dân, Lão Tử chủ trương một chính quyền theo thuyết “vô vi nhi trị” nghĩa là trị mà như không trị tức là nếu dùng trí thuật mà trị nước tức là làm hại quốc gia. Chính quyền dựa theo ông gồm những người chất phác, ăn ở giản dị, không xa hoa. Họ không can thiệp vào chuyện của nhân dân, không dựa vào thánh nhân để dạy dỗ dân, không tôn quý hiền tài và không vận dụng lý trí để ứng xử với dân. Luật pháp phải rộng rãi và uyển chuyển vì càng gia tăng luật lệ thì dân càng bị trói buộc, khổ sở. Trọng dụng hiền tài chỉ làm dân tranh nhau để được tiếng là người hiền. Lão Tử triệt để bát bỏ chiến tranh. Theo ông, nước lớn mà hạ mình trước nước nhỏ thì được nước nhỏ thần phục; nước nhỏ mà hạ mình trước nước lớn thì tất được nước lớn che chở.


    Bài đầu tiên trong Đạo Đức kinh là :


    Đạo khả đạo, phi thường đạo.


    Danh khả danh, phi thường danh.


    Vô, danh thiên địa chi thủy;


    Hữu, danh vạn vật chi mẫu.


    Cố :


    Thường vô dục dĩ quan kỳ diệu;


    Thường hữu dục dĩ quan kỳ kiếu.


    Thử lưỡng giả đồng xuất nhi dị danh.


    Đồng vị chi huyền. Huyền chi hựu huyền.


    Chúng diệu cho môn.


    Dịch là :


    Đạo có thể gọi là đạo, không phải là đạo thường.


    Tên có thể gọi là tên, không phải là tên thường.


    Không, là tên gốc của trời đất,


    Có, là tên mẹ của muôn vật.


    Cho nên,


    Phải dẹp ham muốn để thấy chỗ vi diệu


    Phải giữ ham muốn để thấy chỗ biểu hiện


    Cả hai (không và có) cùng sinh một nơi, nhưng khác tên.


    Cả hai cùng huyền diệu, huyền diệu mấy tầng


    Đó là cửa mọi biến hóa huyền diệu.


    Sau đó ông viết tiếp :


    Thiên hạ giai tri mỹ chi vi mỹ, tư ác dĩ;


    Giai tri thiện tri vi thiện, tu bất thiện dĩ


    Cố :


    Hữu vô tương sinh


    Nan dị tương thành


    ………………..

    Dịch là:


    Khi thiên hạ biết cái đẹp là đẹp, thì đã có cái xấu;


    Biết điều lành là lành, thì đã có không lành


    Bởi vậy :


    Có và Không cùng sinh ra nhau.


    Khó và dễ cùng tạo hành nhau.
    ……………………


    Và sau cùng ông viết :


    Thiện giả bất mỹ, mỹ ngôn bất tín


    Thiện giả bất biện, biện giả bất thiện


    Tri giả bất bác, bác giả bất tri


    Thánh nhân bất tích


    Ký dĩ vi nhân kỷ dũ hữu


    Ký dĩ dữ nhân kỷ dũ đa


    Thiên chi Đạo, lợi nhi bất hại


    Thánh nhân chi Đạo, vi nhi bất tranh.


    Dịch là :


    Lời thật không hoa mỹ, lời hoa mỹ thì không thật


    Kẻ tốt khỏi cần biện giải, kẻ biện giải khó tốt


    Người hiểu biết không nhất thiết là người học rộng


    Người học rộng không hẳn là người hiểu biết


    Bậc thánh nhân không thâu chứa tích trữ


    Càng giúp người mình càng được thêm nhiều


    Càng cho người, mình lại càng có thêm cho mình


    Đạo của trời, lợi mà không hại


    Đạo của Thánh nhân, làm mà không tranh dành.


    Khi Khổng Tử được 51 tuổi mà vẫn chưa nghe được về Đạo, nên Ngài mới từ bắc đi xuống đất Bái ở phương nam để yết kiến Lão Tử :


    Lão Tử hỏi :


    - Ông lại đấy ư? Tôi nghe nói ông là người hiền phương bắc. Vậy ông có hiểu Đạo không?


    Khổng Tử đáp :


    - Tôi chưa hiểu.


    - Ông tìm Đạo cách nào?


    - Tôi tìm Đạo trong độ số, năm năm mà không được.


    - Rồi làm sao nữa?


    - Rồi tôi tìm nó trong âm dương, mười hai năm mà không được.


    - Trời có vận chuyển không? Đất có đứng im không? Mặt trời mặt trăng có tranh chỗ nhau không? Ai làm chủ tể cái đó? Ai duy trì cái đó? Ai vô sự mà đẩy cái đó, khiến nó quay? Hoặc giả có một cái máy bí mật bất đắc dĩ chạy hoài chăng? Hay là vũ trụ tự nhiên vận chuyển mà không tự ngừng được chăng? Mưa là do mây chăng? Hay mây là do mưa? Ai làm cho mưa đổ? Ai vô sự mà cao hứng làm ra cái đó? Gió nổi ở phương bắc, khi thì thổi qua tây, khi thì thổi qua đông, có lúc lại xoáy ốc, mà cuốn lên cao? Ai hô hấp mà thành như vậy? Ai vô sự mà hướng gió về phía này phía khác và làm gió ngừng? Xin hỏi ông nguyên do ở đâu?


    Lão Tử lại nói tiếp :


    - Dĩ nhiên! Nếu Đạo mà có thể dâng cho người khác được thì ai cũng đem dâng nó lên vua rồi. Nếu nó có thể tặng được thì ai cũng tặng nó cho cha mẹ rồi. Nếu nó có thể bảo cho người khác hay được thì ai cũng bảo cho anh em rồi. Nhưng không được. Nguyên do như vầy : Trong lòng không có bản chất của Đạo thì Đạo không lưu lại trong đó được. Ngoài không phối hợp với đối tượng thì Đạo không vận hành được. Nếu phát động ở trong mà ngoài không tiếp thụ được thì thánh đức không hiện. Nếu phát động ở ngoài mà trong lòng không có sẵn bản chất của Đạo thì thánh đức không lưu lại.


    Danh vọng là của người khác cho mình, không nên nhận nhiều quá. Nhân và nghĩa là quán trọ của tiên vương, chỉ nên ghé đó một đêm, không nên ở lâu vì ở lâu thì bị nhiều điều trách móc.


    Bậc chí nhân thời xưa mượn con đường “nhân” mà đi, ghé quán “nghĩa” mà nghĩ chớ không ở đó lâu nên mới có thảnh thơi tiêu dao, sống đạm bạc thì dễ được thỏa mãn. Ai nhắm việc làm giàu thì không từ bỏ được lợi lộc. Ai nhắm sự vinh hiển thì không từ bỏ được cái danh. Ai ham quyền thế thì không muốn nhường quyền binh cho người được. Nắm giữ nó thì run sợ mà buông ra thì rầu rĩ. Những kẻ đó không có gì để tự răn mà hãm bớt thị dục.


    Nói chung, triết lý của ông gồm bốn điểm :


    1) Nếu có thông minh thánh trí thì nên sống như kẻ ngu ngơ đần độn.


    2) Đời sống nên ẩn dật không đua tranh với người.


    3) Xử thế nên nhu nhuyễn.


    4) Tánh tình nên giản phác.


    Sống lặng lẽ với thiên nhiên, không ôm hết vào mình, không tích lũy của cải và nên cho người khác những gì mình có. Yếu thắng cương, mềm thắng cứng cho nên trong thế gian không có gì yếu bằng nước, nhưng cũng không có gì mạnh hơn nước. Vậy cứ thanh tĩnh thì mọi vật đâu sẽ vào đấy cho nên đối với Lão Tử không tranh với ai nên không ai tranh được với mình.


    Tóm lại, nền minh triết của Đạo Đức kinh lúc đầu là món triết học rất cao siêu, nhưng rất tiếc về sau cái học thuyết đó bị các đệ tử cộng thêm phần phép thuật biến hóa, chế linh đan để được sống trường sinh bất tử, thành tiên ngao du sơn thủy và phần thuật số, tu luyện đạo phù thủy rồi dần dần biến thành một tôn giáo thần bí. Đồng cốt và Cô Hồn cũng do các đệ tử của Lão Tử bày ra. Đồng cốt thờ chư vị như Liễu Hạnh Công Chúa, Cửu Thiên Huyền Nữ, các vị hoàng tử, các cô các cậu. Còn cô hồn thờ ông Chiêu và bà Dí là hai người có nhiệm vụ đi chiêu âm hồn muốn gọi. Một biến thể khác của đạo Lão được nhiều người Việt Nam ưa thích và tin tưởng là tục xin xăm bói quẻ. Nói chung những mê tín, dị đoan này được giới bình dân là những người ít học tin tưởng. Ngày nay rất nhiều chùa Phật giáo vẫn còn tục lệ xin xăm bói quẻ thì đủ biết tinh thần Phật pháp sa sút đến chừng nào.


    Dựa theo sự phân tích ở trên thì đạo Lão gần gũi với đạo Phật hơn đạo Nho. Hai tư tưởng Phật giáo và Lão giáo tuy có đôi phần giống nhau về khuynh hướng siêu hình và tiêu cực đối với nhân sinh, nhưng về thực chất thì Lão giáo và Phật giáo hoàn toàn khác biệt. Đạo Lão lấy bản thể làm Đạo và theo pháp Tự Nhiên; và họ coi vũ trụ vạn hữu đều do tự nhiên mà sinh ra. Trong khi đó Phật giáo lấy bản thể làm Tâm cho nên vũ trụ vạn vật có đều do tâm. Vì không thông hiểu sự dị biệt mới sinh ra trào lưu “Nho, Thích, Đạo: Tam giáo đồng nguyên”. Chính trào lưu này đã làm cho Phật giáo bị biến thể. Mê tín dị đoan là niềm tin nơi sự tế độ của thần linh, nhất là những khi con người gặp phải tai nạn, bệnh tật, hay những điều bất trắc xảy ra trong cuộc sống. Người ta coi Phật như một vị thần linh có thể ban phước hay cứu độ nên đã cầu Phật như cầu các vị thần linh khác. Vì thế, người đệ tử Phật không còn nương tựa vào Chánh pháp, vào tam tạng kinh điển, vào tham thiền, niệm Phật, vào khả năng tự giác của mình mà chạy theo bùa chú, cờ phướng đèn lồng, đánh trống thổi kèn để trừ ma yểm quỷ.

    Mặc dù Phật giáo du nhập vào Trung Hoa rất lâu, nhưng người Trung Hoa tin tưởng sai lầm rằng Đức Phật và các bậc thánh nhân của Trung Hoa như Lão Tử và Trang Tử đã nhận ra cùng chân lý giống như nhau. Tuy Lão Tử và Khổng Tử là những vị thánh của thế gian, nhưng duy chỉ có Đức Phật là vị thánh của cả thế gian và xuất thế gian. Vào cuối thế kỷ thứ 4, có Ngài Huệ Viễn (334-416) sơ tổ của Tịnh độ tông Trung Hoa là một người trước kia theo Lão giáo và ngay cả sau khi tin theo Phật giáo vẫn còn dùng những tác phẩm của Trang Tử để diễn giải về Phật giáo. Vào thế kỷ thứ 3 có Vương Phù sống vào đời Huệ Đế nhà Tây Tấn thường tranh luận với vị Tăng Phật giáo là Bách Viên, nhưng lần nào cũng thua nên viết một cuốn sách khá nổi tiếng, trong đó ông trình bày một cách trơ trẻn rằng Phật giáo như là kết quả của “sự giáo hóa những người man rợ” do Lão Tử thực hiện. Ngay cả đến thế kỷ thứ 5, rất nhiều người theo Lão giáo vẫn xem Phật giáo như một phương pháp được vận dụng thêm để đạt đến mục đích của Lão giáo.


    Trong thời cận đại, bộ phim Tây Duy Ký mà tác giả và đạo diễn Ngô Thừa Ân đã dựa vào cuốn Đại Đường Tây Vực Ký của Ngài Huyền Trang làm thành phim, nhưng ông ta đã xuyên tạc và bôi bác Phật giáo khiến những vị cao tăng như Hòa Thượng Hư Vân phải lên tiếng như sau :


    “Trong đời Đường, pháp sư Huyền Trang có viết quyển Tây Du Ký. Nội dung của quyển này vốn là những lời chân thật. Song, truyện Tây Du Ký được lưu truyền trên thế gian hoàn toàn là những lời ma quỷ. Hòa Thượng Bạch Vân ở chùa Bạch Vân giảng kinh Đạo Đức, khiến rất nhiều đạo sĩ (tín đồ Lão giáo) xuất gia làm tăng sĩ. Do đó, các đạo sĩ tại Trường Xuân Quán, không vừa lòng, nên nói dối là theo lệnh quán quân, sửa Trường Xuân Quán thành chùa Trường Xuân và chùa Bạch Vân thành Bạch Vân Quán. Các đạo sĩ tự viết ra quyển tiểu thuyết Tây Du Ký để phỉ báng Phật giáo.

    Xem xét kỹ càng quyển tiểu thuyết Tây Du Ký này thì sẽ thấy chân tướng của họ. Sự lợi hại nhất là họ chẳng hề ghi lại việc pháp sư Huyền Trang mang kinh vượt qua các bãi sa mạc mà trở về bổn quốc. Họ viết là pháp sư Huyền Trang chỉ lưu lại sáu chữ “Nam Mô A Di Đà Phật”. Những kinh điển do pháp sư Huyền Trang phiên dịch, họ hoàn toàn bỏ qua không nhắc đến. Thế nhân rất tin tưởng vào quyển truyện Tây Du Ký giả dối đó, khiến quyển Tây Du Ký chân thật lại bị chôn vùi. Để đối đầu lại quyển Tây Du Ký giả dối, các Phật tử viết ra bộ Phong Thần để phỉ báng các đạo sĩ. Quyển truyện này nói rằng các đạo sĩ, dầu tu bao số kiếp, nhưng vẫn còn tâm sân hận chém giết lẫn nhau. Xem hai quyển truyện này, nếu không biết rằng chư Phật tử cùng các đạo sĩ phỉ báng lẫn nhau, thì sẽ lầm nhận giả thành chân. Vì vậy, khi xem sách vở thế tục, phải phân biệt rõ những điều thị phi, đúng sai, tà chánh”.


    Nhưng nếu bây giờ nhìn bộ phim Tây Du Ký qua lăng kính của Duy thức học thì những nhân vật chính như Ngài Đường Tăng, Tôn Ngộ Không, Trư Bát giới và Sa Tăng là biểu tượng cho bát thức tâm vương. Tôn Ngộ Không có tài thiên biến vạn hóa, phân biệt chánh tà quá rõ ràng thì ông là đại diện cho “Ý thức”. Trư Bát Giới biểu hiện cho lòng tham đắm dục tình nghĩa là đại diện cho bản ngã tức là “Mạt na thức”. Còn Sa Tăng thì thấy sao biết vậy tức là đại diện cho tiền ngũ thức : “Nhãn thức, Nhĩ thức, Thiệt thức, Tỷ thức và Thân thức”. Tiền ngũ thức tức là cái thấy biết chưa có sự phân biệt. Thí dụ như thấy có người vào nhà thì cái thấy này là Nhãn thức. Nhưng nếu quan sát kỹ thì thấy người đó là người đàn ông cao lớn, ở tuổi 50 thì cái thấy bây giờ là do ý thức phân biệt mà có. Sau cùng Ngài Đường Tăng là đại diện cho “A lại da thức”, là cái kho chất chứa tất cả. Vậy Ngài chất chứa cái gì? Trong cuộc hành trình dài suốt 17 năm, phải mất hai năm đi và hai năm về, Ngài ghi nhận rất chi tiết tất cả 128 quốc gia lớn, nhỏ khác nhau từ địa dư, phong tục, tôn giáo…Và quan trọng hơn hết là Ngài đã thâm hiểu rất tường tận những kinh điển mà trong suốt 13 năm Ngài du học ở Ấn Độ.


    Ngay cả những danh từ Phật học được dịch từ Phạn ngữ cũng bị đệ tử Lão giáo bóp méo. Thí dụ chữ “đạo” theo Phật giáo là con đường. Còn theo Lão Tử thì “đạo” là căn nguyên cốt lỏi của muôn vật thế thì ý nghĩa hai chữ đạo hoàn toàn khác biệt, đâu có dính dấp gì nhau. Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo tuy khác hẳn nhau về căn bản tín ngưỡng, nhưng người Trung Hoa và Việt Nam lại tin tưởng lẫn lộn như là một tín ngưỡng. Sự lẫn lộn này đã biến thể đạo Phật khiến Hòa Thượng Thích Thiện Chiếu, một nhà nghiên cứu Phật học nổi tiếng của Việt Nam trong Hội Nam Kỳ Nghiên Cứu Phật Học đã than rằng :


    - Đau đớn thay! Lạ lùng thay! Muốn bênh vực rằng Phật giáo không phải là một đạo mê tín hoang đường, thì sờ sờ ra đó biết bao nhiêu là chuyện huyển hoặc hoặc dị đoan. Muốn bào chữa cho Phật giáo không phải là một đạo hữu thần, thì nhan nhãn ra đó cũng cầu xin, cũng chuộc tội, có khác nào những kẻ ỷ lại thần quyền.


    Thượng Tọa Thích Tuệ Giác cũng nói rằng :


    - Thời kỳ suy đồi. Phật giáo bị phái nhà Nho công kích không được nhà vua săn sóc đến nữa, lâu dần thành một tôn giáo của dân chúng, không có tổ chức, hệ thống gì nữa. Các tăng ni phần nhiều là ít học, bày ra các mối dị đoan, các lễ nghi phiền phức. Còn giáo lý cao siêu của nhà Phật ít người hiểu đến.


    Ngay cả học giả Trần Trọng Kim cũng thốt lên rằng :


    -    Ai đem sự mê tín mà theo đạo Phật là người làm điều trái hẳn với đạo Phật.


    Tam giáo và mê tín dị đoan đã ảnh hưởng sâu rộng đến tín ngưỡng, văn hóa và tập quán của người Trung Hoa cũng như ăn sâu vào cuộc sống của người dân Việt Nam cho nên tục thờ thần, thờ cúng ông bà, thần tài, Quan Thánh, Phật Bà Quán Âm, Thánh Mẫu, xin xăm bói quẻ…được phổ biến khắp nơi.


    Tử vi bói toán là một khoa chuyên giải đoán về vận mệnh, tình duyên, gia đạo, thời vận thịnh suy, chọn ngày giờ tốt để khai trương, động đất, chọn hướng nhà tùy theo tuổi, chọn ngày cưới gả hay chôn cất, xem tuổi cho hôn nhân cũng như hóa giải xung khắc vợ chồng dựa vào ngày, giờ, tháng và năm sinh của họ. Khoa tâm lý học của Tây phương ngày nay xác định rằng những người thích tử vi bói toán là những người mê tín dị đoan thường tin vào vào những đấng thần linh nếu là Phật tử thì họ xem Đức Phật là một đấng linh thiêng tối cao có thể ban vui giáng họa. Đây là những người có tâm mong cầu và bất an nghĩa là những người thiếu tự tin nơi chính mình và dĩ nhiên không có định hướng cho cuộc sống.

    Đạo Phật dạy chúng sinh tin sâu vào nhân quả, tin vào khả năng tự hóa giải hết vô minh phiền não của chính mình mà giáo lý Đức Phật chính là con đường sáng, là ngọn đuốc tuệ để chúng sinh nương theo đó mà đi. Dựa theo đạo Phật thì không có tha nhân nào có thể ban vui hay giáng họa cho ai cả. Những bất hạnh khổ đau hay những hạnh phúc chúng sinh thọ báo trong đời này chẳng qua chỉ là những quả báo mà họ đã tạo tác từ đời quá khứ hiện đến mà thôi. Con người không thể trách trời, oán Phật vì những bất hạnh đau khổ của cuộc đời vì nó là quả báo do chính họ đã tác tạo chớ Phật trời không can dự vào. Muốn hạnh phúc thì nên làm thiện, bố thí, gây nhân đức. Ngược lại làm chuyện bạo tàn, gây nhân ác, lợi mình hại người thì phải chịu quả khổ thế thôi. Nếu chúng sinh có thể phá bỏ được vị ngã (bớt tham-sân-si) khiến họ bớt tham cầu cho riêng mình thì tâm họ được rỗng rang, nhẹ nhàng, thanh thoát cho nên chính họ sẽ có cuộc sống an vui tự tại và chuyện gia đạo vợ chồng con cái cũng vì thế mà có hạnh phúc và không còn rắc rối.

    Con người có khổ cũng bởi vì cố bám víu vào cái bản ngã giả tạo nên cái gì cũng vì mình, cho mình làm cuộc sống trở thành bất toại ý bởi vì càng tham thì càng khổ cũng như người đang khát mà uống nước muối vậy, càng uống càng khát. Nhà cửa, vật dụng là những vật vô tri, vô giác ngay cả ngày giờ cũng là giả tạm do con người đặt ra. Phước đức phải tạo mới có, phải vun bồi mới được chớ không thể sửa cái giường, cái bếp thì được giàu sang phú quý. Phước là làm lợi ích cho người mà có còn đức là cái tốt của tự tâm. Tâm có tốt thì việc làm thiện mới được chu đáo và lâu bền còn đức có sâu thì phước mới lớn. Vì thế, khi làm việc thiện con người nên củng cố thêm chất tốt của nội tâm mình. Ngược lại, nếu có người làm phước mà không có đức tức là giúp người với lòng vị kỷ thì cái phước sẽ không thể phát triển rộng lớn được.

    Người Tây phương đâu có biết phong thủy mà họ có cuộc sống giàu sang sung túc vì họ biết bố thí, cúng dường, làm phước trong khi người Trung Hoa thì lúc nào cũng tin tưởng phong thủy, cúng sao giải hạn, đốt giấy tiền vàng mà tại sao cả tỷ dân, cái nghèo, cái khổ nó vẫn đeo đuổi hoài? Đối với Phật giáo, thì ngày nào, giờ nào, tháng nào cũng tốt cả nếu chúng sinh có tâm thiện, tâm tốt. Ngược lại tâm không sáng suốt, bất thiện cho dù có chọn ngày Thìn, giờ Mẹo cũng gặp bất hạnh như thường. Nhà tỷ phú Bill Gates đâu có chọn ngày giờ để mở công ty Microsoft mà ông vẫn thành công như diều gặp gió, còn chúng ta thì nay tin theo phong thủy, mai chọn hướng, mốt sửa giường sửa bếp mà tại sao cái nghèo, cái khổ cứ đeo mãi trên vai? Giàu có là do phước đức chớ không phải do ông thầy bói. Vì thế Phật dạy rằng :


    Chư ác mạc tác


    Chứng thiện phụng hành


    Tự tịnh kỳ ý


    Thị chư Phật giáo


    Nghĩa là :


    Tất cả các nghiệp ác chớ có làm


    Nên làm tất cả các việc lành


    Cố gắng làm cho tâm ý được thanh tịnh


    Đó là lời dạy của chư Phật.


    Đạo Phật phát xuất từ Ấn Độ, tư tưởng Đại thừa cũng phát xuất từ Ấn Độ chớ không phải khởi nguyên từ Trung Hoa thế mà khi đạo Phật truyền sang đất nước này liền bị quốc hữu hóa và họ biến Phật giáo từ một tôn giáo không có tín ngưởng trở thành tôn giáo với vô số thần linh mê tín dị đoan. Phật giáo là một tôn giáo tự nó chứa đựng một nền triết lý cao siêu nhất, là mẹ đẻ của tất cả những triết lý Đông Tây từ cổ đến kim. Nó bao gồm từ tục đế (thế giới hiện tượng) đến chân đế (thế giới bản thể vô vi thanh tịnh) là đệ nhất nghĩa đế. Phật giáo khai thị giúp chúng sinh thấu biết rõ ràng, rốt ráo, tự mình rời sự tướng mà nhập vào bản thể thanh tịnh để có an vui tự tại. Chẳng những thế, giáo lý Đức Phật rất thực tế giúp chúng sinh có sự an lạc trong mọi hoàn cảnh, mọi tầng lớp chớ không ảo huyền bi quan tiêu cực như Lão giáo. Thế mà những đạo sĩ Trung Hoa vì nặng óc phong kiến, tán kỷ hủy tha cho nên họ mới ngông cuồng lý luận rằng Phật giáo là do Lão giáo mà ra.
     

    7) Phật Giáo Mật Tông :


    Ở Ấn Độ, vào thế kỷ thứ 7 được xem như là thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất của Mật giáo với sự xuất hiện của bộ kinh Đại Nhật (Mahàvairocana sutra) dưới triều đại của vương triều Pàla (750-1150) ở Bengale. Chính nhà vua Dharmapala đã nhiệt thành ủng hộ xây dựng tu viện Vikramasilà để làm trung tâm truyền bá Mật giáo. Ngài Long Thọ (Nagarjuna) (600-650) thuộc dòng Bà la môn, sau nhiều năm tu học tại tu viện Nalanda và sau đó đến Vương Xá tu thêm 12 năm thì đắc thành quả Đại thủ ấn tất địa (Mahamudrasiddhi). Từ đó ông được xem là vị Tổ sư của Mật giáo. Phật giáo Tây Tạng “cho rằng” Long Thọ (thế kỷ thứ 7) và Long Thọ luận sư (Bồ-tát Long Thọ tác giả của bộ Luận Đại Trí Độ) của thế kỷ thứ 2 là một. Long Thọ có một đệ tử truyền pháp là Long Trí. Long Trí cũng thuộc dòng Bà la môn, nhưng lại thường đi ăn trộm. Một hôm, Ngài Long Thọ đang ở tịnh xá Suvarna, Long Trí đến rình xem thấy Ngài Long Thọ đang ăn bằng một cái bát vàng nên có ý định đánh cắp. Ngài Long Thọ biết tâm ý của Long Trí, liền ném cái bát cho Long Trí. Hết sức kinh ngạc và cảm phục, Long Trí xin đi theo tu học và được Long Thọ làm phép quán đảnh (thọ quy y) nhập môn. Sau 12 năm tu luyện, Long Trí cũng chứng ngộ thánh quả.


    Ở nam Ấn Độ, có Ngài Kim Cương Trí (Vajrabohhi) (663-723) lúc mới 15 tuổi đã qua Tây Ấn học về Nhân Minh Luận với Ngài Pháp Xứng, sau đó tham học về Luật, Trung Quán Luận, Du Già Luận, Duy Thức Luận và sau cùng đến nam Ấn tu học và nghiên cứu Kim Cang Đỉnh (Vajra-Sekhàra) với Ngài Long Trí gần 7 năm. Năm 720, Ngài qua Trung Hoa và đến Lạc Dương để truyền bá Mật giáo. Ngài là vị Tổ đầu tiên của Mật tông Trung Hoa đồng thời với Ngài Thiện Vô Úy.


    Ngài Kim Cương Trí có một đệ tử rất xuất sắc là Bất Không Kim Cương (Amoghavajra). Ngài gốc là người bắc Ấn Độ, thọ Sa di năm 15 tuổi, theo thầy đến Lạc Dương và thọ Tỳ kheo giới năm 20 tuổi. Sau 12 năm tu thông suốt mật giáo, lúc đó Ngài Kim Cương Trí đã mất, liền cùng với các đệ tử qua Tích Lan nghiên cứu giáo lý Kim Cương đỉnh du già và Đại Nhật thai tạng. Khi về lại Trường An, Ngài mang theo rất nhiều kinh điển và bắt đầu dịch thuật. Ngài còn là Quốc sư của ba triều vua Huyền Tông, Túc Tông và Đại Tông.


    Ngoài Kim Cương Trí, Ngài Long Trí còn có một đệ tử xuất sắc khác nữa là Ngài Thiện Vô Úy (Subhakarasimha) (637-735). Trước khi xuất gia và tu học ở tu viện Nalanda, ông là một vị vua xứ Orissa. Ông rất thâm hiểu chân ngôn và ấn quyết của Du già nên đến năm 716, Ngài đến Trung Hoa vào đời vua Huyền Tông trước Ngài Kim Cang Trí 4 năm, đuợc coi là vị Tổ sư Mật tông Trung Hoa và được nhà vua trọng đãi. Công trình dịch thuật của Ngài gồm có Đại Nhật kinh, Tô Tất Địa Yết La kinh…và những đệ tử xuất sắc của Ngài có Ngài Nhất Hạnh, Huyền Siêu, Minh Trí, Nghĩa Lâm…


    Mật giáo Ấn Độ được khởi xướng và truyền bá do các cao tăng như Long Thọ, Long Trí, Kim Cương Trí và Thiện Vô Úy. Trên phương diện giáo nghĩa và hành trì thì họ chia mật giáo thành hai phái Chân ngôn thừa (Mantrayàna) và Kim Cương thừa (Vajrayàna) dựa theo hai bộ kinh Đại Nhật và Kim Cương Đỉnh. Nhưng khi truyền qua Trung Hoa thì hai dòng phái được hợp nhất vào thời Ngài Nhất Hạnh. Ở Trung Hoa, tuy không chiếm giữ địa vị lớn như Phật giáo Đại thừa, nhưng mật tông cũng phát triển mạnh và đã ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn hóa nghệ thuật Trung Hoa.


    Triết lý của Mật tông dựa trên triết lý Bát nhã Ba-la-mật (Prajnãpàramita) và giáo lý Hoa Nghiêm cộng thêm với Duy thức học. Triết lý và phương pháp hành trì của Mật tông cơ bản vẫn được xây dựng theo tiến trình Giới-Định-Tuệ như tất cả mọi đường lối tu tập khác của Phật giáo để cuối cùng thể nhập thực tại của tánh Không và Vô Ngã. Giáo lý của Mật tông thì thâm sâu, nghĩa lý quá bí mật và phương pháp tu hành vô cùng phức tạp cho nên đòi hỏi hành giả phải nghiên cứu sâu rộng và hành trì nghiêm túc may ra mới có cái nhìn chính xác và đầy đủ. Chính sự phức tạp và huyền bí nên mật tông chỉ truyền qua Tây Tạng, Trung Hoa và Mông cổ mà khó phát triển ở những nơi khác.

    8) Phật Giáo Mật Tông Tây Tạng :


    Sự phát triển của Phật giáo Tây Tạng có những nét đặc thù mà có lẽ không nước nào khác trên thế giới có được. Vào năm 641 vua Đường Thái Tông của Trung Hoa gã công chúa Văn Thành cho vua Tây Tạng. Vị công chúa này là người thông minh, có học và là một Phật tử thuần thành. Vua Tây Tạng còn có một người vợ khác là công chúa Ba-lợi-khố-cơ của nước Ni-bạc-nhĩ cũng là người có học thức nên cả hai khuyên nhà vua cử người sang Ấn Độ và Trung Hoa để thỉnh các vị Tăng sĩ Phật giáo đến Tây Tạng truyền pháp và đồng thời cũng cử một phái đoàn gồm 18 người do đại thần Thon-mi-sandhota dẫn đầu sang Ấn Độ du học. Khi học xong, những người này về nước bèn chế ra chữ viết riêng cho Tây Tạng dựa theo chữ viết tiếng Phạn để có thể phiên dịch kinh điển Phật giáo sang Tạng ngữ. Sự hình thành một loại chữ viết và việc phiên dịch kinh điển Phật giáo sang Tạng ngữ là một công trình hết sức phức tạp, nhưng chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn làm mọi người hết sức kinh ngạc. Nữa thế kỷ sau đó, năm 710 vua Đường Duệ Tông lại gả công chúa Kim Thành cho vua Tây Tạng đời thứ 35 là Khí-lệ-xúc-tán.

    Vị công chúa này lại mang đến Tây Tạng rất nhiều kinh thư và sách vở của Trung Hoa. Năm 787, ngôi chùa đầu tiên của Tây Tạng có tên là chùa Samye (Tang duyên) được xây dựng và hoàn thành về phía đông nam thủ đô L’hasa và đây là nơi mà vị cao tăng Ấn Độ Santaraksita (Tịch Hộ) đến hoằng hóa trong suốt 13 năm thể theo lời mời của vua Trisong Detsen. Sau đó có nhiều ngôi chùa khác được xây dựng khắp nơi và nhiều vị cao tăng Ấn Độ được mời sang Tây Tạng để hoằng pháp. Thời gian này được xem là thời kỳ phát triển mạnh nhất của Phật giáo Tây Tạng. Với sự hỗ trợ của vua Khri-ral-pa-can, Phật giáo đã đẩy lui những ảnh hưởng của tôn giáo thần chú, bùa ngãi địa phương Bon Pa. Mặc dù Phật giáo phát triển mạnh, nhưng người dân Tây Tạng vẫn ưa chuộng huyền thuật hay phép màu do ảnh hưởng lâu đời của đạo Bon Pa để lại. Ảnh hưởng này ngấm ngầm chi phối dân Tây Tạng trong việc tiếp nhận các luồng tư tưởng Phật giáo khác nhau. Theo chiều dài của lịch sử, Phật giáo Tây Tạng chịu ảnh hưởng của bốn luồng tư tưởng; đó là :


    1) Luồng tư tưởng này đến từ phương Nam và là sự tổng hợp các tư tưởng đại thừa do một số học giả bậc nhất của đại học Ma-kiệt-đà truyền đến. Họ đã sắp xếp nội dung bộ Bát Nhã Ba-la-mật thành 25,000 bài kệ có đánh số rõ ràng và đây được xem như là bước đầu tiên trong việc thiền quán về bộ kinh này. Vì đã được chú giải trước ở Ấn Độ nên khi truyền đến Tây Tạng thì bộ Hiện Quán Trang Nghiêm Luận đã trở thành nền tảng căn bản để đào luyện những tư tưởng cao hơn mà không lệ thuộc hệ thống mật tông.


    2) Luồng tư tưởng thứ hai đến từ phía Đông là của phái Nhất thiết hữu bộ. Tuy được sự thỉnh mời của vua Tây Tạng, nhưng bộ phái này không bao lâu đã trở thành mờ nhạt vì người dân Tây Tạng không mấy tích cực về những giáo lý mà chỉ thích phép mầu, thần thông.


    3) Luồng tư tưởng thứ ba cũng đến từ phía Đông do các thiền sư Trung Hoa truyền sang. Các vị này đã có rất nhiều nỗ lực để chuyển lối sống của người dân Tây Tạng sang theo lối đại thừa, nhưng sau đó vì ảnh hưởng của mật tông nên họ đã bị thất bại hoàn toàn và bắt buộc phải rời khỏi Tây Tạng. Khoảng năm 775 có cuộc đấu tranh dữ dội giữa những đồ đệ của các bậc thầy Trung Hoa (đại thừa) và những đồ đệ của bậc thầy mật tông. Các tu sĩ Trung Hoa bị dồn ép ác liệt và kết quả họ bị đuổi ra khỏi xứ này. Đây có lẽ đánh dấu cho sự cáo chung của Phật giáo đại thừa bắt đầu truyền vào Tây Tạng vào thời công chúa Văn Thành.


    4) Luồng tư tưởng thứ tư là do Đại sư Liên Hoa Sanh (Padma Sambhava) được vua Tây Tạng Ngật Lật Song Đề Tán (755-797) thỉnh từ xứ Udyàna, miền bắc Ấn Độ. Khi nhận lời mời đến Tây Tạng, Đại sư còn đem theo 25 vị đệ tử rất nổi tiếng có tài thần thông biến hóa, hàng phục ma chướng tà đạo. Ấn tượng mà Ngài Liên Hoa Sanh tạo ra với Tây Tạng phần lớn là nhờ vào việc thực hiện những phép mầu, có tài chinh phục ma quỷ và khả năng thần thông biến hóa rất gần gũi với đạo Bon Pa nên được dân Tây Tạng tiếp nhận rất cuồng nhiệt. Những huyền thoại để lại về Ngài có thể là đã vượt qua những sự kiện lịch sử vì dân Tây Tạng xem Ngài là Đức Phật Thích Ca tái thế.


    Sự dung hợp và tiếp thu các luồng tư tưởng theo khuynh hướng đặc thù của người dân Tây Tạng đã biến Phật giáo Tây Tạng đậm màu sắc của những huyền thuật và phép mầu. Ngài Liên Hoa Sanh là người sáng lập ra tông phái Ninh Mã (Nyingma) được gọi là Cổ phái và vẫn còn hoạt động cho đến ngày nay. Ngài cũng là tác giả của cuốn sách “Tử Thư”, xây dựng tu viện Tang Duyên (Samye) và được coi là Tổ sư của Phật giáo Tây Tạng. Vì thế Phật giáo Tây Tạng không còn ảnh hưởng Phật giáo Đại thừa nữa mà được xem như là Phật giáo Mật tông đậm màu sắc thần linh, lễ nghi, bùa chú, ấn quyết, xuất quỷ nhập thần rất phức tạp.


    Tuy nhiên, thế gian việc gì bạo phát thì bạo tàn vì thế việc phát triển quá nhanh chóng của Phật giáo tại Tây Tạng cũng không ngoài ngoại lệ này. Năm 836 khi vua Tây Tạng đời thứ 39 là Lang-dar-ma lên ngôi thì ông cố gắng tích cực để tiêu diệt Phật giáo vì ông là một tín đồ thuần thành của đạo Bon Pa. Sau khi đàn áp Phật giáo được sáu năm thì ông bị một Lạt Ma dùng cung bắn chết vào năm 842. Tuy đã giết chết nhà vua, nhưng tình hình Tây Tạng càng ngày càng đi vào chỗ tối tăm vì các nhóm thế lực tranh dành quyền lực khiến cho nước Tây Tạng bị chia năm xẻ bảy làm cho đời sống dân Tây Tạng cực kỳ khổ sở. Triều đình thẳng tay đàn áp Phật giáo và buộc các tăng sĩ phải đi làm thợ săn, đồ tể…và họ đốt phá kinh điển cũng như chùa chiền. Để chống lại đạo Bon Pa, Phật giáo Tây Tạng tìm cách tái lập quan hệ với Ần Độ để thỉnh mời các tăng sĩ sang truyền pháp.


    Trong khi ở Tây Tạng vua Lang-dar-ma cố tình tiêu diệt Phật giáo thì vào thời điểm đó tức là vào năm 845 ở Trung Hoa cũng xảy ra tình trạng đàn áp và hủy diệt Phật giáo do vua Đường Vũ Tông đề xướng. Nhà vua đã ra lệnh hủy hoại trên 1,600 ngôi chùa lớn và bức bách trên 260,000 tăng ni phải hoàn tục. Vua còn ra lệnh đốt hết tất cả kinh điển Phật giáo, đập phá tượng Phật, tịch thu ruộng đất nhà chùa và thu góp các chuông đồng để đúc thành tiền. Cũng giống như ở Tây Tạng, sau pháp nạn thì nhà Đường ngày càng lâm vào cảnh suy vi, u ám và lọa lạc cho đến năm 907 nhà Đường bị Chu Toàn Trung diệt mất mà lập ra nhà Hậu Lương.


    Một trong số những người đã có công chấn hưng Phật giáo Tây Tạng là Rin-chen Bzangpo (985-1055). Ông đã sang Ấn Độ và được thọ giáo với 70 vị danh tăng cho nên khi về nước ông còn mời rất nhiều vị đến Tây Tạng giúp ông trong việc phục hưng Phật giáo Tây Tạng. Các vị danh tăng Ấn Độ khi vào Tây Tạng có mang theo rất nhiều kinh điển mật tông như: Nhất Thiết Như Lai Kim Cang Tam Nghiệp Tối Thượng Bí Mật Đại Giáo Vương…được dịch sang Tạng Ngữ. Những yếu tố thiên về Mật tông trong thời điểm này khiến cho hầu hết các tông phái Phật giáo ở Tây Tạng đều mang đậm sắc thái của Mật tông.


    Những sự đàn áp của triều đình không bóp chết được niềm tin mãnh liệt đã được nẫy nở trong lòng người dân Tây Tạng vì thế cho dù Phật giáo Tây Tạng chịu đựng sự đàn áp sắp đến chỗ diệt vong đến cuối thế kỷ thứ 10 và mãi đến thế kỷ thứ 11 thì mới được khôi phục. Năm 1041 có Đại sư Atisha (982-1054) lúc bấy giờ đang trụ trì tại tu viện Vrikamalisa ở miền bắc Ấn Độ nhận lời mời của vua Yeshe-O để đến Tây Tạng.

    Ông lấy triết học Tánh không và Duy thức làm tư tưởng cho Phật giáo Tây Tạng và đã sắp xếp toàn bộ hệ thống kinh sách làm ảnh hưởng rất lớn đến các hệ tư tưởng Mật tông Tây Tạng. Ông nghĩ rằng một trong những khó khăn của Phật giáo là có quá nhiều pháp môn để tu giải thoát nên ông giới thiệu tác phẩm “Minh Đăng Thánh Đạo” để giúp chúng sinh thực hành dựa theo ba trình độ phát triển tâm linh. Mức độ thấp nhất là những người muốn tìm cầu hạnh phúc trong thế gian này và chỉ nghĩ đến lợi ích của riêng mình. Mức độ thứ hai là những người cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình, nhưng khôn ngoan hơn là chọn một cuộc sống đạo đức và tìm cầu trong sạch. Mức độ cao nhất là những người trong tâm đã hoàn toàn thanh tịnh giải thoát. Nhưng tác phẩm này chỉ được phát huy tối đa vào khoảng 300 năm sau với sự xuất hiện của Ngài Tông-khách-ba (Tsong Khapa). Đại sư Tông-khách-ba (1357-1419) sinh tại Amdo thuộc vùng đông bắc Tây Tạng, xuất gia lúc còn nhỏ và tham học với nhiều vị đại sư khác nhau. Ông sáng lập ra tông phái Hoàng mạo phái (phái mũ vàng) (Gelugpa), một tông phái quan trọng nhất của Tây Tạng hiện nay. Ông chủ trương xét lại toàn bộ kinh điển và tổng kết thành hai tác phẩm chính: Bồ-đề đạo thứ đệ (Lamrin Chenmo) tiêu biểu cho đường lối tu tập Hiển giáo và Chân nhôn đạo thứ đệ (Ngagrim Chenmo) tiêu biểu cho đường lối Mật Giáo. Trước khi mất, Ông di chúc lại cho hai đệ tử là Dalai Blama và Panchen Blama tức là Đạt-Lai Lạt-Ma (từ bi) và Ban thiền Lạt-Ma (trí tuệ).


    Sự hình thành của các tông phái Phật giáo Tây Tạng diễn ra khoảng 400 năm do chính người Tây Tạng thành lập cho thích hợp với tinh thần và xã hội của họ mà yếu tố huyền thuật, phép mầu hay thần thông hầu hết đều mang nặng màu sắc của Mật tông đã từng gắn bó lâu dài với người dân bản xứ. Để chống lại sự đàn áp của nhóm Bon Pa, Phật giáo Tây tạng đã được tổ chức thành những môn phái, giáo hội, nhưng chính sự tổ chức nầy đã đưa Phật giáo vào con đường suy vong. Vì có nhiều giáo hội, tông phái dần dần các tu sĩ đã trở nên lười biếng, không giữ gìn giới luật và coi việc tu hành như một nghề nghiệp hướng dẫn tinh thần cho quần chúng hơn là tu thân cầu giải thoát. Tệ hại hơn nữa, các nghi thức hành lễ để suy gẫm lời Phật dạy đã biến thành cúng vái, xin xỏ, lên đồng, nhập cốt, giải đáp là số tử vi, bùa chú thư phù…Các tinh hoa Phật pháp được cất giữ không mang ra giảng dạy mà chỉ đề cao hình thức bề ngoài. Các tu sĩ không chịu tu học mà chỉ đặt trọng tâm vào việc sắc tướng như kêu gọi Phật tử xây chùa, đúc tượng để được phước. Truyền bá những chuyện mê tín hoang đường để lôi kéo tín đồ thay vì giúp họ tu hành để được giải thoát giác ngộ. Họ còn cho phép các tu sĩ được lấy vợ và được thừa kế tức là nếu cha là Lạt Ma thì con đương nhiên cũng thành Lạt Ma khỏi cần tu học. Ở Tây Tạng có rất nhiều tông phái, nhưng đại để có những tông phái mà những vị tổ sư đã làm sáng danh Phật giáo Tây Tạng cho đến ngày nay là :


    1) Phái Kadampa là do đệ tử của Đại sư Atisha là Ngài Gyalwa Dromtonpa thành lập vào khoảng năm 1050. Tông phái này tiêu biểu cho truyền thống trung tâm của Phật giáo Tây Tạng.


    2) Phái Kagyu do Ngài Marpa Lotsawa sáng lập. Tông phái này dần dần mang đậm bản sắc Tây Tạng nhất so với các tông phái khác và không nắm giữ hoặc chi phối các quyền lực xã hội như các phái Gelugpa…Hiện nay, phái này vẫn còn là một môn phái bảo thủ mạnh nhất và họ xem việc lập gia đình không cản trở đến sự tu hành. Trong phái này có sự xuất hiện của Milarepa (1040-1123) là bậc thánh giả và cũng là nhà thơ vĩ đại của Tây Tạng. Ông nổi tiếng với tác phẩm Thập vạn ca (100,000 bài ca). Trước khi theo Phật giáo, ông tu theo ma thuật để tìm giết hại những kẻ thù của gia đình bằng cách làm cho nhà sập đè lên họ và làm mưa đá rơi trên ruộng của họ. Sau đó nhận biết tội lỗi của mình nên đến tìm gặp Đại sư Marpa để Ngài giúp ông trả hết những ác nghiệp đã tạo bằng cách gánh chịu những cực hình trong suốt 6 năm. Vào năm 44 tuổi thì ông ngộ đạo rồi sống 39 năm còn lại như một nhà ẩn tu trên Hy-mã-lạp sơn gần biên giới Nepal cho đến khi ông viên tịch vì uống sửa có pha thuốc độc của một người ganh ghét ông.


    Truyền thống tái sinh của các vị Karmapa thuộc phái Karma Kagyu được khởi đầu từ thế kỷ thứ 12 nghĩa là sớm hơn so với các vị Đạt-La Lạt-Ma gần ba thế kỷ. Có thể nói họ là những người đầu tiên khởi xướng truyền thống tái sinh tại Tây Tạng.


    3) Phái Shi-byed-pa trước tiên do Phan-dam-pa đề ra là tông phái duy nhất chú trọng đến Bát Nhã nên tông phái này chỉ dành cho thiểu số những người có trình độ cao. Họ dành trọn tâm trí cho việc thực hành thiền ở những nơi cách biệt và không quan tâm đến xã hội nhiều. Họ lấy bộ Trung Quán Luận làm nền tảng tu hành. Đây là sự điều chỉnh những điểm cốt yếu và mặt tâm linh của Phật giáo cho phù hợp với giáo lý mật tông.


    4) Phái Saskya có những nét gần gũi hơn với đời sống thế tục. Sau khi chế độ quân chủ sụp đổ, Tây Tạng không có chính quyền trung ương nên các tăng sĩ của phái này đã nắm lấy chính quyền và truyền ngôi vị lại cho con cháu. Hiện nay họ vẫn còn tồn tại nhưng đã từ lâu không còn nắm quyền cai trị đất nước.


    5) Phái Gelugpa là tông phái nổi tiếng nhất ở Tây Tạng được sáng lập bởi Ngài Tông-khách-ba (Tsong Khapa) (1357-1419) là nhà tư tưởng vĩ đại của Phật giáo Tây Tạng. Ngài là một nhà cải cách và đã tiếp nối công việc hoằng pháp của Đại sư Atisha tức là nghiêm về đạo đức, giới luật và giảm nhẹ ảnh hưởng của pháp thuật bằng cách nhấn mạnh vào khía cạnh tâm linh. Đây chính là phái mũ vàng đã nắm quyền cai trị Tây Tạng cho đến năm 1950 khi Trung Cộng xua quân đánh chiếm đất Tây Tạng. Sự thành công nhanh chóng của Ngài Tông-khách-ba (Tsong Khapa) là vì nhờ ông có rất đông đệ tử, nhờ vào việc thành lập các tự viện và nhờ vào 16 bộ sưu tập các tác phẩm Phật học. Trong số đó có hai tập rất nổi tiếng. Một là trình bày đầy đủ về sáu phép ba-la-mật của đại thừa và tập kia nói rõ những phương thức công phu theo Mật tông. Tập sách đầu có tên là “Từng bước đi lên giác ngộ” là dựa theo từ tập sách Minh Đăng Thánh Đạo của Ngài Atisha. Ngài là vị học giả luôn cố gắng tìm vị trí trung dung giữa những cực đoan, tránh sự thiên lệch và đưa lại sự hòa giải giữa hai phái mũ vàng và mũ đỏ.


    Mãi cho đến vị Đạt-Lai Lạt-Ma thứ 5 là Lobsang Gyatso (La bốc tạng Gia mục thố) thì việc chấn hưng mới được hoàn mãn. Tục lệ thừa kế bị loại bỏ và nhiều kỳ thi về Phật học được tổ chức để gạt bỏ những người mượn áo tu hành làm điều bất chính. Những kinh điển từ trước vẫn được cất kỹ thì nay được mang ra truyền bá sâu rộng để khuyến khích phong trào tu học trong nước. Mọi gia đình được khuyến khích gởi con cái vào các tu viện để trở thành các vị Lạt Ma. Sau đó họ có thể lập gia đình và sống như một người thường. Chỉ khi nào họ phát nguyện xuất gia thì mới được gọi là tu sĩ (Trappa). Vào thế kỷ 15, phái Gelugpa đưa ra một “luận thuyết” cho rằng các vị Bồ-tát như Đức Quán Thế Âm, Di Lặc và chư Phật như Đức Phật A Di Đà chắc chắn đã có hóa hiện ra những hóa thân để làm các vị giáo chủ mà hóa độ chúng sinh. Những hóa thân tái sinh này được các vị cao tăng tìm kiếm và xác nhận rất cẩn thận dựa trên những quy luật rất phức tạp do hội đồng lễ nghi đề ra. Vai trò lãnh đạo của những vị hóa thân tái sinh này là nét đặc thù của Tây Tạng trong suốt gần 5 thế kỷ qua. Tất cả 14 vị Đạt-Lai Lạt-Ma đều xuất thân từ phái mũ vàng nhưng phái mũ đỏ vẫn được tôn trọng và vẫn chiếm số đông.


    Trong cuốn “Tây Tạng Huyền Bí” có diễn tả về cung điện Potala ở Tây Tạng trước khi quân Trung Cộng đánh chiếm đất nước này như sau :


    “Tu thất của Đức Đạt-Lai Lạt-Ma tọa lạc trên nóc điện Potala, vì theo phong tục bản xứ, không ai có quyền được ở chỗ cao hơn Ngài. Một cầu thang vĩ đại xây bằng đá rộng gần bằng một đường lộ đưa đến tư dinh của Ngài. Điện Potala là một tòa cung điện độc lập  xây dựng trên một ngọn đồi. Đó là cơ quan đầu não để giải quyết tất cả mọi công việc chính trị và tôn giáo của xứ Tây Tạng. Đó là trung tâm của quốc gia, mục tiêu của tất cả tư tưởng, nguồn gốc của tất cả mọi hy vọng. Bên trong vòng thành của cung điện, trong những tòa nhà của Ngân Khố Quốc Gia, có dự trữ những khối vàng ròng, vô số những bao đựng đầy ngọc ngà châu báu và những bảo vật quý giá của thời đại cổ xưa nhất…Tiếp tục bước lên đến một điểm cao tột trên nóc điện, tại đây có những lăng tẩm của những vị Đạt-La Lạt-Ma của quá khứ, tức tiền thân của đức Đạt-La Lạt-Ma hiện tại.”


    Hãy nhìn lại lịch sử Phật giáo vào thời Đức Phật còn tại thế. Sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài trở về cung thành Ca tỳ la vệ thăm lại phụ vương và gia đình. Vua cha khẩn thiết yêu cầu Ngài ở lại cung thành vừa làm vua và vừa là vị Phật, nhưng Ngài chỉ chọn một con đường duy nhất là khất sĩ. Khất sĩ ở đây là phải chấp nhận từ bỏ tất cả, từ bỏ tiền tài danh lợi, vợ đẹp con xinh, uy quyền chức tước. Vì sao? Bởi vì đối với phàm nhân thì những thứ đó là hạnh phúc, là niềm vui, là cứu cánh tột đỉnh của cuộc sống. Còn đối với bậc đại thánh thì những hạnh phúc này chỉ là giả tạm phù du, như sương, như khói, như đám mây có tan có hợp và là những sợi dây vô hình cột chặt con người vào vòng hệ lụy khổ đau.

    Có thế lực, uy quyền, danh vọng là có tranh dành, có thủ đoạn hại người lợi mình và dĩ nhiên tội nghiệp cũng vì thế mà tác tạo. Đây là miếng mồi thế tục, là trò chơi của thế gian. Thí dụ làm Tổng Thống Hoa kỳ có thể được xem như là ngôi cao, tột đỉnh quyền uy thế giới hiện nay, nhưng hãy nhìn lại những Tổng Thống gần đây nhất như Clinton, Bush hay ngay cả Obama. Trước khi làm Tổng Thống, tóc da ông nào cũng tươi nhuận, nhưng sau một vài năm thì vị nào tóc cũng bạc đầu. Đủ thấy bình trị thiên hạ là phiền não, thủ đoạn, tranh giành, chém giết chớ đâu phải  dạo chơi chốn hoa viên thanh tịnh an nhàn. Đức Phật xuất thân là một vương tử, giàu sang phú quý, nhưng khi xuất gia làm người tu sĩ thì Ngài trở thành người Khất sĩ (buông bỏ tận cùng). Vì vậy Ngài mới có vô thượng Bồ-đề và vô thượng Niết bàn.


    Các vị Tổ sư khi thành lập mỗi một tông phái đều thể hiện những đặc tính siêu việt của mình trong những yếu tố góp phần tạo nên đời sống thêm phong phú cho Phật giáo Tây Tạng. Tuy các tông phái có sự khác biệt về việc tổ chức tự viện, về màu sắc y phục, về các vị thần bảo hộ hay phương pháp thiền định, nhưng họ luôn có sự tác động và vay mượn lẫn nhau. Sự nổi bật của các vị Đạt-Lai Lạt-Ma đã làm cho nhiều người lầm tưởng rằng các Ngài là những vị lãnh đạo của toàn thể nhân dân Tây Tạng. Nhưng trên thực tế, Tây Tạng có rất nhiều tông phái khác nhau và mỗi phái có một vị lãnh đạo tinh thần tối cao của riêng mình. Vì thế tuy Đức Đạt-Lai Lạt-Ma được xem là người lãnh đạo cao nhất của Tây Tạng về mọi mặt, nhưng mỗi một truyền thống tông phái đều có một vị đứng đầu để dẫn dắt họ.


    Đối với Phật giáo trên khắp thế giới hiện nay, một phần ba thuộc về Phật giáo Nam tông (Nguyên thủy) (Tiểu thừa) (Hynayana), hai phần ba thuộc Phật giáo Đại thừa Bắc tông (Mahayana). Trong khi đó, Kim cang thừa Phật giáo (Vajrayana) chỉ đại diện cho 1/30 số người Phật giáo vì Mật tông giới hạn trong các nơi thưa dân như Tây tạng, Bhutan, Nepal và Mông cổ. Mặc dù Đức Lạt-Lai Lạt-Ma chỉ đại diện cho 1% tín đồ Phật giáo thế giới, nhưng với uy tín của Ngài, người Tây phương vẫn nhìn Ngài như người đại diện cho toàn thể Phật giáo.


    Bắt đầu từ thế kỷ thứ 15, Phật giáo Tây Tạng tôn xưng và thần thánh hóa những vị thầy vì họ tin rằng đây là những vị Bồ-tát hay những vị Tổ tái sinh. Thí dụ như Đức Đạt-La Lạt-Ma là tái sinh của Đức Quán Thế Âm Bồ-tát nghĩa là đại diện cho lòng từ bi. Đây là dựa theo lối giải thích “bí truyền” của Mật tông Tây Tạng, nhưng dựa theo Phật giáo Đại thừa thì thật ra trong mỗi chúng sinh ai cũng là Quán Thế Âm, ai cũng là Đại Thế Chí hay Văn Thù và Phổ Hiền cả vì ai ai cũng đều có Phật tánh như nhau cho nên trong tất cả chúng sinh đều có “tự tánh từ bi và trí tuệ”. Nhưng con người vì bị cái vỏ cứng vô minh che phủ bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp nên không thấy cái Phật tánh thiêng liêng sáng suốt huyền diệu thanh tịnh nhiệm mầu của mình nên mới cầu Phật, Bồ-tát ở bên ngoài. Vì thế khi mê thì thấy có chúng sinh, có Bồ-tát, có Phật đến khi thức tỉnh giác ngộ thì thấy tất cả chúng sinh đều là Phật. Vì sao? Khi mê chúng sinh chỉ dùng mắt thịt để nhìn cho nên họ chỉ thấy người cao kẻ thấp, người sang kẻ hèn, quần là áo lụa, quyền cao chức trọng, nhà cao cửa rộng nên tâm vọng động mà sống trong phiền não khổ đau nên mới có trông mong cầu nguyện để thỏa mãn tánh tham của mình.

    Đến khi thức tỉnh thì nhìn thế gian bằng pháp nhãn thanh tịnh (mắt trí tuệ) mà thấy được thật tướng, chơn tâm, Phật tánh của tất cả mọi người nên họ thấy ai cũng là Phật, cũng bình đẳng như nhau. Nếu con người biết thức tỉnh để phát triển và sống với lòng từ bi vô lượng để thương yêu mọi người không phân biệt thân sơ, màu da sắc tộc vì chúng sinh và mình là một thì Đức Quán Thế Âm (tâm đại từ đại bi) hiển hiện trong tâm mình, ngược lại nếu sống trong vô minh, chạy theo tham đắm dục tình, làm nô lệ cho tư kỷ cá nhân thì cho dù có cầu nguyện, van xin, cúng vái thì Đức Quán Thế Âm cũng biến mất. Vì thế Đức Quán Thế Âm, Ngài Phổ Hiền là tượng trưng cho lòng từ bi của chúng sinh. Ngài Đại Thế Chí, Đức Văn Thù là đại diện cho trí tuệ sáng suốt vô phân biệt (căn bản trí) của mọi người. Ngài Tông Khách Ba vào thế kỷ thứ 14 đã lập hai vị đệ tử là Ban Thiền Lạt Ma và Đạt-Lai Lạt Ma. Ban Thiền tượng trưng cho trí tuệ và Đạt-Lai là biểu tượng của từ bi.

    Khi Trung Cộng xua quân đánh chiếm nước Tây Tạng năm 1950 thì cả hai Ngài Ban Thiền và Đạt-Lai còn kẹt lại Tây Tạng. Tháng 4 năm 1959, sau chín năm bị giam lỏng ở Potala, Đức Đạt-Lai trốn thoát và tỵ nạn tại Dharamsala tức Little L’hassa gần biên giới Tây Tạng và Ấn Độ cho đến ngày nay. Trong khi Đức Đạt-Lai trốn được qua Ấn Độ, Ngài Ban Thiền thứ 10, Lhundrup Choekyl Gyaltsen, còn bị kẹt lại và đã viết bài kiến nghị dài bảy mươi nghìn chữ để tố cáo cho thế giới về cảnh ngộ khốn cùng của đồng bào Tây Tạng dưới sự thống trị của Trung Cộng. Ngài đã bị đảng Cộng Sản Trung Quốc và Mao Trạch Đông lăng mạ và  kết án 14 năm trong tù hay cấm cố tại nhà. Tháng 12 năm 1964, Ngài bị đưa đến Bắc Kinh dưới tội danh “phản cách mạng” và bị đánh đập tàn nhẫn. Năm 1978, sau khi được trả tự do, Ngài du hành khắp Tây Tạng và tiếp tục phê bình chính sách cai trị bạo tàn của Trung Cộng.Chẳng bao lâu sau đó, Ngài bị bắt trở lại và ngày 28 tháng giêng năm 1989, Ngài được nói là đã trút hơi thở cuối cùng trong hoàn cảnh rất bí mật, hưởng dương 51 tuổi. Để tiếp tục truyền thống của Phật giáo Tây Tạng, năm 1995 Đức Đạt-Lai Lạt-Ma đã chứng nhận Gendun Choekyi Nima là Đức Ban Thiền thứ 11, nhưng sau đó Bắc Kinh đã bắt cóc vị này cùng với cha mẹ và họ bị mất tích cho đến ngày nay. Trung Cộng sau đó tự chọn một cậu bé khác tên là Gyaltsen Norbu để ngồi vào chức vị Ban Thiền Lạt Ma thứ 11, người mà hầu hết nhân dân Tây Tạng tẩy chay. Đức Đạt-Lai Lạt Ma thứ 14 hiện nay đã lớn tuổi, nếu một ngày nào đó Ngài viên tịch thì chắc chắn Trung Cộng sẽ chọn một vị Đạt-Lai mới cũng giống như Ngài Ban Thiền thứ 11 thì truyền thống Phật giáo Tây Tạng sẽ mai một. Vì là biểu tượng cho từ bi nên Đức Đạt-Lai Lạt Ma tuy thuyết pháp khắp mọi nơi trên thế giới, nhưng Ngài chỉ chuyên giảng giải và dạy chúng sinh phát huy lòng từ bi, nhân ái mà ít khi nói đến trí tuệ Bồ-đề. Nhưng trong đạo Phật, từ bi và trí tuệ phải đi đôi, bổ sung cho nhau, thiếu một thì mất thăng bằng. Có Văn Thù thì phải có Phổ Hiền, có Đại Thế Chí thì phải có Đức Quán Thế Âm.
     

    “Ta không là Thượng đế, cũng không phải là thần linh, mà chỉ là một con người, nhưng con người đã chiến thắng thế gian”.


    Đức Phật đã chiến thắng thế gian, nhưng Ngài không cần ngai vàng để ngự trị và cũng không cần thần dân để được tôn vinh. Ngài sống rất thảnh thơi với ba mảnh y và một bình bát, nhưng chiến thắng được tâm mình để sống với chơn tánh mới là cái chiến thắng vĩ đại của bậc Đại giác, Đại hùng vậy. Chỉ sau khi Ngài nhập diệt, con người mới tôn thờ Ngài, sùng tín Ngài như các vị thần linh. Tóm lại, Đức Phật chỉ là một đạo sư, là ngọn đuốc tuệ để giúp chúng sinh nương theo đó mà tìm ra con đường sáng, con đường giải thoát giác ngộ cho chính mình.


    Để giải thích mối quan hệ giữa lòng tin và trí tuệ, Đức Phật dạy rằng :


    “Người có lòng tin mà không có trí tuệ thì thường làm tăng trưởng vô minh. Người có trí tuệ mà không có lòng tin thì thường làm tăng trưởng tà kiến”.


    Trí tuệ ở đây cần được hiểu là năng lực suy xét và phán đoán mọi sự việc cho nên nếu trí tuệ không có lòng tin vào Chánh pháp thì người tu tập dễ rơi vào tà kiến, tăng trưởng tự cao, tự đại, luôn cố chấp không thấy được chỗ sai lầm của mình. Ngược lại, người có lòng tin vào Chánh pháp mà thiếu đi trí tuệ để nhận hiểu và phân biệt đứng đắn thì dễ dàng lún sâu vào chỗ si mê, tăm tối, mê tín dị đoan. Vì thế mà trong Bát Chánh Đạo tức là tám con đường chân chính giúp chúng sinh chuyển cuộc sống từ phàm đến thánh chỉ có chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định mà không hề có chánh tín. Đức Phật không phải là đấng thần linh nên Ngài không bắt buộc chúng sinh phải tin vào Ngài một cách tuyệt đối. Ngược lại, Đức Phật dạy chúng sinh phải tư duy quán chiếu, suy nghiệm những lời Phật dạy một cách khách quan, đứng đắn thì mới có lợi ích cho mình. Đức Phật muốn chúng sinh thấu hiểu chánh pháp để thấy biết đúng, suy nghĩ đúng mà có cuộc sống thanh bình an lạc thì lúc đó con người đâu còn tin vào tà kiến, mê tín dị đoan. Vì thế hãy lắng nghe thông điệp của Đức Phật chính là con đường sống cao thượng của cuộc đời :


    “Hãy tránh xa tất cả những hành động tội lỗi, trau dồi cuộc sống bằng những hành động tốt, thanh lọc tâm trí khỏi những ý nghĩ bất tịnh”.
    Trước khi nhập diệt, Đức Phật dạy rằng:


    “Các con là những hải đảo, những ngọn đuốc cho chính mình. Hãy nương tựa vào chính mình, không nương tựa vào nơi nào khác”.
    Trong kinh Pháp Cú, Phật lại dạy thêm :


    “Các con hãy tự thắp đuốc lên mà đi! Các con hãy lấy Pháp của ta làm đuốc! Hãy theo Pháp của ta mà tu giải thoát! Đừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác, đừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác, ngoài các con”.


    Và sau cùng Đức Phật dạy rằng :


    “Các con hãy tự cố gắng, Như Lai chỉ là kẻ dẫn đường”.


    Đạo Phật là tôn giáo duy nhất trên hoàn cầu xác định rằng cánh cửa thành công để đạt đến cứu cánh giải thoát giác ngộ phải mở rộng cho tất cả mọi người, từ nam nữ, lớn nhỏ, sang hèn, cao thấp, đạo đức hay tội lỗi. Nếu chúng sinh biết cải thiện đời sống trong sạch, hóa giải hết phiền não vô minh thì sẽ có được Bồ-đề, Niết bàn như Phật.


    Không phải ngày nay con người mới nghe đến những tôn giáo thuộc về “Thiên chủ tạo vật” mà vào thời Đức Phật đã có những giáo thuyết như vậy rồi. Đó là “Thượng đế tạo ra tất cả mọi người, mọi vật.  Thượng đế chịu trách nhiệm tất cả mọi việc. Thượng đế ban thưởng và tha thứ tội lỗi của chúng ta. Thượng đế chịu trách nhiệm về cuộc đời chúng ta sau khi chúng ta chết. Thượng đế sẽ cho ta lên thiên đường hay bắt ta xuống địa ngục”. Ở đây, Đức Phật không hứa hẹn hạnh phúc hay ban thưởng cho những ai tự nhận là tín đồ của Ngài và Ngài cũng không hứa hẹn cứu rỗi cho những ai đặt niềm tin nơi Ngài. Đức Phật không khuyên các đệ tử của Ngài đi cải đạo dân chúng, những người mà nếu không theo sẽ bị đọa vào địa ngục.

    Ngài và tín đồ của Ngài không chỉ trích những người khác đạo là những người phạm tội sẽ bị đọa vĩnh viễn nơi địa ngục. Theo tinh phần Phật giáo, cả đến những người không đạo nhưng biết sống trong phẩm hạnh và có lòng từ bi thì vẫn có thể lên thiên đường như thường. Đối với Ngài, tôn giáo không phải là sự mặc cả, mà là con đường sống cao thượng để đạt đến cứu cánh tột đỉnh là giải thoát giác ngộ. Đức Phật không muốn các tín đồ của Ngài tin tưởng trong mù quáng. Ngài muốn chúng sinh phải biết suy nghĩ và thấu biết. Phật giáo là con đường cao thượng cho đời sống mà nơi đó, nhân đạo, bình đẳng, công bằng và an lạc chiếm vị trí tối thượng. Đức Phật phủ nhận có đấng Phạm thiên, Thượng đế vì chỉ có ta mới chính là Thượng đế của chính mình và chỉ có ta mới có thể tự lèo lái con thuyền định mệnh của mình được. Đức Phật không dạy phải cầu nguyện và sùng bái Ngài để được Ngài tha thứ cho các tội lỗi. Thanh tịnh hay ô nhiễm trong tư tưởng của chúng sinh tùy thuộc nơi chúng sinh. Không một đấng thiêng liêng, Phật hay một tha nhân nào có thể làm ô nhiễm hay thanh tịnh tư tưởng của người khác được. Ngay cả Niết bàn là hạnh phúc tuyệt đối cũng thế, khi chúng sinh tự mình quét sạch được những dục vọng, luyến ái và vị kỷ thì chính họ sẽ nghiệm chứng sự an lạc tịch diệt của Niết bàn chớ Niết bàn không phải do Như Lai ban tặng được.


    Một ngày nọ, Đức Phật thấy những người Jalita lặn lội dưới nước trong khi tuyết xuống liên tiếp trong 7 ngày đêm để tế thần lửa tại bờ sông Gaya, Đức Thế Tôn dạy rằng :


    “Sự trong sạch do rửa bằng nước không bao giờ có. Người nào tắm trong giòng nước Chân thật và thiện pháp thì người đó mới là người trong sạch”.


    Đức Phật đã khẳng định rằng tất cả các thứ nước trên thế gian này kể cả nước thánh thì không có thứ nước nào rửa sạch được lòng hung ác để trở thành tâm lương thiện. Chỉ có chân lý Tứ Diệu đế và Thánh pháp mới làm cho con người trở nên trong sạch, trở thành Thánh nhân. Đó chính là nước vô hình rửa được vô minh phiền não trong tâm của chúng sinh.


    Một hôm khác, Đức Phật đang thuyết pháp, có vị Bà la môn tên là Sudarika bạch với Phật rằng :


    - Bạch Đức Thế Tôn! Ngài có đến con sông Bahuka để tắm không?


    - Này, Thầy Bà la môn! Con sông đó có gì đặc biệt?


    - Thưa Thầy Cồ Đàm! Con sông Bahuka là nơi mà mọi người cho đó là giòng sông Phước nên hàng ngày biết bao người đến tắm để rửa tội.
    Bây giờ Thế Tôn mới dạy :


    - Người thiếu trí, tạo ác nghiệp cho dù có đến tắm những giòng sông Bahuka, sông Gaya, sông Sarassati, sông Payaya và sông Bahumati thì những con sông ấy không thể làm cho người ác hết tội. Người đã tạo ác nghiệp thì không có giòng sông nào làm cho họ trong sạch được.


    - Này Thầy Bà la môn! Thầy nên tắm, rửa tội thứ nước mà Như Lai đã dạy là : người không nói dối, không làm hại chúng sinh khác, không nên lấy của người, không nên bỏn xẻn keo kiệt. Ngược lại, tuy Thầy có đi đến con sông Gaya và uống nước ấy cũng không ích lợi gì cho Thầy”.


    Do đó sự rửa tội và sự đưa chúng sinh lên thiên đàng không hề bao giờ có trong đạo Phật và chính Đức Phật đã phủ nhận nói rằng Ngài có oai lực đưa người đi được đến Thiên đàng, Cực Lạc. Vì vậy mà đạo Phật mới gọi là đạo Tự giác. Đức Phật là đấng đã thức tỉnh trong giấc mộng vô minh và lời dạy của Ngài kêu gọi chúng sinh nên thức tỉnh nghĩa là Phật dạy chúng sinh phải tự mình tu và cố gắng giải thoát lấy mình chớ đừng mong đợi Phật có oai lực cứu độ mình. Nói cách khác, người muốn no hãy tự ăn lấy mới no, kẻ khác không thể ăn cho mình no được.


    Vì thế bất cứ ai cũng có thể đứng trước Đức Phật trong tư thế một người có phẩm cách chớ không phải trong tư thế một người cầu khẩn, van xin.


    Hãy lắng nghe lời phát biểu của giáo sư Lakshmi Nasara viết trong cuốn “Tinh Hoa của Phật giáo” :


    - Chỉ nói về Phật giáo thôi, ta có thể xác nhận là tôn giáo này thoát khỏi tất cả cuồng tín. Phật giáo nhằm tạo trong mỗi cá nhân một sự chuyển hóa nội tâm bằng cách tự chiến thắng lấy mình.


    Từ xưa đến nay, lý trí và đức tin luôn chống đối với nhau. Lý trí thì dùng lý luận và suy tư phát xuất từ kinh nghiệm và nhận xét, trong khi đức tin nằm trong phạm vi tình cảm, không thể suy luận, suy xét hay giảng giải được. Do đó những tôn giáo thần khải thì đức tin là thượng đế cảm nhận bằng trái tim, không phải bằng lý trí. Tình thương phát xuất bằng trái tim thì dựa vào tình cảm nên rất thăng trầm vì thế nó có lúc đúng, có lúc sai, có lúc thương có lúc ghét. Ngược lại lòng từ bi phát xuất từ trí tuệ sáng suốt thì dựa theo tinh thần khách quan bình đẳng, không thiên vị. Thêm nữa, đối với những tôn giáo thần khải thì thần thông, phép lạ là quan trọng. Ngược lại Đức Phật coi đó là không đáng kể và không thích đáng bởi vì điều quan trọng nhất vẫn là bồi dưỡng trí tuệ để có giải thoát giác ngộ. Đối với đạo Phật, những người có phép lạ không nhất thiết là bậc giác ngộ hay các bậc Thánh cho nên theo Đức Phật, thần thông phép lạ cao siêu nhất và huyền diệu nhất phải là làm sao biến một người ngu si thành một người khôn ngoan, trí tuệ.


    Vậy đạo Phật có phải là một tôn giáo không?


    Dựa theo lời giải thích của học giả H. G Wells thì tôn giáo là trung tâm của giáo dục xác định luân lý phẩm hạnh của con người.


    Triết gia Aldous Huxley định nghĩa tôn giáo như sau :


    - Tôn giáo là một hệ thống giáo dục, bằng các phương tiện con người có thể tự mình huấn luyện cho mình. Trước hết là thay đổi cái mình mong muốn cho đúng với nhân cách của mình trong xã hội. Thứ hai là nâng cao lương tri và thiết lập quan hệ giữa con người và vũ trụ mà họ là một thành phần trong đó.


    Thông thường tôn giáo luôn đi đôi với tín ngưỡng vì thế tất cả những tôn giáo trên thế giới đều tin tưởng đấng thần linh này, đấng cứu rỗi nọ, ông trời mình và ông trời người. Duy chỉ có Phật giáo là không tin vào thần linh, không tin vào thượng đế, không tin vào ai cả mà chỉ tin vào khả năng tự mình có thể giải thoát ra khởi mọi hệ lụy của phiền não vô minh cho chính mình mà Đức Phật là người dẫn đường, là bậc toàn giác.


    Đạo Phật khai mở một hệ tư tưởng triết học rất thâm thâu huyền diệu dựa vào tư tưởng tánh Không (Bát nhã) để dẫn dắt chúng sinh quán triệt thật tướng của vạn pháp chớ không nhất thiết chỉ thấy biết vạn pháp qua thế giới hiện tượng. Những lời dạy thâm sâu của Đức Phật để đưa tâm quy về một trạng thái tinh thần tĩnh lự và sáng suốt được nhiều người cho đó là tôn giáo, người khác lại cho là triết học hay tâm lý trị liệu. Vì vậy, khi đề cập đến thế giới bản thể và hiện tượng là một vấn đề rất quan trọng, một vấn đề mang tính triết học sâu xa, nếu con người nhìn nó qua lăng kính của triết học.

    Nhưng đối với Phật giáo, cho dù con người có gọi nó là tôn giáo, nền giáo dục, môn triết học hay là gì đi chăng nữa thì điều đó chẳng có giá trị thêm bớt gì vì lý luận là còn nằm trong vòng lẩn quẩn của Nhị nguyên, của thế giới tương đối có sinh có diệt. Mà điều quan trọng hơn hết là những lời thuyết pháp của Đức Phật nhằm nói lên chân lý khách quan, nói lên cái nguyên thủy của sự hình thành và sự tồn tại khách quan của vũ trụ vạn hữu. Nhưng cho dù con người có lý luận dựa theo bất cứ khía cạnh, phương diện nào thì có một điều chắc chắn mà mọi người đều đồng ý rằng Đức Phật không phải là đấng thần linh, đấng cứu rỗi mà Ngài chỉ là đấng toàn giác, là bậc thầy vĩ đại mà thôi.


    Vì vậy, đạo Phật có thể được gọi là một tôn giáo không có tín ngưỡng. Tại sao lại không có tín ngưỡng? Bởi vì đạo Phật là con đường giúp chúng sinh tự mình thể nghiệm chân lý để có giải thoát giác ngộ mà không tin có một đấng Thượng đế, một đấng thần linh nào đó có thể ban vui cứu khổ hay cứu rỗi cho họ được. Mà muốn đạt đến cứu cánh tột đỉnh này, người đệ tử Phật bắt buộc phải có niềm tin. Nhưng niềm tin ở đây là tin vào lời dạy chân thật của Đức Phật là người đã thực chứng những chân lý nhiệm mầu bởi vì lời dạy của Phật là : ”Như Lai thị chơn ngữ giả, thật ngữ giả, bất dị ngữ giả, bất cuống ngữ giả” nghĩa là lời nói của Phật là chân chính, là thành thật, không tráo trở và không bao giờ dối trá. Quan trọng hơn là người đệ tử Phật phải tin chính mình có khả năng hóa giải, diệt trừ mọi vô minh phiền não để đạt được tâm thanh tịnh mà có Niết bàn, có Bồ-đề cũng như chư Phật, chư Bồ-tát vậy. Đức Phật dạy chúng sinh phát triển những tiềm năng và nỗ lực của chính bản thân mình để đạt đến trạng thái an lạc và hạnh phúc tuyệt đối Niết bàn. Do đó hạnh phúc hay khổ đau là do nơi con người chớ không tùy thuộc vào một đấng quyền năng tuyệt đối nào và Đức Phật chỉ là một bậc thầy hướng đạo. Đức Phật đã trải qua bao nhiêu khổ ải và đau đớn để đạt đến an lạc, thanh tịnh Niết bàn vì thế Ngài chính là biểu tượng của An lạc, Từ bi  và Trí tuệ.


    Vậy người đệ tử Phật phải có những đức tin gì?


    1) Tín tự : tức là tin ở trong ta, chính mình có khả năng tu thành Phật nhưng vì bị vô minh che lấp nên vẫn còn sống trong điên đảo khổ đau.


    2) Tín tha không có nghĩa là tin vào tha lực của chư Phật để được cứu giúp hoặc được vãng sanh về thế giới cực lạc mà chính mình không chịu lo tu sửa, hóa giải phiền não vô minh. Đây là hoàn toàn trái ngược với luật nhân quả của Phật giáo. Tín tha ở đây là tin vào lời dạy chân thật của Phật vì đây chính là con đường, là ánh sáng huyền diệu giúp chúng sinh hóa giải tất cả những vô minh phiền não trong cuộc sống này. Vì Phật là người đã giác ngộ trước, là người chỉ đường nên chúng sinh nếu không tin vào lời Đức Phật thì làm sao nương theo con đường mà Phật đã đi để có thể chứng đắc được chân lý mà có được giải thoát giác ngộ như Phật. Nếu chính mình không hóa giải hết phiền não vô minh, cho dù Phật A Di Đà có rước về tây phương cực lạc thì tự mình cũng không có thanh tịnh cực lạc được. Vì thế kinh Duy Ma Cật đã khẳng định là : ”Tùy kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh” nghĩa là hễ tâm mình được an vui thanh tịnh thì thế giới mình đang sống sẽ chính là thế giới cực lạc vậy.


    3) Tín Nhân, Tín Quả : Ngoài tín tự, tín tha, trọng tâm của đạo Phật vẫn là tín nhân tín quả. Con người phải tin chắc rằng hễ mình gieo nhân gì thì chính mình sẽ nhận lấy quả báo của nó. Nên nhớ rằng không có một tha nhân nào trên thế gian này có thể thay nhân đổi quả của người khác được mà chỉ có mình mới lèo lái con thuyền định mệnh của chính mình mà thôi. Con người không cần phải cầu nguyện, van xin để chư Phật độ cái này, thưởng cái kia vì có van xin cầu nguyện cũng không bao giờ được, bởi vì nó đi ngược với luật nhân quả. Nhưng nếu chúng sinh muốn biết cuộc sống mình sẽ ra sao thì chỉ cần nhìn kỷ vào tất cả những nhân thiện ác mà chính mình đã tạo tác thì chắc chắn sẽ biết mình sẽ được thọ báo những hạnh phúc hay khổ đau. Muốn có cuộc sống hạnh phúc yên vui thì nên gieo nhân lành, ngược lại gieo nhân bất thiện thì phải chịu cảnh khổ đau, bất toại nguyện, thế thôi.


    Ngày nay có rất nhiều đệ tử Phật vẫn còn nhầm lẫn về hai chữ: “Phật độ”. Phật độ không có nghĩa là mình cầu nguyện, van vái điều gì thì Phật độ, Phật ban cho điều ấy. Mà Phật độ ở đây chính là Phật chỉ dạy cho chúng sinh con đường giải thoát giác ngộ để tự mỗi chúng sinh tùy theo bổn nguyện, căn cơ và hoàn cảnh của chính mình mà tự mình hóa giải những hệ lụy của phiền não vô minh. Có bớt được một phần phiền não vô minh thì có được một phần Bồ-đề Niết bàn. Do đó Phật độ là Phật giúp cho chúng sinh phương tiện tức là kinh điển, nhưng chính chúng sinh phải tự mình chèo, lái, thực hành và sống với chánh pháp thì mới có giải thoát, an vui và tự tại. Ngược lại nếu chúng sinh ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật, trì chú, van vái, cầu nguyện mà tự mình không chịu lo tu sửa, tánh tham tật đố không chừa, tâm còn giận còn hờn, lòng còn chạy theo si mê ái dục thì đây chỉ là tu hành theo hình thức, không có một ý nghĩa hay giá trị nào hết.

    Ngày xưa khi tôn giả Mục Kiền Liên cầu khẩn và bạch với Phật xin thương xót cứu vớt mẹ Ngài là bà Thanh Đề ra khỏi địa ngục A Tỳ. Tại sao Phật không làm phép, bắt ấn tam muội để bọn quỷ sứ ma vương thả bà Thanh Đề về? Không phải là Phật không làm được, nhưng Ngài không làm vì đây hoàn toàn trái với luật nhân quả. Nếu bà Thanh Đề đã gieo những nhân bất thiện thì chỉ có bà phải tự mình ăn năn sám hối để chuyển cái tâm tội lỗi xấu xa thành cái tâm thuần lương tươi sáng. Có như thế thì chính bà tự bẻ gãy gông cùm nơi địa ngục mà hóa sanh về cảnh thiên đường an lạc.

    Chẳng những Phật giáo phủ nhận Thượng đế mà Phật giáo cũng  không chấp nhận Diêm vương là người có quyền phán xét tội hồn trong cõi âm. Khi nói về cõi âm, hai quyển “Hồi dương nhân quả” và “Ngọc lịch minh kinh”  không phải là kinh sách của Phật giáo vì nó diễn tả một câu chuyện xảy ra ở Trung Hoa của hai người trùng tên nhưng khác họ, bị quỷ bắt lầm rồi sau đó trả hồn về thế gian. Thật ra ông Diêm vương mà người thế gian thường nhắc đến không phải phát xuất từ Phật giáo mà nó đã xuất hiện rất lâu trong những kinh sách Vệ Đà của Ấn Độ. Vì thờ đa thần nên họ nghĩ rằng trên trời thì có thiên thần, ở giữa hư không có hư không thần và trong đất cũng có địa thần…Vì thế người Trung Hoa mới sao lại những vị Diêm Vương cai quản 18 tầng địa ngục. Nhưng trong thế gian có biết bao giống dân như Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Gia Nã Đại… thế thì tại sao ông Diêm vương phải lại là người Trung Hoa? Phải ăn mặc giống như cải lương, hát bội vậy?

    Đây phải chăng là do óc tưởng tượng của người Trung Hoa bày vẽ ra? Thật sự nếu có vị Diêm vương cai quản cõi âm thì tội hồn cũng có cách hối lộ để được giảm tội hình. Nhưng dựa theo Phật giáo, địa ngục không phải là nơi giam giữ tội hồn đời đời như nhiều người thường nghĩ. Những hình ảnh ma vương, quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa cùng những khổ hình nơi 18 tầng địa ngục chính là sự phóng rọi, biến hiện và trói buộc của Nghiệp cảm mà thôi. Vì vậy, mỗichúng sinh đều có một ngài Diêm vương nơi tâm mình mà họ không tự biết, đó là tiếng nói mãnh liệt của Chơn tâm, Phật tánh và là sự phán xét sau cùng của Chí thiện.


    Cũng như Ngài A Nan, cả đời theo chân làm thị giả cho Đức Phật, được Phật khen tặng là đệ nhất đa văn mà tại sao không thành A La Hán trong lúc Đức Phật còn sinh tiền? Không lẽ Phật không thương xót độ cho A Nan thành Thánh? Tất cả những gì Phật độ cho A Nan hay cho tất cả chúng sinh thì Phật đã độ rồi. Đó là Phật đã thuyết 12 bộ đại tạng kinh để giúp chúng sinh tự mình thể nghiệm chân lý. Ông A Nan vì tánh ỷ lại là em và là thị giả của Phật nên không chịu lo tu chứng mà chỉ muốn học rộng biết nhiều vì thế  tuy A Nan là người thân cận Đức Phật nhất mà Phật có độ cho A Nan thành A La Hán được đâu!

    Do đó sau khi Đức Phật nhập diệt, ông thất vọng, sống trong chán chường đau khổ nên có ý định quyên sinh. Nhưng khi nhớ lại những lời dạy của Thế Tôn làm ông thức tỉnh nên thành tâm sám hối tất cả những việc bất thiện mà ông đã đối xử với Đức Phật trước kia. Khi tâm đã hoàn toàn trong sáng thanh tịnh nên chỉ ngồi thiền một đêm mà ông đạt thành thánh quả. Sự huyền diệu nhiệm mầu của đạo Phật là chúng sinh có thể chuyển “cái tâm” của mình. Nếu tâm cứng ngắc, có tu hay không cũng vậy thì không cách nào con người có thể chuyển từ phàm thành thánh. Vì tâm có thể chuyển được nên ông A Nan mới tu thành A la hán hay Thái tử Tất Đạt Đa mới tu thành Phật được. Câu chuyện của tôn giả A Nan ở trên đã được ghi lại trong Luận Đại Trí Độ như sau :


    Ba tháng sau ngày Đức Phật nhập diệt, tôn giả Đại Ca Diếp quy tụ 1000 vị đại A La Hán và cuối cùng chỉ chọn 500 vị để kết tập kinh điển lần thứ nhất trong núi Kỳ Xà Quật, thành Vương Xá. Ông Đại Ca Diếp vào thiền định, rồi dùng Thiên nhãn quán trong đại chúng ai là người chưa sạch hết phiền não (chưa chứng thánh quả A la hán) thì phải mời ra khỏi đại hội. Trong số 1000 người chỉ mình A Nan là chưa thanh tịnh, nên Đại Ca Diếp lấy tay dắt A Nan ra khỏi chúng và nói rằng :


    - Nay ở trong chúng thanh tịnh kết tập Kinh tạng, ông chưa sạch kiết sử (còn phiền não) không nên ở đây.


    Bấy giờ A Nan hổ thẹn buồn khóc, tự nghĩ:”Ta hai mươi bảy năm theo hầu hạ Thế Tôn, gần gũi chăm sót Ngài, chưa bao giờ bị khổ não như thế này.
    Thấy thế tôn giả Đại Ca Diếp nói tiếp :


    - Tội của ông là ý Phật không muốn cho người nữ xuất gia, vì ông ân cần khuyên thỉnh, Phật mới cho họ xuất gia, vì lẽ đó mà Chánh pháp của Phật chỉ năm trăm năm là suy giảm. Đó là tội Đột-kiết-la (Dunkrta) của ông.


    A Nan thưa :


    - Tôi thương xót bà Cù-đàm-di. Lại nữa, theo pháp của chư Phật ba đời đều có bốn bộ chúng (Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, thiện nam và tín nữ), tại sao đức Thích Ca lại không có?
    Đại Ca Diếp nói :


    - Khi Phật sắp nhập diệt gần thành Câu thi na, Ngài đau lưng nên cần trải bốn lớp y Âu-đa-la-tăng để nằm và nói với ông” Ta cần nước” mà ông dửng dưng không đi lấy. Đó là tội Đột-kiết-la của ông.
    A Nan đáp :


    - Khi đó có trên năm trăm cỗ xe băng dòng lội qua làm nước vẫn đục vì thế nên tôi không lấy.
    Đại Ca Diếp nói tiếp :


    - Dẫu nước bị đục, thân lực của Phật có thể làm nước đục biến thành nước trong, sao ông không lấy? Đó là tội Đột-kiết-la của ông. Ông hãy sám hối đi.
    Đại Ca Diếp lại nói :


    - Phật đã dạy : ”Nếu người khéo tu tập bốn thần túc thì có thể sống thêm hay giảm một kiếp đều được” mà sao ông lại làm thinh không thưa lại. Phật hỏi đến ba lần, ông vẫn làm thinh. Nếu ông thưa với Phật là Phật khéo tu bốn thần túc thì Ngài nên sống một kiếp hay non một kiếp. Do sự lặng thinh của ông mà Thế Tôn mới nhập diệt. Đó là tội Đột-kiết-la của ông.


    A Nan đáp :


    - Ma che lấp tâm tôi nên không nói được chớ không phải tôi có ác tâm mà không thưa với Phật.


    Đại Ca Diếp lại nói :


    - Ông xếp y Tăng-già-lê của Phật mà lấy chân đạp lên. Đó là tội Đột-kiết-la của ông.


    A Nan giải thích :


    - Khi ấy có gió lớn nổi lên mà không ai giúp tôi cầm y nên gió thổi làm y rớt xuống chân tôi chớ không phải tôi không cung kính mà giẫm lên y Phật.


    Đại Ca Diếp nói :


    - Sau khi Phật nhập diệt, ông bày tướng Mã âm tàng của Phật (bộ phận đàn ông) cho người nữ xem sao không biết xấu. Đó là tội Đột-kiết-la của ông.


    A Nan đáp lại :


    - Khi ấy tôi suy nghĩ : Nếu các người nữ thấy tướng Mã âm tàng của Phật, chắc họ tự xấu hổ thân hình nữ nhân nên mong muốn được thân nam tử, tu hành Phật tướng, gieo gốc phước đức. Vì thế mà tôi cho người nữ xem chớ không phải không biết xấu mà cố tâm phá giới.
    Đại Ca Diếp nói :

     


    - Ông có sáu tội Đột-kiết-la như vậy nên phải sám hối giữa Tăng chúng .


    A Nan xin vâng theo lời của Trưỡng lão Đại Ca Diếp mà quỳ thẳng chấp tay, bày vai áo bên phải và sám hối sáu tội Đột-kiết-la.


    A Nan bị tôn giả Đại Ca Diếp đuổi ra ngoài không cho tham dự đại hội nên rầu rĩ khóc lóc chứng tỏ lúc bấy giờ tâm A Nan là tâm phàm nhân tức là thức tâm vì vẫn còn duyên với ngoại trần nên còn buồn còn khổ. Tuy khóc than không phải là hành động của bậc thánh, nhưng nó cũng làm diệu phần nào những cơn đau trong tâm cho nên ngay trong đêm đó, A Nan thức tỉnh bèn tọa thiền, kinh hành, tư duy các pháp, ân cần cầu đạo. Tuy A Nan có nhiều trí tuệ, nhưng ngặc nổi kém định lực nên không phá nổi phiền não chướng mà chưa thành thánh giả. Cuối đêm sắp hết, mệt quá muốn nghỉ, nên vừa nằm xuống đầu chưa chạm gối thì bỗng nhiên A Nan tỏ ngộ, như tia sáng lóe lên khiến Ngài nhập định Kim Cang mà phá tất cả các núi phiền não, chứng được tam minh thần thông biến hóa và trở thành A la hán. Ngay đêm đó, A Nan đi đến nhà Tăng gõ cửa gọi thì Đại Ca Diếp hỏi :


    - Ai gõ cửa đó?.


    A Nan thưa :


    - Tôi đêm nay đã dứt hết các lậu.


    Đại Ca Diếp nói :


    - Không mở cửa! Ông cứ theo lỗ khóa mà vào.


    A Nan liền dùng Thần lực theo lỗ khóa mà vào, lạy dưới chân Tăng chúng mà sám hối.


    Đoạn kinh trên chứng minh một cách hùng hồn rằng Phật chỉ là người chỉ đường còn đi hay không là do chúng sinh cho nên không có vấn đề cầu nguyện, van xin, vái lạy để thỏa mãn những dục tính vị kỷ của con người trong đạo Phật. Vì thế mà trong Tứ Thập Nhị Chương Kinh (Kinh Bốn Mươi Hai Chương) Đức Phật đã dạy rằng : ”Đệ tử tuy xa ta nghìn dậm, mà luôn nghĩ đến và thực hành giới pháp của ta thì chắc chắn sẽ chứng được đạo quả. Ngược lại, kẻ ở gần bên ta, tuy thường gặp mà không thực hành theo giới pháp của ta, cuối cùng vẫn không chứng được đạo”.


    Do đó đối với đạo Phật, vô tâm tức là buông xả mới là cứu cánh tối thượng cho nên người xưa cũng có câu : ”Vô tâm đạo nhân” nghĩa là người vô tâm mới là người chân tu. Ngược lại người có trí thức nhạy bén, học rộng hiểu nhiều là những người khó đạt được chân lý vì tâm họ chất đầy ý thức đối đãi phân biệt. Ví cũng như hành giả ngồi trên thuyền, nếu học rộng biết nhiều thì chẳng khác nào chở cả kho tàng kinh điển nặng nề trên một chiếc thuyền nan. Chẳng những không đến được bờ giác ngộ mà cả người lẫn thuyền cùng chìm vào biển trầm luân sinh tử.


    4) Tín Sự, Tín Lý : Ngoài ra đạo Phật còn dạy tín sự, tín lý. Đó là :


    Chư ác mạc tác


    Chứng thiện phụng hành


    Tự tịnh kỳ ý


    Thị chư Phật giáo


    Nghĩa là tất cả những việc ác chớ có làm, ngay cả những việc ác nhỏ. Chúng sinh nên làm tất cả những việc thiện cho dù đó là một việc thiện nhỏ. Nhiều việc thiện nhỏ sẽ thành việc thiện lớn và những việc ác nhỏ sẽ cộng lại thành đại ác. Cố giữ tâm ý thanh cao thanh tịnh thì nội tâm sẽ trong sáng. Đây chính là lời dạy của chư Phật.


    Theo tinh thần tin tưởng đó, đức tin của người Phật tử không đi ngược lại với lý trí và còn đóng một vai trò quan trọng trên con đường giải thoát giác ngộ bằng cánh mang lại nghị lực cho sự tinh tấn, kiên trì tu tập. Không có lòng tin lôi kéo, thúc đẩy, con người sẽ trì trệ, buông lơi và có thể chùn bước trước những khó khăn, thử thách của cuộc đời. Nhưng mê tín và cuồng tín cũng không có chỗ đứng trong đạo Phật bởi vì đạo Phật là con đường của trí tuệ, của sự phá bỏ vô minh. Mà vô minh chính là cội nguồn của mê tín và cuồng tín tức là lòng tin lầm lạc dẫn tới khổ đau.


    Ngày nay Phật giáo trên thế giới gồm có Nam tông, Bắc tông và Mật tông, vậy đức tin của họ như thế nào?


    1) Đức tin đối với Phật giáo Nam tông, Nguyên thủy hay Tiểu thừa : Nhìn lại những thế kỷ sau khi Đức Phật nhập diệt, tinh thần sùng tín bằng những hình thức nghi lễ, sùng bái của một tôn giáo tiếp tục bành trướng trong dân gian làm ảnh hưởng rất lớn cho sự tiến hóa của đạo Phật. Ngay sau khi Đức Phật nhập diệt tại thành Câu thi Na, các vua chúa những quốc gia lân cận kéo binh mã tới tranh dành những di tích hoại thể của Đức Phật, như những viên xá lợi, răng, tóc để đem về thờ phượng tại nước họ. Thật ra sự sùng bái những di tích này hoàn toàn đi ngược lại với lời dặn của Đức Thế Tôn. Trước khi nhập diệt, Đức Phật có dạy rằng :


    “Sau khi Thế Tôn nhập diệt, điều mà các con phải giữ gìn là Chánh pháp. Chính chánh pháp sẽ thay thế ta trên cõi đời này. Hãy giữ gìn lấy Chánh pháp”.


    Đáng tiếc thay, phàm phu nhìn Chánh pháp như là một cái gì quá trừu tượng để có thể nương tựa vào. Trong khi một viên xá lợi, một ngón tay, một chân răng, một ngọn tóc dù không phải là của Đức Phật đi chăng nữa, cũng làm tăng trưởng sự sùng bái của con người. Ngày nay những nước theo Nam tông như Tích Lan, Thái Lan, Miến Điện, Lào, Kampuchia…đã thần thánh hóa Đức Phật. Người Phật tử ở những xứ này tôn thờ, thành khẩn, cầu xin thì đủ thấy tinh thần sùng tín của họ mạnh mẽ như thế nào.


    2) Đức tin đối với Phật giáo Đại thừa : Đặc điểm của Đại thừa là tôn thờ chư Phật và chư Bồ-tát. Từ bi hỉ xã, vì người quên mình là những hạnh nguyện Bồ-tát đạo được khuyến khích nhiều nhất trong các kinh điển đại thừa. Đại thừa có nhiều tông phái cho nên niềm tin cũng tùy theo tông phái mà đổi thay.


    - Thứ nhất đối với Thiền tông thì đức tin không phải là một điều quan trọng vì không có gì để tin. Dựa vào tư tưởng Bát Nhã thì vạn pháp giai không duyên sanh như huyễn nên trên thế gian này có cái gì là thật đâu mà phải quan tâm bận lòng. Người tu thiền chỉ cần tin tưởng vào những lời dạy của Phật và khả năng giác ngộ của chính mình tức là tự lực. Bởi vì vạn pháp duy tâm nghĩa là tâm này là chủ, tâm này là Phật, tâm này là tất cả cho nên chúng sinh chỉ cần quay về hồi quang phản chiếu mà sống trọn vẹn với Chơn tâm thì ngay nơi ấy chính là Cực lạc, là Niết bàn rồi. Kinh điển hay pháp tu chỉ là phương tiện, là ngón tay mà chân lý mới là cứu cánh. Lục tổ Huệ Năng cũng dạy thêm rằng : ”Pháp này phải đến trong tánh Phật mà cầu, chớ hướng ngoài thân mà cầu, tự không có bổn tâm. Phải tự thấy bổn tâm, mê thì làm chúng sinh còn giác tức là Phật”.


    - Thứ hai đối với Tịnh độ tông thì đức tin bây giờ là chính yếu. Ngược với lối thực hành của thiền là “Không”, tịnh độ thì áp dụng lối “Có”. Có ở đây là tin có Phật A Di Đà, có cảnh tây phương cực lạc, có vãng sanh tức là có chư Phật hay chư Bồ-tát đến dẫn dắt họ về thế giới Tây phương. Người tu theo tịnh độ phải có niềm tin mãnh liệt vào những cái “Có” này để được tái sinh về xứ Phật. Ngài Huệ Viễn vào đời Nam Tống ở Trung Hoa đã khởi xướng tông phái Tịnh độ. Các vị tổ của tịnh độ quan niệm rằng vào thời mạt pháp, người tu Phật không đủ khả năng để tự tu giải thoát cho chính mình tức là “thiếu khả năng tự lực” nên họ kêu gọi đến tha lực của Phật A Di Đà để Ngài cứu độ và truyền sức mạnh vào mình. “Có” và “Không” là tùy theo lối nhìn dựa theo thế giới hiện tượng hay bản thể vì nếu dựa theo sự Tướng bên ngoài thì Có. Còn theo Bản Thể Chân Như thanh tịnh bên trong thì tất cả đều là không.

    Nhưng Tâm kinh dạy rằng : ”Sắc tức là Không và Không tức là Sắc” cho nên Có tức là Không và Không chính là Có tuy hai nhưng mà một tức là Bất nhị. Nói một cách khác Thiền là Tịnh và Tịnh tức là Thiền nghĩa là trong Thiền có Tịnh và dĩ nhiên trong Tịnh đã có Thiền rồi. Thí dụ niệm Phật để diệt trừ vọng tưởng trong tâm tức là thiền Chỉ (Xa-ma-tha) nghĩa là tu Định. Quán tưởng Đức A Di Đà tức là thiền Quán (tam-ma-bát-đề) nghĩa là tu quán hay tu trí tuệ. Khi hợp hai lối tu lại với nhau thì gọi là Thiền Na tức là Chỉ-Quán đồng tu hay Định-Tuệ song tu. Do đó “Có” hay “Không” chỉ là phương tiện, là cách nói chứ  không phải là cứu cánh bởi vì Chân Tánh thì chẳng phải có mà cũng chẳng phải không. (Trung Quán Luận).


    Nếu nhìn vào một khía cạnh tâm lý thì đức tin của người Phật tử tu theo tịnh độ không có vẻ gì khác biệt với đức tin của tín đồ Thiên Chúa giáo hay Hồi giáo tức là đức tin hướng về Thượng đế, chúa Giê-Su hay Allah. Vì có sự tương đồng này mà ngày nay những quốc gia tân tiến tại Âu châu, Mỹ châu, ngay cả Úc châu nơi mà Tịnh độ tông phát triển mạnh nhất trong cộng đồng người Trung Hoa và số ít Việt Nam thì pháp môn Tịnh độ hầu như không lôi cuốn được người dân bản xứ. Con người càng văn minh tân tiến thì càng tin sâu vào luật nhân quả nghĩa là “người muốn no hãy tự mình ăn lấy mới no, kẻ khác không thể ăn cho mình no được”. Do đó nếu tin vào tha lực để có sự cứu rỗi thì họ cứ theo Tin lành, Thiên Chúa giáo hay Hồi giáo chớ cần gì phải cải đạo.

    Tín đồ Thiên Chúa chỉ cần tin vào Thượng đế, làm vài điều thiện là được vào nước Thiên đàng mà khỏi phải trường chay khổ cực, nhiếp trọn sáu căn và phải tịnh niệm tương tục tức là ngày đêm chú tâm niệm Phật không gián đoạn. Nhưng đối với người Tây phương thì họ muốn tìm hiểu, nghiên cứu và thực hành những cái gì mới lạ, khác biệt, nằm trong khả năng tự lực của con người chẳng những phù hợp với luật nhân quả mà còn thích hợp với đà phát triển của văn minh khoa học. Phải chăng tư tưởng “tự tu tự giác” là nguyên nhân khiến thiền đại thừa ngay cả thiền minh sát, thiền tứ niệm xứ của Phật giáo nam tông phát triển rất thịnh hành trong cộng đồng người Tây phương? Họ cảm thấy thoải mái hơn khi thực hành thiền để tâm được an tịnh nghĩa là chính họ tự lái chiếc xe định mệnh, tự chèo con thuyền bát nhã để khai tâm mở tánh mà chứng nghiệm được sự thanh tịnh tịch diệt của Niết bàn.

    Người Tây phương khi nghiên cứu đạo Phật, học cách tu thiền thì họ cảm thấy thoải mái, an lành và hạnh phúc hơn là lúc họ còn tin ở những đấng thần linh. Đạo Phật không thờ bất cứ vị thần linh nào mà họ chỉ tôn thờ kính quý Đức Phật Thích Ca vì Ngài là bậc giác ngộ chân lý, nói và sống đúng chân lý. Vì vậy nếu người đệ tử Phật biết nói đúng chân lý, sống đúng chân lý thì có an vui, tự tại, Niết bàn cũng như Phật.  Họ biết rằng cái thực tại tối hậu tức là trí tuệ Bồ-đề và tịch diệt Niết bàn đã có sẵn trong họ chớ không cần tìm kiếm ở đâu xa. Đó là bớt một phần phiền não thì có một phần Niết bàn, bớt một chút vô minh thì tăng thêm một chút trí tuệ sáng suốt. Niềm an vui hạnh phúc tự tại này không tìm thấy trong tôn giáo của họ. Đây là một thử thách rất thực tế, thích đáng và được đền bù bằng những kết quả tương xứng rất nhiệm mầu ngay bây giờ mà không cần phải trông chờ mong đợi sự ban bố ân sủng do ai hay ở đời sau.

    Ngày xưa chính Đức Phật đã đi sâu vào thiền định mà chứng được chân lý và tất cả các đệ tử của Ngài cũng nhờ thiền định mà thành A la hán. Ông A Nan tuy là đệ nhất đa văn, nổi tiếng học rộng biết nhiều mà có tâm ỷ lại, không chịu tu thiền, không vào đại định nên cả đời không đạt thành Thánh quả và phải chịu nạn dâm nữ Ma Đăng Già. Đối với Phật giáo, tư tưởng chính là nguồn gốc của sự mê hoặc làm cho tâm thức con người càng thêm mê muội và vọng tưởng chính là sản phẩm của nó. Vì thế thiền định là phương pháp làm ngưng lại và tiêu diệt những tư tưởng này. Do đó, một khi những làn sóng tư tưởng khuấy động đã chấm dứt thì chúng sinh sẽ nhận thấy ánh sáng mặt trăng chân lý lúc nào cũng chiếu sáng. Từ đây con người sẽ nhận thấy rằng cuộc sống này rất thoải mái, bình an trong cái tâm trạng đầy phúc lạc thanh thản an nhàn.


    Bây giờ nếu nhìn Tịnh độ bằng một khía cạnh tâm lý khác thì có người lý luận rằng chúng sinh trong cõi Ta bà luôn lặn hụp, chìm đắm trong biển sinh tử trầm luân và sống trong vô minh điên đảo nên mới cần có Bồ-tát và Phật. Ngược lại trong cõi cực lạc, con người hóa sinh từ hoa sen, muốn gì được nấy, khỏi cần làm ăn cực khổ, muốn ăn gì thì thức ăn tự hiện ra, ăn xong khỏi cần rửa dọn, thức ăn thức uống biến mất. Ngoài lầu vàng gác tía, áo quần vật dụng hiện ra theo ý muốn và sống lâu vô lượng. Nói cách khác trong cõi cực lạc, con người không còn biết khổ, sống quá sung sướng thì đây chính là cực lạc Niết bàn rồi. Thế thì tu để làm gì? Có khổ mới tìm Niết bàn, có vô minh mới cầu Bồ-đề. Không biết tam khổ, bát khổ thì Tứ diệu đế dùng vào chỗ nào? Mình không khổ, chúng sinh không khổ thì lấy gì làm cơ bản để tu Lục độ vạn hạnh? Không khổ, không lo thì cần gì phải tu hành? Không tu Tứ Diệu Đế và Lục Độ Vạn hạnh thì làm sao thành Phật được?


    Nhưng nếu nhìn sâu (thâm ý của Phật) thì tịnh và thiền đều có chung một mục đích là cột tâm vào một chỗ. Tâm của con người sinh diệt từng sát na (60 sát na là một giây) với biết bao ý tưởng thay đổi không ngừng như tâm viên ý mã vì thế mà năng lực trở thành yếu ớt kém cỏi. Nay dùng phương tiện như tham thiền hay niệm Phật để cột tâm lại một chỗ, không còn tán loạn thì tâm sẽ được tỉnh tức là có định và sáng suốt. Nếu chúng sinh niệm danh hiệu Phật A Di Đà để dẹp trừ vọng tưởng, chấp trước thì mỗi câu niệm sẽ quét sạch vọng tưởng làm tâm thanh tịnh. Ví như ngọn đèn vốn sáng, nhưng vì gió lay động làm ánh sáng bị lu mờ. Nếu bây giờ chụp cái bóng che gió vào thì ngọn đèn sẽ bừng sáng. Do đó nếu chúng sinh suốt ngày trì niệm danh hiệu Phật A Di Đà, biết chú tâm vào hồng danh này khi làm việc, lúc nghỉ ngơi cho đến lúc nhất tâm bất loạn thì cái ảo ảnh nhị nguyên của vô minh, cái tâm phân biệt, có chúng sinh có Phật sẽ chấm dứt và họ sẽ chứng ngộ được chân lý nhiệm mầu ngay. Nên nhớ công phu nhất tâm bất loạn của tịnh độ tức là thánh quả A la hán của thiền tông.

    Vì thế cho dù con người có gọi nó là tha lực tiếp dẫn của Đức A Di Đà, gọi là thiền, gọi là mật, gọi là giáo thì có khác biệt gì đâu bởi vì chứng ngộ chân lý thì không thể nói hay diễn tả bằng văn tự ngôn ngữ được. Cái khả năng giải thoát mà con người cho rằng vốn ở bên ngoài tức là tha lực thật ra vẫn ở bên trong tức là tự lực thì lúc nào vẫn sẵn có ở trong ta. Đó chính là cái tự tánh thanh tịnh bản nhiên, là Phật tánh vĩnh hằng trong tất cả mọi chúng sinh. Vì thế nếu người tu trì công niệm Phật đến khi dứt sạch vọng tưởng và ngộ nhập chơn tâm rồi thì Phật A Di Đà hay cảnh Tịnh độ cũng chỉ ở nội tâm của mình hiện ra chớ không phải ở đâu xa. Bởi vậy kinh Phật mới có câu : ”Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh độ” là vậy.

    Niệm Phật đến chỗ nhất tâm bất loạn thì mới được vãng sanh có nghĩa là niệm Phật đến chỗ vô niệm nghĩa là niệm mà không còn biết mình đang niệm tức là tâm ấy chính là tâm Phật rồi. Đó là : ”Lục tự Di Đà vô biệt niệm” thì mới có “Hoa khai kiến Phật ngộ vô sanh”. Hoa khai kiến Phật tức là Minh Tâm Kiến Tánh và Ngộ Vô Sanh nghĩa là không còn sinh không còn diệt tức là chứng được Vô sanh pháp nhẫn vậy. Như thế thì tu thiền hay niệm Phật chỉ là những phương tiện, là những cách nói, nhưng cứu cánh vẫn là một. Cho dù con người có gọi nó là minh tâm kiến tánh, nhất tâm bất loạn hay gọi là gì đi chăng nữa thì trong đạo Phật chỉ có một hương vị duy nhất là vị giải thoát giác ngộ. Vì thế trong Tịnh Độ thi có câu :


    Ba phước thề tu, sáu niệm căn


    Giữ gìn tam nghiệp sạch trong ngần


    Một câu thánh hiệu không rời chán


    Nguyện thấy Di Đà chứng pháp thân.


    Do đó nếu chúng sinh có thể lìa Sự Tướng mà nhập vào Bản Thể Chân Như thì Niết bàn, Bồ đề tự hiển lộ. Đó là : ”Tùy kỳ tâm tịnh, tắc Phật độ tịnh” nghĩa là khi chúng sinh đã hoàn toàn có tâm thanh tịnh thì thế giới họ đang sống chính là cõi tịnh độ rồi.


    Có người thắc mắc rằng Tịnh độ đến Nhất tâm bất loạn, còn Thiền tông đến chỗ nào?


    Không có đến chỗ nào hết. Cái mà con người gọi là Minh tâm kiến tánh nghĩa là tâm mình cùng khắp không gian, vô bờ vô bến, chỗ nào cũng là Thể của tâm mình cả. Đó là chơn tâm, Phật tánh cùng khắp vậy. Tịnh độ tông mà người Trung Hoa còn gọi là Liên tông là một trường phái được lưu hành rộng rãi tại Trung Hoa. Năm 402, Ngài Huệ Viễn (334-416) sống cùng thời với Pháp sư Cưu Ma La Thập, thành lập Bạch Liên Xã, trong đó ông quy tụ một nhóm 123 người gồm Tăng sĩ và Cư sĩ tụ tập trước tượng A Di Đà và nguyện vãng sinh về cõi Tây phương cực lạc. Dựa theo người Trung Hoa, ông được xem là sơ tổ của Tịnh độ, nhưng thật ra khi nói về pháp môn niệm Phật thì Đại Thế Chí Bồ Tát mới là sơ tổ của pháp môn này. Sau đó có sư Đàm Loan (476-542) là người phát triển tích cực và đem môn Tịnh độ đến với mọi người. Sư cho rằng vào thời mạt pháp thì tự lực không còn đủ sức để giải thoát. Sư không chấp nhận con đường gian khổ của những tông phái khác và chỉ chấp nhận giải pháp “dễ dãi” là dựa vào tha lực của Phật A Di Đà. Sư nghĩ rằng chúng sinh chỉ cần nhất tâm quán niệm danh hiệu Phật A Di Đà là đủ để sanh về cõi cực lạc của Ngài. Đặc tính của Tịnh độ là lòng tin nhiệt thành nơi Phật A Di Đà và sức mạnh cứu độ của Ngài.


    Đức Phật Thích Ca đã khẳng định rằng Ngài chỉ là một đấng đạo sư, chứ không phải là đấng cứu thế, đấng thần linh vì thế đạo Phật là con đường giúp chúng sinh tự mình chứng ngộ chân lý, tự mình có được giải thoát giác ngộ chứ Phật không cứu rỗi, độ cho bất cứ ai. Bồ-đề, Niết bàn là do chúng sinh tự hóa giải hết vô minh phiền não mà có chứ không phải do Phật, Bồ-tát ban tặng. Bớt một phần vô minh thì có một phần Bồ-đề, hóa giải một phần phiền não thì có một phần an lạc Niết bàn thế thôi. Đức Phật hy sinh cả cuộc đời vương giả, không ngại dầm mưa giải nắng, cực khổ gian lao để đi tìm chân lý. Đến khi thành đạo Ngài đã đem ánh đạo vàng gieo khắp các nơi, đem nước từ bi rưới xuống cứu độ chúng sinh để “lìa khổ được vui” không phân biệt là cung vua phủ chúa hay mái tranh nghèo của người nông phu vì thế không có nơi nào ở Ấn Độ mà không có dấu chân Phật. Nếu đây không phải là “Tha lực Phật” đã gia bị cho chúng sinh thì là gì? Nhưng trong Phật giáo không hề có việc ân sủng cứu rỗi vì nó đi ngược lại với quy luật nhân quả phát triển khách quan của tất cả vạn hữu trong vũ trụ.


    Trong Kinh A Hàm, có câu chuyện nàng Kisa Gotami như sau :


    Nàng Kisa Gotami có người con trai chẳng may bị rắn cắn chết. Vì quá thương yêu đứa con yêu dấu của mình nên nàng Kisa không thể chấp nhận cái chết. Nàng mang thi hài của con đến hết nhà này tới nhà kia để tìm thuốc cứu chữa, nhưng không ai có thể giúp nàng được. Cuối cùng nàng đến hầu Đức Phật. Đức Phật dạy rằng :


    - Nếu cô có thể đem cho ta một nắm tro (có sách viết là hạt cải), ta sẽ giúp cô. Tuy nhiên, nắm tro ấy phải xuất phát từ ngôi nhà trong đó không có người nào chết cả.


    Kisa đi đến mọi nhà trong thành phố. Khắp nơi mọi người đều thương xót cho hoàn cảnh đau khổ của nàng nên ai cũng tặng nàng nắm tro. Nhưng khi hỏi lại thì bất cứ gia đình nào cũng có người chết. Đó là có khi anh em, cha mẹ, vợ chồng hay con cái như nàng. Quá thất vọng, nàng trở về gặp Đức Phật với tay không. Đức Phật nhìn người đàn bà đau khổ và hỏi:


    -  Ngươi đã tìm được nắm tro ấy không?


    - Ôi! Con ôm đứa con đã lạnh vào lòng và đi gỏ cửa từng nhà một để xin thứ tro ấy. Tro thì không thiếu gì, nhưng không có nhà nào không có người hoặc mới chết, hoặc chết đã lâu. Con mệt nhọc mà vẫn không tìm ra nay nhờ Ngài chỉ dùm nhà nào có thứ tro mà Ngài đã dạy để cứu con của con.


    Đức Phật đặt một tay trên vai Kisa như để trút cả một niềm thương lên đó và nói bằng một giọng xót xa :


    - Kisa! Không có thứ tro đó đâu. Vì chết là một luật chung của sinh vật trong vũ trụ này. Hôm qua ta bảo ngươi đi tìm thứ tro ấy là cốt để cho ngươi nhận thấy rằng “Đã là con người thì phải chịu cảnh sinh ly tử biệt”. Không ai có thể vượt thoát ra khỏi luật vô thường cay nghiệt này. Hôm qua ngươi tưởng chỉ có một mình ngươi đau đớn. Bây giờ ngươi đã hiểu rằng toàn thể nhân loại đều chịu chung như thế cả. Cái đau đớn của ngươi chỉ là một trong cái đau đớn của toàn thể nhân loại. Đây là một giọt nước mắt trong  biển nước mắt mà thôi. Ngươi đừng nên than khóc thái quá vì không thể nào thay đổi cái định luật khắc nghiệt này. Nếu ta có thể cứu được con ngươi thì dầu cần đến máu xương ta thì ta cũng không từ.


    Nàng Kisa cảm thấy được an ủi nên về sau nàng đến gặp Đức Phật, trở thành đệ tử của Ngài và sau đó chứng thánh quả A la hán.


    Dựa vào câu chuyện trên, chính Đức Phật cũng không thể thay đổi sinh mệnh của con người được bởi vì chân lý của đạo Phật là nhân nào thì quả nấy và chỉ có ta mới có thể thay đổi cuộc đời và định mệnh của ta mà thôi. Vì thế không có việc độ trì, cứu rỗi trong đạo Phật vì Đức Phật chỉ là bậc thầy vĩ đại chứ không phải là đấng thần linh.


    Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anàthapindika) là vị thí chủ lớn nhất ủng hộ Đức Phật và Tăng chúng. Ông cùng Thái tử Kỳ-Đà (Jeta) xây tịnh xá Kỳ Viên nơi mà Đức Phật đã thuyết giảng trong suốt 19 mùa an cư kiết hạ. Khi cư sĩ Cấp Cô Độc đau nặng sắp chết, Đức Phật hay tin liền cho tôn giả Xá Lợi Phất và A Nan đến thăm. Sau khi thăm hỏi bệnh tình, tôn giả Xá Lợi Phất khuyên ông Cấp Cô Độc không nên để cho mắt sanh thức rồi nhiễm theo sắc trần, không nên để tai sanh thức rồi nhiễm theo thanh trần…Nói chung tuy sáu căn tiếp xúc với sáu trần nhưng đừng khởi thức phân biệt rồi chạy theo sáu trần. Sau đó Ngài nhắc ông Cấp Cô Độc chớ để tâm đắm nhiễm sắc thân tứ đại (đất, nước, gió, lửa) mà sanh tham dục. Chớ để tâm đắm nhiễm cái thân ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) mà sanh tham dục. Trưởng giả Cấp Cô Độc nghe xong bài pháp thoại liền rơi nước mắt mà thưa rằng :


    -    Từ trước đến giờ con chưa từng nghe bài pháp như thế, bây giờ con mới được nghe.


    Tôn giả A Nan cũng nhắc nhở khuyến pháp cho ông Cấp Cô Độc. Nhắc nhở, giảng giải xong, hai tôn giả từ giả ra về. Sau đó không bao lâu, cư sĩ Cấp Cô Độc mệnh chung sinh lên cõi trời Đầu Suất.


    Như vậy đối với các Phật tử sắp chết, Đức Phật và các đại đệ tử của Ngài chỉ đến thăm, giảng giải đạo lý nhắc cho người bệnh nhớ và tin sâu vào Tam Bảo mà an lòng ra đi chớ không có tụng kinh trợ niệm. Nếu những Phật tử khi mạnh khỏe thường tụng Bát Nhã tâm kinh thì nên nhắc nhở với họ còn nhớ câu : ”Quán tự tại Bồ-tát hành thâm Bát Nhã Ba La Mật Đa thời, chiếu kiến ngủ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. Nếu họ trả lời “Nhớ” thì hỏi tiếp : ”Chiếu kiến ngũ uẩn giai không là sao?”. Nếu họ giải thích đúng, thì hỏi tiếp : ”Thế thì quý vị đã thấy ngũ uẩn giai không chưa?”. Nếu họ đã thấy thì qua hết khổ nạn mà ra đi thảnh thơi. Nếu họ chưa thấy thì nhắc lại cho họ tỉnh. Hoặc có thể nhắc nhở một câu trong kinh Kim Cang : ”Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, Nhược kiến chư tướng, Phi tướng tức kiến Như Lai” để đánh thức họ họ đừng luyến tiếc xác thân, tiền của, ngay cả vợ chồng con cái  thì mới ra đi nhẹ nhàng được. Như vậy là độ cho họ trong giờ phút lâm chung, chớ không phải lập bàn thờ Phật, mình thì tụng kinh gõ mõ còn họ thì cứ mê cứ mệt, không sáng suốt, hai bên không dính dáng gì nhau.


    Ngày xưa có một Tỳ kheo trẻ mới xuất gia học đạo, nhưng lâm bệnh nặng nên Đức Phật tới thăm hỏi :


    - Ông có hối tiếc điều gì không?


    - Bạch Thế Tôn! Con có hối tiếc.


    - Ông có phạm giới không?


    - Bạch Thế Tôn! Con không phạm giới.


    - Không phạm giới, sao ông hối tiếc?


    - Bạch Thế Tôn! Con mới xuất gia, đối với pháp thượng nhân con chưa có sở đắc nên hối tiếc lúc mạng chung không biết sanh về nơi đâu?


    Đức Phật hỏi tiếp :


    - Do có nhãn căn nên mới có nhãn thức phải không?


    - Bạch Thế Tôn! Đúng vậy.


    - Ý ông nghĩ sao? Có nhãn thức nên có nhãn xúc. Do nhãn xúc làm nhân duyên sanh cảm thọ khổ vui phải không?


    - Bạch Thế Tôn! Đúng vậy.


    - Từ đó nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý cũng vậy.


    - Này Tỳ kheo! Nếu không có nhãn căn thì không có nhãn thức phải không?


    - Bạch Thế Tôn! Đúng vậy.


    - Này Tỳ kheo! Nếu không có nhãn thức thì không có nhãn xúc. Nếu không có nhãn xúc thì không có nhân duyên sanh cảm thọ khổ vui phải không?


    - Bạch Thế Tôn! Đúng vậy.


    - Nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý cũng nên quán như vậy.


    - Vậy Tỳ kheo phải khéo tư duy pháp như thế. Lúc mệnh chung an ổn, đời sau cũng tốt lành.


    Nhắc nhở giảng dạy xong, Đức Phật ra về, chốc lát sau Tỳ kheo trẻ mệnh chung. Lúc chết các căn của Tỳ kheo ấy rất thanh tịnh và dung mạo màu da tươi sáng, chứng được Niết bàn.


    Đức Phật chỉ nhắc nhở cho vị Tỳ kheo ấy nếu muốn được giải thoát thì đừng chấp thân, đừng chấp tâm và đừng chấp cảnh. Do đó nếu không còn chấp thì chặt đứt tham-sân-si và dĩ nhiên tâm được thanh tịnh mà chứng được Niết bàn. Đức Phật chỉ nhắc nhở như thế là đủ chớ Phật và đệ tử của Ngài không hề có “tụng kinh niệm Phật cầu siêu”. Tại sao lại không tụng niệm? Vì người sắp chết tâm lại duyên theo tiếng mõ tiếng chuông, âm vang trầm bổng của lời tụng. Mà còn duyên là còn dính mắc, không tự tại, khó giải thoát. Nhưng nếu nhắc nhở cho họ thấu hiểu rằng “ngũ uẩn giai không” nghĩa là thân này không thật, thế gian nầy không thật, cuộc đời cũng như giấc mộng, nhanh như điện chớp, như bóng mây, mới thấy đó rồi mất đó. Ngay cả thân bằng quyến thuộc cũng không thật bởi vì duyên kết thì còn anh còn em, còn vợ còn chồng, còn con còn cháu đến khi duyên tan thì mỗi người đi mỗi ngã. Hiểu được như thế thì họ dễ dàng buông xả, không còn lo phiền tức là “hết khổ ách”. Tham-sân-si hết thì tâm trí sáng suốt, có an vui tự tại và Niết bàn hiển lộ. Dĩ nhiên là họ sẽ được siêu thoát.


    Như thế, đạo Phật không tin vào sự cứu rỗi mà tin sâu vào nhân quả, tin vào lời tuyên bố của Đức Phật khi mới thành đạo là : ”Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành” và dĩ nhiên tin vào câu nói sau cùng trước khi Ngài nhập diệt : ”Mọi người hãy tự thắp đuốc lên mà đi”. Đây chính là ngọn đuốc trí tuệ sáng chói mà chính Ngài đã giơ cao để soi đường và nhắn nhủ với chúng sinh phải “tự học, tự tu, tự giác mà thành Phật”.


    Còn theo kinh điển Pàli, nguồn giáo lý căn bản của Nam tông thì cõi Tịnh độ hay vãng sinh được hiểu như thế nào?


    Dựa theo kinh điển Pàli, danh từ Suddhàvàsa (tiếng ghép của hai chữ Suddha nghĩa là thanh tịnh và Àvàsa nghĩa là chỗ ở) có thể được hiểu là Tịnh độ, chỉ chung cho các cõi nhân thiên. Còn danh từ Sukhavati của Phạn ngữ có nghĩa là chốn An lạc, Lạc cảnh. Do đó Tịnh độ của Trung Hoa là cõi cực lạc đúng hơn là cõi Tịnh độ. Theo các chú sớ A Tỳ Đàm, có tất cả 5 cõi Tịnh độ nằm trong 16 cõi Phạm thiên Hữu sắc. Đó là cõi Vô phiền, Vô nhiệt, Thiện hiện, Thiện kiến và Sắc cứu cánh. Vì là cõi hữu sắc nên ở 5 cõi Tịnh độ này vẫn có những lâu đài, hoa viên rất trang nghiêm, nhưng không phải để hưởng thụ mà chỉ là nơi thanh tịnh tu hành.


    Đối với Phật giáo Nam tông, Phật giáo nguyên thủy, có tất cả bốn hàng Thánh trí trong Thanh văn thừa. Đó là:


    1) Sơ quả Tu đà hoàn (Sotàpatti) : Nếu chúng sinh loại bỏ được 3 thứ phiền não : thân kiến (chấp cái thân tứ đại là trường tồn bất biến vì không thông hiểu luật vô thường, vô ngã, sinh sinh diệt diệt nên chấp trong ta có Cái Ta riêng biệt, chắc chắn và không biến đổi), hoài nghi (không tin sâu vào Phật pháp) và giới cấm thủ (chấp trước các tín điều mù quáng của những tà giáo) thì họ đắc được sơ quả Tu đà hoàn. Nói chung, sơ quả chỉ là giai đoạn ngắn trước khi chúng sinh hoàn tất các tầng thánh trí cao hơn. Quả vị này còn được gọi là Thất lai nghĩa là người chứng đắc sơ quả không thể tái sinh quá 7 lần hay 7 kiếp.


    2) Nhị quả Tư đà hàm : Sau khi loại bỏ ba loại phiền não ở trên, bây giờ chúng sinh tiếp tục tham thiền, niệm Phật làm giảm nhẹ ái dục và sân hận thì chứng đắc Nhị quả hay còn được gọi là Nhất lai (Sakadàgàmi) bởi vì những vị này chỉ có thể tái sinh vào cõi Dục giới một lần chót mà thôi.


    3) Tam quả A na hàm : nghĩa là Bất lai tức là không còn tái sinh trở lại một trong 11 cõi Dục giới nữa. Theo A Tỳ Đàm tạng Pàli, nếu chúng sinh hoàn toàn chấm dứt ái dục (niềm tham luyến trong ngũ trần) và sân hận thì sẽ chứng đắc tam quả A na hàm. Các vị A nan hàm có hai chọn lựa :


    - Thứ nhất : Nếu họ có khả năng đi sâu vào thiền định như chứng đắc Ngũ thiền thì bây giờ tùy theo công phu mạnh yếu của Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ mà họ sẽ được sinh vào một trong 5 cõi Tịnh độ. Tín mạnh thì sinh về cõi Vô phiền (Avihà) có thọ mạng 1.000 đại kiếp, Tấn hùng hậu thì sinh về cõi Vô nhiệt (Àtappà) có thọ mạng 2.000 đại kiếp, Niệm cao thì sinh về cõi Thiện hiện (Sudassà) có thọ mạng 4.000 đại kiếp, Định thâm hậu thì sinh về cõi Thiện kiến (Sudassi) có thọ mạng 8.000 đại kiếp và Tuệ sáng chói thì sinh về cõi Sắc cứu cánh (Akanittha) có thọ mạng 16.000 đại kiếp. Đây là chốn sau cùng để một vị Bất lai chứng quả A la hán và nhập diệt.


    - Thứ hai : Trong trường hợp vị Thánh A na hàm chưa chứng qua một tầng thiền định nào nghĩa là vị này chỉ có tu trí tuệ Thiền Quán (Vipassanà) mà chưa từng tu tập Thiền Chỉ (Samatha) thì đến lúc mạng chung, vị này do khả năng ly dục vô sân tuyệt đối nên tối thiểu cũng đạt được Sơ thiền, cũng đủ để sinh về cõi Phạm thiên thấp nhất là Phạm thiên Sơ thiền.


    4) Thánh quả A la hán : là người đã chấm dứt toàn bộ phiền não.


    Trong tinh thần A Tỳ Đàm Pàli thì danh từ vãng sinh của Bắc tông phải được hiểu là siêu sinh nghĩa là không còn tái sinh, một điều chỉ được thực hiện bởi một vị A la hán. Như vậy, trong trường hợp những vị chứng đắc từ tam quả A na hàm trở xuống sẽ sinh về một trong 5 cõi Tịnh độ mới có thể gọi là vãng sinh. Như thế vãng sinh Tịnh độ dựa theo tinh thần Phật giáo nguyên thủy phải được hiểu là một phần đường trên hành trình giải thoát của một vị Thanh văn. Do đó pháp môn Tịnh độ hay con đường vãng sinh cũng đồng nghĩa với hành trình Tam vô lậu học Giới Định Tuệ và 37 phẩm trợ đạo của Tứ diệu đế.


    Vì vậy pháp môn Tịnh độ vẫn là cứu cánh cho tất cả mọi người, nhưng dựa theo tinh thần Phật giáo nguyên thủy thì cầu vãng sinh không có nghĩa là chờ đợi sự tiếp dẫn của bất cứ ai mà phải là sự lên đường bằng chính đôi chân của mình.


    Thứ ba đối với mật tông hay Kim Cang thừa: Tông phái này mang đầy mầu sắc lễ nghi, hình thức phức tạp và những thực hành có tính cách bí truyền ngược lại với tính chất công truyền của giáo lý Nguyên thủy. Trên phương diện giáo lý, mật tông dựa theo tư tưởng Trung Quán và Duy Thức, nhưng trên thực tế tông phái này phát triển vô số thần linh, lễ nghi, bùa chú, ấn quyết và trộn lẫn với đạo Bon Pa (đạo bùa chú ở Tây Tạng có trước khi đạo Phật du nhập vào Tây Tạng). Mật tông Tây Tạng quan niệm rằng : ”luân hồi là Niết bàn” cho nên họ dùng tất cả những kinh nghiệm sống của con người, tất cả những trạng thái tâm thần, dù là xấu xa hèn kém để chuyển hóa chúng nhằm vượt khỏi thế giới phân biệt đối đãi nhị nguyên mà chứng đạt được chân lý. Vì mật ngữ phải truyền từ vị thầy đến đệ tử do đó trên con đường tu học này rất khó khăn và phức tạp khiến sự hướng dẫn của một vị thầy là một điều cốt yếu cho nên người đệ tử phải có một niềm tin vững chắc vào vị thầy cũng như lòng tin ở khả năng giác ngộ của chính mình.


    Như thế, trong đạo Phật đức tin chỉ là phương tiện, trí tuệ cũng chỉ là phương tiện, nhưng là phương tiện cốt yếu trong khi đức tin là một phương tiện thứ yếu, tạm thời. Vì vậy cho dù chúng sinh có tu theo tiểu thừa, đại thừa, tu theo thiền, tịnh hay mật, hiển hay giáo thì mục đích tối hậu của đạo Phật là giải thoát giác ngộ và niềm tin tối thượng vẫn là tin tưởng ở chính mình, ở khả năng tự giác của mình và tin vào tự tánh thanh tịnh bản nhiên tức là Phật tánh, là chơn tâm lúc nào cũng sẵn có và hằng sáng ở trong ta.
     

    ĐẠO PHẬT DƯỚI ÁNH MẮT CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ?

    1) Người đệ tử Phật không bị ràng buộc bởi bất cứ tín điều, tư tưởng, chủ nghĩa hay sự cấm kỵ nào bởi vì Phật giáo phủ nhận đầu óc cuồng tín và giáo điều cực đoan. Nếu không tin Phật thì người đó không bị trừng phạt hay bị đày xuống hỏa ngục, nhưng nếu người đó làm điều xấu hoặc điều ác thì chính họ đang sống trong Hỏa ngục rồi. Lời Phật dạy giống như viên thuốc, nếu uống thì hết bịnh còn không uống thì tiếp tục sống trong vô minh điên đảo khổ đau, chịu sinh tử luân hồi thế thôi.


    2) Sự sống chết của con người là do nhân quả mà ra chớ không do quỷ thần hay Nam Tào, Bắc Đẩu xóa sổ. Tất cả những hạnh phúc hay khổ đau của con người là do chính tay họ tự tạo ra chớ Quỷ Thần không can dự vào được. Thử hỏi bao nhiêu thiên tai, tai nạn khủng khiếp và bao cuộc chiến tranh đẫm máu do ai gây ra? Phải chăng đây là do lòng tham vô đáy của con người đã tác tạo ra những cộng nghiệp, biệt nghiệp bất thiện nên phải gánh chịu quả báo đau thương tang tóc hay do một đấng thần linh nào đó vì phẫn nộ với loài người gây ra? Trong thế gian vũ trụ này không có cái gì là cố định cả. Nếu không có sự chuyển động thì thế giới, vũ trụ, con nguời cũng không còn, không tồn tại. Do sự chuyển động của địa cầu làm rung chuyển những khối lỏng nham thạch bên trong mà tạo thành động đất, núi lửa. Vậy theo tinh thần Phật giáo, không có một vị thần linh nào có thể nhẫn tâm trừng phạt, hủy diệt loài người và gây đau thương chết chóc khắp mọi nơi mà đây chỉ là kết quả mà chính con người đã tạo ra cho chính mình.


    Thêm nữa, khi nói về Thượng đế, Phạm thiên, hay thần linh thì Đức Phật có dạy rằng :


    “Như vậy, chính do ý muốn và sự tạo tác của đấng Tối Cao mà con người trở thành sát nhân, trộm cắp, tà dâm, phỉ báng, thô lỗ, nhảm nhí, thèm thuồng, khao khát, hiểm độc, tinh quái và hiểu biết sai lầm. Do đó đối với người chủ trương thần linh là nguyên nhân chính yếu của tất cả những điều ấy”.


    Trong Túc Sanh Truyện (Maha Bodhi Jataka) cũng nói rằng : ”Nếu có một đấng thần linh toàn quyền ban phước hay giáng họa cho tạo vật đã được chính Ngài tạo ra và cho chúng nó những hành động tốt hay xấu thì vị thần linh ấy quả thật đầy tội lỗi. Bởi vì con người chỉ thừa hành ý muốn của đấng thần linh đó”.


    Do đó nếu nói Thượng đế là đấng toàn năng toàn thiện thì tại sao Ngài lại sáng tạo cái thế giới con người đầy dẫy tội lỗi đau thương? Tại sao Ngài tạo ra biết bao nhiêu cảnh tai trời ách nước, tàn phá, giết hại chúng sinh? Như thế thì lòng bác ái của Ngài ở đâu? Vậy sự cầu nguyện có làm bớt thiên tai, dịch họa, chiến tranh hay khổ đau của con người được không? Vì thế Phật giáo phủ nhận sự hiện hữu thần linh trong cuộc sống của con người. Theo tinh thần Phật giáo thì chính con người phải tự mình giải quyết những vấn đề như chiến tranh hay hòa bình, hạnh phúc hay khổ đau của chính mình. Chiến tranh hay hòa bình là do con người quyết định chớ không dính dấp gì tới Phật trời cả.

    Nếu con người biết sống khoan dung độ lượng để biết thương yêu nhau thì họ biến chiến tranh thành hòa bình, ngược lại nếu các nhà lãnh đạo chạy theo những tham vọng đen tối thì từ hòa bình thành chiến tranh giết chóc thế thôi. Thêm nữa, do sự chuyển động của trái đất, của núi lửa, của những cơn gió lốc…theo định luật vô thường : thành, trụ, hoại, không đã tác hại con người. Nói chung thì đó cũng là do lòng tham của con người phá hũy môi trường sống của chính mình qua chiến tranh, qua những cuộc thí nghiệm nguyên tử, qua tàn phá thiên nhiên, đốt rừng tiêu hủy cây cối…tạo nên những ảnh hưởng dây chuyền nguy hiểm cho nhân sinh. Con người cũng vì muốn thỏa mãn lòng tham mà đi ngược lại với thiên nhiên nên hàng ngày lấy lên từ lòng đất, từ lòng biển hàng triệu thứ từ kim cương đến vàng, bạc, nhôm, sắt, khí đốt, dầu hỏa rồi lại thải ra hàng triệu tấn chất độc tác hại gây ra lầm than qua thiên tai, động đất, sóng thần, bảo lụt, hạn hán…Vì thế con người không thể tin rằng có một Thần linh nào đó có thể nhẫn tâm trừng phạt, hủy diệt loài người và gây đau thương chết chóc tang tóc khắp mọi nơi. Khi liễu ngộ như thế con người không phải sợ hãi thần linh, tôn thờ thần linh, van vái và cầu xin ở thần linh nữa.


    3) Lời nói đầu tiên của Đức Phật khi Ngài vừa thành đạo dưới cội Bồ-đề là “trong mọi chúng sinh ai ai cũng đều có Phật tánh như nhau” nghĩa là bất cứ chúng sinh nào cũng có khả năng tu thành Phật cũng như Phật. Đây là tinh thần bình đẳng mà chỉ Phật giáo mới có. Vì thế đối với người Phật tử một khi đã thấm nhuần tinh thần bình đẳng của nhà Phật thì dưới nhãn thức của họ sẽ không có giai cấp, không có nạn kỳ thị chủng tộc, không có Phật tử giàu sang và Phật tử nghèo hèn, không có Phật tử thông minh hay Phật tử đần độn. Do đó khi người Phật tử lễ Phật là lễ lạy, cung kính cái Phật tánh có sẵn trong con người mình và cung kính tất cả những phẩm hạnh cao quý vốn có sẵn trong tự tánh của chính mình nếu biết phát huy chớ không phải vái lạy, van xin hay cầu nguyện để thỏa mãn những đòi hỏi phát xuất từ dục vọng của mình.


    4) Khi con người biết xã bỏ những thú vui giả tạm của thế gian để phát huy triệt để tiềm năng của lòng từ bi và trí tuệ thì họ sẽ có an lạc, thanh tịnh của Niết bàn mà không cần cầu xin, van vái gì hết bởi vì Niết bàn Bồ-đề vốn đã có sẵn trong họ chớ không do Phật trời ban tặng. Phật giáo chủ trương phiền não tức Bồ-đề và sinh tử tức Niết bàn. Tại sao? Trong cuộc sống, con người vì chạy theo miếng cơm manh áo, sắc tài danh lợi mà tự mình tạo ra biết bao phiền não làm che lấp tự tánh Bồ-đề nên sống trong vô minh đen tối. Bây giờ nếu biết thức tỉnh, hồi quang phản chiếu để hóa giải hết những phiền não kia thì đám mây đen vô minh tan biến và ánh sáng huyền diệu Bồ-đề từ từ hiển hiện trong tâm. Còn sinh tử là khổ đau. Trên thế gian này tất cả mọi vật thể đều là tự tánh thanh tịnh bản nhiên, không ô nhiễm nên gọi là pháp tánh cũng như tất cả chúng sinh đều có tự tánh Bồ-đề mà nhà Phật gọi là Phật tánh.

    Thí dụ như cây cỏ, núi cao rừng thẳm đâu có lôi cuốn, quyến rũ ai đâu, nhưng con người thấy cảnh liền mê, tham hoa hiếu sắc. Do đó tham mê sắc dục là tại cái nhìn của người còn vô minh chớ thiên nhiên lúc nào cũng thanh tịnh hồn nhiên, không ô nhiễm. Con người cũng thế, nếu chúng sinh nhìn thế gian bằng con mắt tham đắm dục tình thì cái gì cũng mê cũng thích, nhưng cũng con người đó bây giờ hiểu đạo mà nhận biết rằng vạn pháp giai không nên không còn chấp thủ, đắm say. Hiểu đạo thì có cũng được mà không cũng chẳng sao, tất cả chỉ là phương tiện để sống chớ không xem nó là cứu cánh của cuộc đời. Sống đúng như vậy thì sẽ có tâm thanh tịnh tức là Phật tánh hiển bày.

    Vậy Phật tánh lúc nào cũng sẵn có trong tất cả mọi chúng sinh cũng như ánh sánh mặt trời lúc nào cũng chiếu sáng. Nhưng nếu con người chạy theo phiền não vô minh thì Phật tánh biến mất cũng như đám mây đen hắc ám che lấp ánh sáng mặt trời. Vậy thế gian làm gì có ô nhiễm, khổ đau hay nói rõ ràng hơn là sáu căn, sáu trần, sáu thức và bảy đại cũng không phải là nguyên nhân của tội lỗi xấu xa. Khổ đau là do con người tự ràng buộc, tự trói lấy mình chứ Phật trời có trói buộc ai đâu. Khi con người biết hồi đầu thị ngạn, tư duy quán chiếu để cởi bỏ, tháo gở cho hết những trói buộc do chính mình tạo tác thì khổ đau từ từ tan biến, ô nhiễm bị tiêu trừ và dĩ nhiên niềm an lạc, thanh tịnh, tự tại của Niết bàn hiện ra mà không cần cầu nguyện chi hết.


    5) Trong lịch sử nhân loại từ cổ đến kim, bao nhiêu cuộc chiến tranh tàn khốc, bao nhiêu cảnh anh em, cha mẹ, vợ chồng, con cái, xóm làng chém giết, sát hại lẫn nhau cũng chỉ vì tánh tham, tật đố. Giáo lý Đức Phật sẽ là những liều thuốc nhiệm mầu xoa dịu nổi đau thương làm con người gần nhau hơn vì còn tham-sân-si là con người còn đau khổ. Vì muốn thỏa mãn lòng tham nên con người không bao giờ thấy đủ, không hạnh phúc với những gì mình có. Người giàu thì muốn giàu hơn cho nên đầu óc không còn sáng suốt nên dễ dàng làm chuyện phi pháp, trái với đạo đức mà phải thọ báo quả khổ về sau. Quốc gia lớn nuốt sống những nước nhỏ, người mạnh ỷ thế hiếp kẻ yếu thế cô…Thí dụ ngày xưa bạo chúa Tần Thủy Hoàng cậy sức mạnh thôn tính sáu nước chư hầu mà cuộc sống ông ta đâu có hạnh phúc vì lúc nào cũng sợ có kẻ báo thù cho nên ông ăn không ngon và ngủ chỉ thấy toàn ác mộng.

    Vì muốn sống lâu để thỏa mãn những dục tính điên cuồng nên ông sai người tâm phúc đi tìm thuốc trường sinh bất tử nhưng cuối cùng ông cũng chết vì uống nhằm độc dược có chất Thủy Ngân. Do đó Phật dạy biết “tri túc thiểu dục” là có hạnh phúc. Thật vậy, người giàu chưa chắc cuộc sống đã là sung sướng bởi vì có càng to thì lo càng lớn. Công danh phú quý cũng như đeo ách trên vai, ách càng to thì vai càng nặng chớ có sung sướng gì. Còn người nghèo mà biết gói ghém, vun bồi đạo đức, trên thuận dưới hòa thì chắc gì đã khổ đau bởi vì hạnh phúc hay khổ đau là ở chỗ biết sống vì thế cổ nhân cũng có câu : ”Trọc phú đa ưu, thanh bần an lạc” là vậy. Cho nên người không hiểu đạo, lúc lâm vào cảnh nghèo túng thì đâm ra buồn khổ tức là :


    “Lòng quanh quéo càng thêm quanh quéo,


    Cảnh đìu hiu dạ lại đìu hiu”


    Cho nên :


    “Lòng buồn sanh bệnh, bệnh sanh lòng buồn”.


    Do đó vui vẻ trong mọi hoàn cảnh là có hạnh phúc rồi. Vì thế mà Đức Phật dạy rằng :


    “Tham dục chính là nguồn gốc của khổ đau. Mọi vật rồi sẽ thay đổi, vì thế không nên luyến ái hay vướng víu vào một thứ gì. Nên nhiếp tâm thanh tịnh tìm chân lý và đạt đến hạnh phúc vĩnh hằng.”


    Biết tri túc thiểu dục là biết sống hạnh phúc với những điều kiện vật chất khả dĩ giúp cho con người có đầy đủ sức khỏe để tu tâm dưỡng tánh và đây là phương cách hữu hiệu nhất để cắt đứt lưới tham dục, an ổn thân tâm và có nhiều thì giờ giúp đở tha nhân. Từ đó chúng sinh mới có thể nhiếp tâm thanh tịnh nghĩa là kiểm soát, đừng để tâm chạy theo khách trần phiền não mà chứng được chân lý và dĩ nhiên Bồ-đề, Niết bàn hiển hiện tức là có được hạnh phúc vĩnh hằng vậy.


    Những gì Đức Phật dạy đều phát xuất từ đời sống kinh nghiệm và chứng đắc của bản thân vì thế, Ngài dạy chúng sinh những ý chí sắt đá, trí tuệ cao siêu, đức vị tha phục vụ, sự thoát ly và sống đời gương mẫu làm lợi lạc cho mình, cho người. Con người vĩ đại đó, tấm lòng đại từ đại bi đại trí tuệ đó, phương pháp giáo dục siêu việt đó của Đức Phật đã làm cho thế giới kính phục Ngài như một đạo sư siêu việt nhất trong lịch sử nhân loại. Đạo Phật là con đường giúp chúng sinh tự mình thể nghiệm chân lý mà Phật chỉ là kẻ dẫn đường, người hướng đạo. Do đó toàn bộ giáo lý Đức Phật chỉ là phương tiện mà thực chứng chân lý mới là cứu cánh cho nên lời nói của Phật có mục đích để cho con người phát nghi, chớ không để cho người ta chấp thật. Tại sao? Vì có nghi con người mới nỗ lực tìm câu trả lời thì đây chính là những công án rất nhiệm mầu giúp chúng sinh thể nghiệm chân lý.

    Đó cũng là con đường mà Đức Phật ngày xưa đã đi. Vì Chân lý chỉ có thể nghiệm chứng chứ không thể diễn tả cho dù là Phật cũng không nói được, nên Ngài mới nói rằng “Ta chưa hề nói một chữ” là vậy. Nói cách khác, Đức Phật dạy chúng sinh đời là bể khổ vì Ngài thấy biết như thế. Nếu Đức Phật là đấng thần linh thì Ngài chỉ cần niệm Úm Ba Di Bát Nhị Hồng rồi phảy cái phất trần thì thế gian làm gì còn khổ đau. Biết đời là bể khổ, nhưng chính Ngài không thể hóa giải nỗi khổ của chúng sinh mà mỗi người phải tự giải thoát lấy những hệ lụy khổ đau của riêng mình mà Phật chỉ là người hướng đạo mà thôi.


    Tuy Đức Phật đã khẳng định rằng Ngài không phải là đấng thần linh, không phải là Thượng đế, không phải là đấng cứu thế, nhưng tại sao hàng năm các chùa Phật giáo Việt Nam ở hải ngoại đều gởi thơ để kêu gọi cầu an cầu siêu cho Phật tử? Phải chăng đây là do lòng từ bi của quý Thầy Cô muốn độ chúng sinh? Thật sự cầu siêu có phải là của Phật giáo không?


    Để giải thích cho nghi vấn nầy, chúng tôi xin trích đăng nguyên văn một đoạn trong bộ “Giáo Khoa Phật Học cấp 2” do Ban Bảo Trợ Phiên Dịch Pháp Tạng Việt Nam ấn hành như sau :


    “…Về tập tục tụng kinh siêu độ cho người chết, theo hòa thượng Đạo An, vốn không phải là một tập tục truyền thống của Phật giáo. Tập tục này chỉ bắt đầu có ở Trung Quốc từ đời nhà Đường. Vì theo sử chép thì năm 738, vua Đường Huyền Tông đã ban sắc lệnh cho toàn quốc, ở mỗi quận đều xây một ngôi chùa, đều đặt tên là chùa Khai Nguyên (Khai Nguyên là niên hiệu thứ nhì của vua Huyền Tông). Đó là chùa công, do các quan lại địa phương trông coi, dùng làm nơi tổ chức các lễ tiết quốc gia, cầu quốc thái dân an. Việc làm này vừa có ý nghĩa đem ân huệ của Phật ban đến quốc dân, cũng vừa để biểu thị quyền uy của chính quyền trung ương.

    Năm 755, An Lộc Sơn nổi loạn, kéo binh về chiếm kinh thành, khiến vua Huyền Tông phải chạy vào Tứ Xuyên lánh nạn. Một năm sau thì quân triều đình dẹp yên giặc loạn. Trong một năm chiến tranh này, số người chết gồm các chiến sĩ của cả hai bên và thường dân nhiều vô kể. Triều đình bèn ra chỉ dụ cho tất cả các chùa Khai Nguyên trong toàn quốc, thỉnh chư vị cao tăng đại đức, thiết lễ tụng kinh siêu độ cho chiến sĩ và thường dân đã chết trong cuộc chiến vừa qua, đồng thời an ủi các gia đình nạn nhân. Dân chúng thấy triều đình làm như thế, bèn bắt chước làm theo, cứ mỗi khi trong nhà có người chết, liền thỉnh chư tăng tụng kinh siêu độ. Từ đó mà lễ cầu siêu độ cho người chết trở thành một tập tục trong dân gian”.


    Vua Đường Huyền Tông vì dùng quyền lực của một vì vua mà bắt ép Dương Thái Chân lúc bấy giờ là người tình của tướng An Lộc Sơn vào cung làm Dương Phi. Vì quá phẫn nộ An Lộc Sơn tạo phản làm vua tôi nhà Đường phải chạy vào Tứ Xuyên lánh nạn. Trên đường bôn tẩu ba đào, vua phải cắn răng chiều lòng ba quân tướng sĩ giết chết Dương Thái Phi. Tuy chiếm được Trường An, nhưng người ngọc Dương Thái Chân đã thành người thiên cổ nên An Lộc Sơn chỉ nắm được trong tay một xác thân giá lạnh, cứng ngắc, đã bốc mùi hôi thúi, chảy nước vàng. Nếu An Lộc Sơn biết “Quán thân bất tịnh” nghĩa là quán chiếu để  biết rằng thân xác con người là nhơ nhớp, hôi thúi và được che đậy bởi một lớp da mỏng mềm dịu êm ái bên ngoài để quyến rũ con người vào vòng tội nghiệp cũng như viên thuốc độc bọc đường thì cho dù có mười Dương Thái Chân, An Lộc Sơn cũng không màng, không gây loạn chớ đâu phải đợi đến khi ôm cái thây ma thối tha thì ông mới biết thân này là bất tịnh. Do đó cho dù là Tây Thi, Trịnh Đán thì đến khi già, khi bệnh cũng không thoát khỏi cái luật vô thường cay nghiệt đó. Vì thế mà người xưa có câu :


    Má thoáng hương mai, mặt nhụy đào,


    Thấy rồi mắt dán, ý nao nao.


    Thảy đều một đãy da hôi thúi,


    Thầm cắt ruột người chẳng dụng dao.


    Nghĩa là khi thấy một người đẹp, tuyệt sắc giai nhân thì mắt nhìn mãi không rời và lòng xốn xang xao xuyến nao nao. Nhưng xét cho cùng đó chỉ là cái dáng bên ngoài vì bên trong chỉ là một đãy da hôi thúi. Do đó càng đắm mê sắc đẹp thì càng dễ gặp tai họa cũng như ngày xưa vua Ngô Phù Sai vì say mê sắc đẹp Tây Thi, ngày đem vui chơi trên Cô Tô Đài mà quên cả giang sơn quốc sự nên về sau bị vua Việt Câu Tiển kéo quân sang đánh làm nước Ngô tan nát và vua Ngô phải chết. Vì thế kẻ tham mê sắc dục thì đạo đức tiêu tan, vợ chồng bất hòa, gia phong bại hoại.


    Là người Việt Nam không ai mà không biết được hình ảnh quen thuộc của Thúy Kiều, một tuyệt sắc giai nhân, đã được thi hào Nguyễn Du diễn tả  như sau :


    ” Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.


    Hoa cười ngọc thốt đoan trang,


    Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da…


    Làn thu thủy nét xuân sơn,


    Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh…”.


    Đẹp như thế mà tại sao về sau nàng Kiều cũng phải than rằng :


    ”Xót thay chiếc lá bơ vơ,


    Kiếp trần biết giữ bao giờ cho xong.


    Hoa trôi nước chảy xuôi dòng,


    Xót thân chìm nổi đau lòng hợp tan…” .


    Nếu sắc đẹp thật sự mang lại hạnh phúc thì tại sao Thúy Kiều lại than trời trách đất, sống dở chết dở như vậy. Hay là :


    ”Rằng :


    Hồng nhan tự nghìn xưa,


    Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”.


    Nguyễn Du vì không thể giải thích hiện tượng hồng nhan bạc mệnh nên đổ hết tội cho ông trời và thuyết định mệnh của Nho giáo. Nhưng trên thế giới, từ cổ đến kim, từ Đông qua Tây không nhất thiết hễ là người đẹp thì phải chịu cảnh ”má hồng phận bạc” như Nguyễn Du nói đâu? Biết bao hoa khôi, mệnh phụ phu nhân có hạnh phúc tràn đầy. Do đó, thuyết định mệnh không làm Thúy Kiều đau khổ, mà đây chính là luật nhân quả của nhà Phật đã chi phối ảnh hưởng cuộc đời của Thúy Kiều và của tất cả chúng sinh. Dựa theo Phật giáo, nếu chúng sinh khéo gieo nhân thì người đó cũng có thể tạo cho mình một quả báo để có diện mạo đẹp đẽ về sau, nhưng nét đẹp đó không liên quan gì tới đạo đức cả. Vì thế, họ có thể là tuyệt thế mỹ nhân nhưng vẫn phải gánh chịu những nỗi bất hạnh như thường. Muốn có cuộc sống hạnh phúc thì họ phải gieo nhân lành, biết bố thí cúng dường, biết kiên trì giữ giới hạnh, hiếu đễ với cha mẹ, sắt son chung thủy với bạn đời, tín nghĩa với bạn bè, trung hậu với chủ nhân…Chính những phước duyên này sẽ kiến tạo cho họ ở đời sau chẳng những là một tuyệt thế mỹ nhân mà còn là người duyên dáng đạo đức làm mọi người kính mến, thương yêu.


    Chính vậy mà Nguyễn Gia Thiều cũng nói rằng :


    “Hoàng hôn thôi lại hôn hoàng,


    Nguyệt hoa thôi lại thêm buồn nguyệt hoa”.


    Bây giờ hãy lắng nghe Thái tử Tất Đạt Đa than thở với Công chúa Da Du Đà La trước khi Ngài đi xuất gia :


    ”Chúng ta sẽ già yếu và xấu đi. Thời gian sẽ phủ lên đầu chúng ta những lớp tro bạc. Ôi! Mặt trong của nàng rồi sẽ mờ đục. Môi thắm của nàng rồi sẽ úa màu. Ta nghe trong ta, trong nàng và trong tất cả mọi người, mỗi ngày mỗi đổ vỡ dưới sức tàn phá của cái búa thời gian…Chúng ta ôm giữ một cách tuyệt vọng những bảo vật ở trong ta như ôm giữ một cái bóng, như nắm bắt một làn hương.”.


    Vì vậy cuộc tiệc nào chẳng có lúc tàn, dung nhan nào chẳng có lúc tàn phai do đó chỉ có cái đẹp tự trong tâm hồn là cái đẹp bền vững, không bao giờ phai nhạt và không còn sợ bị quỷ vô thường ám hại.


    Thế thì cầu an cầu siêu “không phải” là truyền thống của Phật giáo. Chúng sinh phải tự hỏi rằng Phật hay Bồ-tát có thể tiêu trừ những khổ đau, tội nghiệp và những rắc rối của mình được không? Nói cách khác, mình tạo nhân mà người khác chuyển quả có được không? Một người ăn mà người khác có no được không? Con người phải trực tiếp nhận lãnh trách nhiệm của chính mình cho những gì sảy ra đến với mình. Người làm lành sẽ được thưởng quả tốt, ngược lại, kẻ gieo nhân ác sẽ phải thọ lãnh điều bất hạnh thế thôi. Luật nghiệp quả rất công bình, hợp lý và không thiên vị bất cứ một ai cho dù đó là Đức Phật. Một kiếp quá khứ, tiền thân Đức Phật vì lở tạo khẩu nghiệp, cho đến kiếp này mặc dù đã thành Phật vẫn phải trả như thường. Ngài phải ăn lúa dành để nuôi ngựa đến 3 tháng mới xóa được nghiệp bất thiện này. Vì thế nếu con người muốn cải thiện đời sống của mình thì nó tùy thuộc vào sự thay đổi cách cư xử, lối sống và những thái độ nhằm để tác động những gì sẽ xảy ra trong tương lai.


    Đức Phật không dạy cầu an cầu siêu vì có cầu cũng chẳng được bởi vì nhân nào quả nấy, trồng khế thì ăn quả chua còn trồng quít thì hưởng quả ngọt thế thôi. Con người khi còn sống thì dối người, lợi mình. Dối người chưa đủ họ còn quay lại dối mình và dối luôn cả Phật trời. Nhưng khi chết thì thân vật lý đâu còn nữa để che đậy sự dối trá của mình nên tất cả các nghiệp thiện ác hiện ra rất rõ ràng trong thân trung ấm (thân tư tưởng trong hư không) để đưa họ tái sinh tương xứng với quả nghiệp của họ. Khi đi tái sinh thì cái ngã tan vỡ đâu còn nên hài nhi không còn nhớ mình là ai, từ đâu đến, đã làm những việc thiện ác gì. Từ đây nó mang một hình hài mới, sắc diện mới, tên họ mới, cha mẹ anh em dòng họ mới và một cuộc đời mới tương xứng với tất cả những quả nghiệp mà nó đã tạo tác từ những đời quá khứ. Cái ngã cũ không còn, tên họ cũ mất đi.

    Thí dụ ngày xưa là Nguyễn văn A bây giờ tái sinh thành ra John Smith thì ông A vĩnh viễn biến mất trong thế gian rồi, còn đâu nữa mà cầu. Ngày xưa tôn giả Mục Kiền Liên là thánh Tăng mà không siêu nổi cho mẹ ông thì phàm tăng đời nay có ai dám bảo đảm làm được? Còn nếu năm nay các chùa tụng kinh cầu siêu cho ông bà chúng ta được siêu sinh tịnh độ rồi, thì năm tới tại sao các chùa cũng tiếp tục gởi thơ để cầu siêu nữa? Nếu đã siêu rồi thì tại sao năm nào cũng cầu? Cầu đến bao nhiêu năm mới được siêu? Dựa theo Phật giáo, nếu muốn siêu thì khi còn sống con người phải lo tu tâm dưỡng tánh, làm lành tránh dữ, vun bồi phước đức và công đức để biến cuộc sống thành an vui tự tại, thanh tịnh giải thoát thì khi nhắm mắt sẽ được an nhiên siêu thoát mà không cần ai cầu ai nguyện chi cả.


    Hãy nghe tiến sĩ Oldebburg, một học giả người Đức phát biểu rằng :


    - Đức Phật không giải thoát con người, nhưng Ngài dạy con người phải tự chính mình giải thoát lấy mình, như chính Ngài đã tự giải thoát lấy Ngài. Con người chấp nhận giáo lý của Ngài là chân lý, không phải giáo lý này đến từ nơi Ngài, nhưng vì lòng xác tín cá nhân, thức tỉnh bởi những lời Ngài dạy, trỗi dậy bởi ánh sáng trí tuệ của chính mình.
    Ngay cả Giáo sư Eliot viết trong cuốn “Phật giáo và Ấn Độ giáo” rằng :


    - Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, Đức Phật tuyên bố sự giải thoát, mỗi con người có thể đạt được do chính bản thân mình trong đời sống của mình trên thế giới mà không cần đến sự giúp đở của Thượng đế hay thánh thần nào. Ngài nhấn mạnh về giáo lý như lòng tự tin, thanh tịnh, nhã nhặn giác ngộ, an lạc và lòng thương yêu nhân loại. Ngài cũng nhấn mạnh đến sự cần thiết của trí tuệ vì không có nó thì siêu linh nội tâm không xâm nhập trong đời sống của Ngài được.


    Tóm lại, đạo Phật không phải là đạo đổi chác, không phải là đạo ban bố phép mầu và cũng không phải là đạo hứa hẹn. Sự giải thoát giác ngộ hay sự an lạc thanh tịnh Niết bàn thật ra tự chúng sinh đem lại cho mình chớ Phật không ban bố cho ai cả. Vì thế, tuy đạo Phật là đạo của từ bi, trí tuệ và lòng dũng cảm, nhưng nếu con người không tin vào lòng từ bi để thương yêu, ban vui cứu khổ để cứu giúp chúng sinh; vào khả năng phát triển trí tuệ để chứng đạt chân lý ngỏ hầu thấu biết được thật tướng nhân sinh vũ trụ và lòng dũng cảm để vượt qua sóng gió chập chùng mà chiến thắng được vô minh phiền não của mình mà chỉ muốn cầu xin, van vái thần linh để có hạnh phúc thì con đường họ đi chắc chắn “ không phải” là đạo Phật.

    Thế giặc to như vậy, mà chống với nó thì dân sự tàn hại, hay là trẫm hãy chịu hàng đi để cứu muôn dân.


    Trần Hưng Đạo thấy thế bẩm với vua là :


    -    Bệ hạ nói câu ấy thì thật là nhân đức, nhưng còn Tông Miếu Xã Tắc thì sao? Nếu bệ hạ muốn hàng, xin hãy chém đầu tôi đi đã, rồi sau sẽ hàng.


    Vua nghe lời nói trung liệt như vậy trong lòng mới yên. Sau khi đánh tan giặc Nguyên, nhà vua nhường ngôi lại cho con rồi lên núi Yên Tử xuất gia và giao việc trị nước lại cho người khác. Nước Tây Tạng từ khi các vị Đạt-La Lạt-Ma điều hành xã hội thì cơ chế trong nước càng ngày càng suy yếu đến khi Trung Cộng xua quân vào thì không thể nào chống giữ nổi. Mặc dầu Hoa Kỳ là nước chịu ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo, nhưng hiến pháp đã khẳng định rõ ràng là không được đem tôn giáo vào trong cơ chế lãnh đạo quốc gia. Do đó Tổng Thống hay bất cứ nhân viên chính phủ nào muốn tin vào tôn giáo nào cũng được vì đó là đời tư của họ, nhưng khi phục vụ cho quốc gia thì chỉ dựa vào hiến pháp mà thi hành vì thế Hoa Kỳ mới là cường quốc.  Hiến pháp là do dân, bởi dân và vì dân vì thế người nào đủ tài, đủ đức thì được dân bầu làm người lãnh đạo. Đây mới chính là tinh thần bình đẳng khách quan của nhà Phật.


    Một vị Quốc sư, một vị cao tăng là những người đạo cao đức trọng, nhưng chưa chắc họ là những nhà chính trị giỏi để lèo lái con thuyền quốc gia đến chỗ phú cường. Vì sao? Tu hành là đạo đức, là đi theo chân lý, là chân thật, là buông bỏ, là giải thoát giác ngộ. Ngược lại chính trị là gian xảo, mánh lới, thủ đoạn, bẩn thỉu, đê hèn, lợi mình hại người, bất chấp phương tiện miễn sao đạt đến cứu cánh. Thế thì tu hành (đạo đức) và chính trị làm sao hòa nhập với nhau được?


    Danh từ “Quốc Sư” xuất hiện trong lịch sử Việt Nam bắt đầu từ sư Vạn Hạnh (tức nhà sư Lý Khánh Vân) vì sư là người đã đưa người con nuôi Lý Công Uẩn lên ngôi vua, lập ra triều đại nhà Lý. Khi sư Vạn Hạnh thảo ra tờ chiếu để thuyết phục vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) dời đô từ Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình về Đại La (thành Thăng Long tức Hà Nội ngày nay) như sau :


    - Đất Hoa Lư là nơi thế đại không dài, vận số ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, vạn vật không nên. Trong khi đó đất Đại La ở giữa khu vực trời đất, có địa thế rồng quấn hổ phục, ở giữa Nam, Bắc, Đông, Tây, tiện hình thể núi sông sau trước, đất rộng mà bằng phẳng, chổ cao mà sáng sủa, muôn vật rất thịnh và phồn vinh.


    Khi đề cập đến công trình kiến trúc thành Thanh Long (Hà Nội), tác giả Lê Văn Siêu viết trong cuốn “Nguồn Gốc Văn Hóa Việt Nam” như sau :


    - Ta hãy xem cái đường vòng chạy chung quanh nội thành biểu tượng cho Thái cực, hai nhánh sông Tô lịch bên hữu có hồ Lãng Bạc là ứng thủy, bên tả thông ra đường Lưu Thủy là sông Nhị Hà, đó là biểu tượng cho Lưỡng Nghi. Cung điện của vua ở giữa có bốn mặt đều nhau ấy là Tứ Tượng. Thêm bốn kiến trúc bốn cổng ấy là Bát Quái. Tất cả các đường đều bắt đầu từ vòng thái cực mà đi chi chít không biết bao nhiêu, ấy là biến hóa vô cùng vậy. Trong nội thành cung điện sắp đặt theo đúng tám hướng : kiền, khảm, cấn, chấn, tốn, ly, khôn, đoài.


    Sư Vạn Hạnh chịu ảnh hưỡng Lão giáo quá nặng và tin tưởng vào đạo trời để trị nước. Theo Lão Tử, vào thời nguyên thủy thì vũ trụ sinh ra thái cực, rồi thái cực sinh ra âm dương, âm dương sinh ra ngũ hành để tạo ra trời đất. Trời đất với người là một, đều do đạo sinh ra. Mọi vật đều có hai trạng thái âm dương. Đó là tính mâu thuẫn nằm trong tất cả mọi sự vật, mọi hiện tượng. Nói cách khác, phàm vật gì có tính chất hoạt động, ở ngoài, hướng lên, sáng chói, nóng rực đều thuộc về dương và ngược lại là âm. Thí dụ mặt trời, ban ngày là dương còn mặt trăng, ban đêm là âm. Âm dương ý nghĩa đối chọi, mâu thuẫn do đó dựa theo luật phản phục thì trong âm có mầm của dương và trong dương có mầm của âm.


    Sư Vạn Hạnh tin vào Dịch Lý của Nho giáo vì thế tư tưởng “Nho, Thích, Đạo” tam giáo đồng nguyên đã làm Phật giáo bị biến thể. Nhưng :


    Phật giáo không tin thần linh, không tin trời đất, không tin Lưỡng nghi, Tứ Tượng, Ngũ hành, Bát quái mà chỉ tin sâu vào nhân quả.


    Hãy nhìn lại lịch sử trong thời đại Lý-Trần.


    Năm 1010 sư Vạn Hạnh cùng bọn Đào Cam Mộc mưu tôn Lý Công Uẩn lên làm vua, đoạt ngôi nhà tiền Lê thì năm 1225 Trần Thủ Độ âm mưu đưa Trần Cảnh (tức vua Trần Thái Tông) lấy vua Lý Chiêu Hoàng lúc đó mới 8 tuổi để đoạt ngôi nhà Lý mà lập ra nhà Trần. Phải chăng đây là nhân quả của nhà Phật? Đạo Phật dưới đời nhà Trần mang nặng tinh thần nhập thế tích cực qua hệ tư tưởng “Cư Trần Lạc Đạo”. Đó là các Thiền sư công khai bàn luận chính trị, đề xuất nguyên lý trị quốc theo kiểu Quốc sư Viên Thông đời Lý (1080-1151). Hệ tư tưởng này còn được gọi là “Phật giáo thế sự”. Không lẽ nhân tài, hiền đức trong xã hội biến mất hết rồi hay sao mà phải cần những vị “xuất gia” tham gia việc trị quốc an dân? Ngày xưa chính Đức Phật đã khuyên Đề Bà Đạt Đa nên hoàn tục vì tuy là người xuất gia, nhưng “tâm không vào đạo” nên ông luôn nuôi dưỡng những tư tưởng bất thiện, cố tranh giành thế lực, chia rẽ Tăng đoàn để mưu lợi riêng cho mình.

    Đối với Tăng đoàn, Đề Bà Đạt Đa muốn chiếm ngôi vị của Phật, còn đối với thế sự ông xuối vua A Xà Thế giết cha, hại mẹ, làm chuyện vô luân. Màn vô minh hắc ám che lấp tâm tánh thuần lương khiến ông làm việc phản sư, phạm giáo mà phải bị đọa vào địa ngục A tỳ. Phật giáo muôn đời vẫn là Phật giáo, người đệ tử Phật không thể vì “tham vọng chính trị” mà biến thể đạo Phật dưới bất cứ hình thức nào. Chân lý Đức Phật sáng tỏ và vượt ra khỏi đạo thế gian và xuất thế gian. Những bậc thánh như Lão Tử, Khổng Tử là những bậc thánh của thế gian còn Đức Phật là bậc thánh của cả thế gian và xuất thế gian. Một vị quốc sư mà còn tin vào tướng số, dịch đồ thì đủ biết tinh thần mê tín dị đoan của Phật giáo Việt Nam cả ngàn năm nay làm sao tránh khỏi. Người Phật tử chân chính không thể mượn triết lý của kẻ khác mà tự hào là “Minh Triết Việt Phật” được.


    Xin nhắc lại, triều đại nhà Lý bắt đầu từ vua Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) kéo dài đến vị vua thứ 7 là Lý Huệ Tông (Lý Sảm) thì bắt đầu suy yếu vì ông vua này vừa bất tài vừa bịnh hoạn (ông có bệnh phong và đôi khi nổi điên) nên tất cả việc triều chính đều nằm trong tay Thái Úy Trần Tự Khanh. Họ Trần lần lượt nắm lấy quyền bính nhà họ Lý. Anh của Trần Tự Khanh là Trần Thừa có hai người con trai là Trần Liễu và Trần Cảnh (Trần Thái Tông) và người anh em họ là Trần Thủ Độ.


    Trần Liễu sau này sinh ra Trần Tung tức là Tuệ Trung Thượng Sĩ là học trò xuất sắc nhất của thiền sư Phước Đường Tiêu Dao, một cao tăng nổi tiếng cuối thời nhà Lý. Danh hiệu Tuệ Trung Thượng Sĩ là do vua Trần Thánh Tông trao tặng. Tuệ Trung nghĩa là trí tuệ bên trong và Thượng Sĩ là bậc cao tột. Sau Trần Tung còn có Trần Quốc Tuấn  tức là Hưng Đạo Vương Trần Hưng Đạo, Trần Quốc Khang tức là cái thai trong bụng Thuận Thiên sau là con Trần Thái Tông và Trần Thị Thiều sau là Hoàng hậu của Trần Thánh Tông. Vợ của vua Lý Huệ Tông là Trần Thị Dung là anh em họ của Trần Thủ Độ, gốc người dân đánh cá có tục danh là Trần Thị Ngừ (tên của loài cá), sinh được hai công chúa là Thuận Thiên và Phật Kim. Mặc dù Trần Thị Dung là Hoàng hậu, nhưng bà lại tằng tịu với người anh em họ Trần Thủ Độ và về sau hai người còn lấy nhau. Thuận Thiên gả cho Trần Liễu còn Phật Kim tức là vua Lý Chiêu Hoàng là vua đời thứ 8 cũng là đời sau cùng của nhà Lý thì lấy Trần Cảnh.


    Trần Thủ Độ tuy là người không có học vấn, nhưng chính thật là một tay gian hùng chẳng khác Tào Tháo ngày xưa, chủ ý cốt gây dựng cơ nghiệp nhà Trần cho bền chặt cho dù có làm việc tàn ác đến đâu nên dàn xếp đưa người cháu họ là Trần Cảnh lấy vua Lý Chiêu Hoàng lúc ấy cả hai mới vừa 8 tuổi để đoạt ngôi nhà Lý. Tuy Lý Huệ Tông đã đi tu, nhưng vẫn bị Trần Thủ Độ bức tử nên trước khi treo cổ lúc ấy được 33 tuổi, ông có lời nguyền :


    -    Thiên hạ của nhà ta, đã về nhà mày rồi mà mày còn muốn giết ta. Một ngày kia con cháu nhà mày cũng lại như thế.


    Thủ Độ đã hại Huệ Tông rồi, lại muốn trừ nốt các tôn thất nhà Lý. Đến năm 1232 nhân làm lễ Tiên Hậu nhà Lý ở thôn Thái Đường, làng Hoa Lâm, Bắc Ninh, Thủ Độ sai đào hầm, làm nhà lá ở trên, để đến khi các tôn thất nhà Lý đến đây tế lễ thì sụt cả xuống hố rồi đổ đất chôn sống cả. Chẳng những thế Thủ Độ còn ra lệnh đổi tất cả những ai mang họ Lý thành ra họ Nguyễn vì ông nội của Thái Tông tên là Trần Lý. Còn những cung nhân và con gái thân thích nhà Lý thì được gã cho các tù trưởng người Man.


    Không biết sư Vạn Hạnh có bấm độn tướng số dịch đồ để đoán được ngày tàn tiêu điều của dòng họ Lý chăng? Ngày xưa Khổng Minh cũng lập đàn tế sao để mong được sống thêm 10 năm mà có cơ hội khôi phục nhà Hán, nhưng ông ta vẫn chết bất toại ý. Trước khi chết ông than rằng : ”Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Không phải ông trời không chiều lòng Khổng Minh, nhưng phước đức nhà Hán đã cạn rồi cho dù có mười Khổng Minh giúp thì nhà Hán vẫn mất như thường. Khổng Minh tuy chết mà lòng còn oán ông trời. Nếu nhà Quân sư thấu hiểu Phật pháp thì ông sẽ nói lại rằng : “Lượng sự do tâm, thành sự do nghiệp”  tức là nhân nào quả nấy của đạo Phật mới là chân lý!


    Khi Lý Huệ Tông mất, Trần Thủ Độ liền lấy vợ Huệ Tông là Trần Thị Dung (anh em họ). Trần Cảnh lấy Lý Chiêu Hoàng sinh được Trần Trịnh, nhưng đứa bé nầy yểu thọ và từ đây Lý Chiêu Hoàng trở thành hiếm muộn. Năm 1237, khi Thái Tông đã 19 tuổi, Trần Thủ Độ làm chuyện ngang ngược bất chấp luân thường đạo lý, bắt vua lấy chị dâu và là chị vợ. Đó là công chúa Thuận Thiên (chị của Lý Chiêu Hoàng) là vợ của Trần Liễu khi ấy đang mang thai được ba tháng. Trần Liễu quá phẩn uất, nổi loạn, nhưng được ít lâu biết sức mình không làm gì nổi bèn nhân lúc Thái Tông ngự thuyền đi chơi, giả làm người đánh cá lẻn xuống thuyền ngự xin hàng. Tuy thế, cho đến chết Trần Liễu vẫn ôm mối  hận trong lòng nên bắt con là Trần Hưng Đạo thề độc là phải dành lại ngôi báu. May mà Hưng Đạo Vương không nghe. Hoàng hậu Thuận Thiên mà Thái Tông lấy của Trần Liễu tạ thế năm 1248, ở tuổi 32. Sau đó ông có thể lấy vợ khác để sinh ra Trần Ích Tắc (hèn tướng) và Trần Nhật Duật (danh tướng). Năm 1258 Thái Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Hoảng và được triều đình tôn làm Thái thượng hoàng.

    Thái Tông trị vì được 33 năm, làm Thái thượng hoàng được 19 năm thì mất. Thái tử Hoảng lên ngôi tức là vua Trần Thánh Tông cho đến năm 1278 nhường ngôi cho Thái tử Khâm tức là vua Trần Nhân Tông sau này. Đến năm 1293, sau khi đánh tan giặc Nguyên lần thứ nhì, Nhân Tông nhường ngôi cho con là Thái tử Thuyên rồi về Thiên Trường làm Thái thượng hoàng. Nhân Tông trị vì được 14 năm, nhường ngôi được 13 năm, thọ 51 tuổi. Nhân Tông tham học với Tuệ Trung Thượng Sĩ đạt sâu tới chỗ thiền tủy và thờ Thượng Sĩ làm thầy. Sau đó Ngài lên núi Yên Tử xuất gia, tu theo mười hạnh đầu đà, tự lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà và lập ra thiền phái Trúc Lâm. Nhà Trần làm vua cho đến năm 1400 thì Hồ Quý Ly diệt nhà Trần và đổi Quốc hiệu Đại Việt thành ra Đại Ngu cho đến khi anh hùng áo vải Lam Sơn Lê Lợi mười năm đánh đuổi nhà Minh lập ra nhà Lê và đổi Quốc hiệu lại thành Đại Việt. Vua Trần Thuận Tông bị Hồ Quý Ly chuyên quyền, ép chế và cướp ngôi cũng như mấy trăm năm trước Trần Thủ Độ chuyên quyền cướp ngôi Lý Chiêu Hoàng. Phải chăng lời nguyền của Lý Huệ Tông ứng nghiệm? Hay nói theo Phật giáo thì nhân quả ứng hiện vậy.


    Trong cuốn “Khóa Hư Lục” do Thiền sư Thích Thanh Từ giảng giải, chúng tôi xin trích đăng nguyên văn một đoạn do Thiền sư viết như sau :


    “…Nhà Trần vì có công cầm quân dẹp loạn, nên được nhà Lý trọng dụng cho ở trong cung và phong chức lớn. Do đó Ngài Trần Cảnh được đem vào cung để kế thừa ngôi nhà Lý. Vậy Ngài Trần Cảnh lên ngôi là do công lao khai cơ lập nghiệp rất là gian khổ của ông cha…”


    Khi Tổ Bồ-đề vào Trung Hoa vào thế kỷ thứ 5, vua Lương Võ Đế  khoe với Tổ về việc nhà vua xây trên 480 ngôi chùa và độ cho rất nhiều Tăng Ni thì việc làm này có công đức nhiều không? Tổ trả lời rằng những việc làm tốt của nhà vua chỉ tạo phước đức (hữu lậu) trong đời chớ không có công đức (vô lậu) chi cả. Đứng trước uy quyền, danh văn lợi dưỡng chỉ có bậc Thánh mới hành trực tâm, nói chánh ngữ và sống đúng chánh mạng vì thế gian đối với họ là huyển nên họ không cầu, không chấp, không tham. Đây là ứng dụng “Như huyển Tam-ma-đề” nghĩa là đối với Bồ-tát thì họ nhìn thế gian và ngay cả xuất thế gian là huyển hóa, là giả tạm, không bền không chắc, nay có mai không nên chính họ là huyễn, vào huyễn thế gian để độ huyễn chúng sinh được chứng đắc huyển quả vì vậy mà tâm họ không còn dính mắc, lúc nào cũng an nhiên tự tại.


    Việc chuyên quyền soán ngôi thì xảy ra khắp mọi nơi từ cổ đến kim, từ Đông qua Tây không nước nào mà chẳng có. Chẳng hạn như vào thời tam quốc (Ngụy thuộc Tào Tháo, Thục có Khổng Minh phò Lưu Bị, Ngô có Tôn Quyền) bên Trung Hoa (200T.L) gian thần Tào Tháo ép chế, chuyên quyền và sau cùng soán ngôi vua Hiến Đế, tiêu diệt nhà Hán, lập con mình là Tào Phi lên ngôi tự xưng là Đại Ngụy Hoàng đế. Về sau Tư Mã Ý, nguyên là đại thần của Tào Tháo, cũng noi theo gương Tào Tháo, ép chế Tào Phi, đoạt ngôi nhà Ngụy cho con mình là Tư Mã Viêm, gồm thâu ba nước và lập ra nhà Đại Tấn. Cũng giống như thời Đông Châu Liệt Quốc hay Hán Sở tranh hùng, vào thời tam quốc cũng xuất hiện rất nhiều anh hùng nhân kiệt, trung liệt khí phách. Ngoài ba anh em kết nghĩa vườn đào Lưu Bị, Quan Vũ và Trương Phi, còn có một anh hùng tín nghĩa sắt son, mưu trí như thần, tận trung báo quốc và hy sinh suốt cả cuộc đời cho lý tưởng đến hơi thở sau cùng. Người đó không ai khác hơn là Khổng Minh Gia Cát Lượng, một quân sư tài ba xuất chúng phò hai triều đại với lòng tận trung báo quốc.

    Tuy nắm trọn quyền bính trong tay mà ông không bao giờ có lòng gian xảo, âm mưu đoạt ngôi của người. Ngược lại cũng có những tay gian hùng như Tào Tháo, Tư Mã Ý giúp người, cậy lòng tin của người, ép người rồi chiếm đoạt ngôi báu của người. Cho nên công hầu khanh tướng là bả công danh, là phiền não, là gian manh xảo quyệt, là trên đội dưới đạp, là lợi mình hại người, là tạo nghiệp, là sinh tử luân hồi. Vì thế ngày xưa Đức Phật khi xuất gia thì Ngài buông bỏ tất cả, chẳng cần làm vua mà cũng chẳng ham chuộng hư danh Thái thượng hoàng. Chẳng những Ngài buông bỏ mà Ngài còn hướng dẫn con Ngài là La Hầu La, công chúa Da Du Đà La, dưỡng mẫu Ma Ha Ba Xa Ba và biết bao công tôn vương tử khác noi theo bước chân Phật. Còn tham công danh phú quý là còn dính liền với phiền não, nô lệ cho vô minh. Trong Phật giáo, một khi hành giả chứng được Sơ thiền thì chính họ đã lìa được ái dục tức là không còn tâm tham muốn. Cao hơn nữa thì có các vị A La Hán đã hóa giải hết Tham-Sân-Si, không còn phiền não chướng nên tâm hoàn toàn thanh tịnh. Vì thế còn làm vua hay còn muốn cho con mình làm vua để truyền tử lưu tôn tức là còn tham, ái, hỉ, nộ thì làm sao thành Phật được?


    Trong lịch sử cận đại ở Việt Nam cũng có rất nhiều câu chuyện nói về những vị Tăng sĩ dấn thân làm cách mạng như Thiền Sư Thích Mật Thể…Chúng tôi xin trích đăng nguyên văn những bài viết nói về Thiền Sư Thích Mật Thể của Thầy Thích Đồng Bổn như sau :


    “Tháng giêng năm 1946, khi Chính Phủ Lâm Thời tổ chức Tổng tuyển cử, Thiền Sư Thích Mật Thể ra ứng cử ở Thừa Thiên và đắc cử làm đại biểu Quốc Hội nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Chính phủ của Hồ Chí Minh) khóa đầu tiên. Đây cũng là lần đầu tiên một vị Tăng sĩ Phật giáo Việt Nam trực tiếp đi vào đường chính trị. Cũng năm 1946, ông được mời làm Chủ Tịch Ủy ban Phật Giáo Cứu quốc tỉnh Thừa Thiên. Trước khi rút về chiến khu, Mật Thể đã gặp một số anh em đồng chí tại chùa Thế Chí ở Đại Lộc”.


    Và tác giả Điều Ngự Tử Tín Nghĩa cũng viết thêm :


    “Thích Mật Thể theo kháng chiến cho đến năm 1961 thì mất. Ông viên tịch tại Nghệ An, thọ 49 tuổi. Trong thời gian 1957-1961, vì chống lại chính sách đè nén Phật giáo của chính quyền miền Bắc, ông đã bị quản thúc tại Hà Tĩnh và Nghệ An, ông bị cô lập hoàn toàn. Ở trong một căn nhà lá miền quê, ông không được phép di chuyển đi đâu cả và người trong làng trong xóm cũng không được tới viếng thăm. Thỉnh thoảng có người đi ngang qua ném lén vào sân cho ông một túi gạo nhỏ, gọi là để tiếp tế cho ông trong lúc ngặt nghèo”.


    “Ông thẳng thắn phê bình sự nông cạn của chủ thuyết Duy Vật. Phật giáo không phải là duy vật, cũng không phải là duy tâm. Ông nhấn mạnh đến nguy cơ của những nhà làm chính trị thiếu căn bản đạo đức. Ông nói rằng chủ thuyết của chủ nghĩa xã hội rất hay, nhưng vì căn bản của lý thuyết này đã sai lầm “nhận vật chất làm căn nguyên sinh ra vạn hữu” cho nên “Xã hội chủ nghĩa trở nên nông cạn, chỉ thấy hạnh phúc của con người ở cơm ăn áo mặc. Sau cùng ông kết luận : ”Xét tận nguồn gốc xã hội chủ nghĩa tổ chức kinh tế khéo giỏi đến đâu mà không có phương pháp để thủ tiêu lòng tham-sân-si cùng bản ngã nhỏ hẹp kia, thì nhân loại cũng không bao giờ hết khổ được”.


    Sự diễn biến thăng trầm của Phật giáo Việt Nam trong những thập niên trước và sau năm 1975 đã được những sử gia nghiên cứu và ghi chép đầy đủ rồi. Nhưng ở đây, chúng tôi trong tư thế khách quan chỉ trích đăng nguyên văn một vài đoạn trong cuốn “Bạch Thư” của Hòa Thượng Thích Tâm Châu phát hành năm 1993 để quý Phật tử tư duy quán chiếu.


    Trang 24 cuốn “Bạch Thư” Hòa Thượng Tâm Châu viết rằng :


    “Bỗng nhiên vào buổi chiều của một hôm. Thượng Tọa Trí Quang, Thượng Tọa Thiện Minh mời tôi lên tư thất Cụ Chánh Trí - Mai Thọ Truyền. Tại đây, Quý Thượng Tọa yêu cầu tôi làm Trưởng Ban Tổ Chức, triệu tập Đại Hội 11 Giáo Phái, Hội Đồng trong ủy ban Liên Phái Bảo Vệ Phật Giáo hội hợp để thành lập Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất”.


    “Trở về chùa Xá Lợi…đến ngày 1-1-1964. Bản Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất của Thượng Tọa Trí Quang soạn thảo được chấp thuận, bản Hiến Chương của Thượng Tọa Đức Nhuận bị loại. Cụ Mai Thọ Truyền làm Chủ Tịch Ban Thảo Hiến”.


    “…Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất chủ trương xóa bỏ các Giáo Phái, Hội Đoàn mà chỉ cần giám hộ các chùa, thu nạp Tăng Ni, Phật tử vào trong khuôn khổ Giáo Hội của mình….Do đó, khi tôi đảm nhận trọng trách thực hiện Hiến Chương thì Thượng Tọa Giới Nghiêm viết thơ cho tôi, mạt sát thậm tệ và quyết định không gia nhập”.
    Trang 29 Hòa Thượng Tâm Châu viết tiếp :


    “Tại Huế, Đà Nẳng và vài nơi khác tại miền Trung cũng vậy, không sao vãn hồi được trật tự….Thượng Tọa Trí Quang cùng nhóm tranh đấu tại Huế, kêu gọi Phật tử đem bàn thờ Phật ra đường, để ngăn cản bước tiến của Quân Đội Chính Phủ, cho các cán bộ Cộng Sản nằm vùng trà trộn tẩu thoát”.


    “Phong trào mang bàn thờ Phật ra đường lan tràn khắp nơi và vào cả đến Sàigòn. Tại Sàigòn họ đem hình ảnh Phật ra để trên đống rác”.


    “Đem Phật ra đường rồi, Thượng Tọa Trí Quang vào Tòa Hành Chánh tỉnh Thừa Thiên tuyệt thực”.


    Trang 31 Hòa Thượng Tâm Châu lại viết :


    “Bất ngờ 3 giờ sáng ngày 23-10-1966, tại chùa Ấn Quang một số các Thượng Tọa lén lút thành lập Hội Đồng Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất và đề cử Thượng Tọa Thích Thiện Hoa (thầy của Hòa Thượng Thích Thanh Từ, Trúc Lâm Thiền Viện)) làm viện trưởng, coi như lật đổ tôi. Từ đó có ra Viện Hóa Đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất tại Ấn Quang”.


    “Sau đó, Viện Hóa Đạo Ấn Quang chuyển hướng theo đường hướng “Hòa Bình Khuynh Tả”. Viện Hóa Đạo Ấn Quang cử các vị ra nước ngoài liên lạc với các nhóm phản chiến, yêu cầu Mỹ rút quân, đòi hòa bình. Viện Hóa Đạo Ấn Quang cử Thượng Tọa Nhất Hạnh (nay là Thiền Sư Nhất Hạnh của Làng Mai bên Pháp) làm Trưởng Phái Đoàn Hòa Bình bên cạnh Hòa Đàm Paris”.
    Trang 32 Hòa Thượng Tâm Châu lại viết :


    “Đùng một cái, một hôm vào khoảng 7 giờ tối, một số Tăng tại chùa Ấn Quang, được sự hổ trợ của các dân biểu thân Ấn Quang có súng, như Kiều Mộng Thu…đột nhập vào Việt Nam Quốc Tự bắt Thượng Tọa Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Thích Thiện Tường, cùng rất đông chư Tăng, đem về nhốt tại chùa Ấn Quang”.


    Và trang 33, Hòa Thượng viết tiếp :


    “Sự việc rõ ràng như thanh thiên bạch nhật, mà nhóm tranh đấu của Ấn Quang được sự hộ trợ ngầm của Cộng Sản nằm vùng, lải nhải vu khống cho Việt Nam Quốc Tự chia rẽ giáo hội”.


    Trang 35 Hòa Thượng viết rằng :


    “Tình hình biến chuyển bất lợi cho Việt Nam Cộng Hòa. Ngày 30-4-1975 là ngày cáo chung của chế độ Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng bộ mặt thân Cộng Sản đã lộ rõ nguyên hình, không ai mà không rõ.
    - Khi quân Cộng Sản từ rừng về Sàigòn, đã có gần 500 Tăng Ni của phe tranh đấu Ấn Quang ra đón chào.
    - Ngày 19-5-1975 phe tranh đấu Ấn Quang đã tổ chức sinh nhật Hồ Chí Minh tại chùa Ấn Quang.


    - Vào khoảng năm 1980, 1981, chính Thượng Tọa Thích Trí Thủ Viện Trưởng Viện Hóa Đạo Ấn Quang cùng các vị cao cấp nhất phe tranh đấu Ấn Quang đã tích cực vận động thành lập và tham gia vào Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam tại chùa Quán Sứ (Hà Nội), mà người ta thường gọi là “Giáo Hội Quốc Doanh” hay “Giáo Hội Nhà Nước”. Chỉ có Thượng Tọa Thiện Minh, Huyền Quang, Đức Nhuận, Quảng Độ và một số nhỏ các vị khác không tán thành, nên bị bắt hay bị giết”.


    Cùng tranh đấu, hoạt động ủng hộ làm lợi cho Cộng Sản và làm sụp đổ nền Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam mà cuối cùng có người bị Cộng Sản giết chết, tù đày còn người khác thì được cho đi ngoại quốc du lịch quyên tiền về làm chùa to, xây đạo tràng lớn thì thật là ngậm ngùi chua xót cho con tạo khéo xoay vần. Ngay cả Ôn Như Hầu cũng than rằng:


    Mồi phú quý dữ làng xa mã,


    Bả vinh hoa lừa gã công khanh,


    Giấc Nam Kha khéo bất bình,


    Bừng con mắt dậy thấy mình tay không.


    Bả công danh là phù du giả tạo thế mà lúc nào cá cũng cắn mồi cho nên Nguyễn Gia Thiều nói them :


    Tuồng ảo hóa đã bày ra đấy,


    Kiếp phù sinh trông thấy mà đau,


    Người xuất gia mà tự mình muốn gánh thêm nỗi khổ nên Ôn Như Hầu mới kết luận là :


    Mùi tục lụy đường kia cay đắng,


    Vui chi mà đeo đẳng trần duyên.


    Đến khi kẻ ngồi tù, người bị giết mà vẫn chưa thức tỉnh :


    Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán,


    Chết đuối người trên cạn mà chơi,


    Lò cừ nung nấu sự đời,


    Bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương.


    Trong cuốn “Việt Nam Nhân Chứng” của Trung Tướng Trần Văn Đôn có viết rằng ngày 2-11-1963 khi Trung Tướng gặp Thượng tọa Thích Trí Quang tại tòa Đại sứ Hoa Kỳ ở Sài Gòn, Thượng tọa cũng nhắc rằng :
    “Hãy tuyệt đối tin tưởng ở thắng lợi cuối cùng”.


    Không biết thắng lợi cuối cùng mà Thượng tọa muốn nói là gì, phải chăng là ngày 30-4-1975? nhưng câu nói này hơi giống lời nói sau cùng của Lê Hồng Phong, Tổng bí thư thứ 2 Đảng Cộng sản Đông Dương trước khi chết tại Côn Đảo năm 1942 là : ” Tới giờ phút cuối cùng Lê Hồng Phong vẫn một lòng tin tưởng ở thắng lợi vẻ vang của Cách Mạng”. Thật là :
    “Cánh buồm bể hoạn mênh mang,


    Cái phong ba khéo cợt phường lợi danh”.


    Khi nói về Giáo Hội Quốc Doanh, tác giả Tâm Tràng Ngô Trọng Anh có viết trong bài “Pháp Thoại Của Năm Đại Tăng Xứ Huế”, chúng tôi xin trích đăng nguyên văn vài đoạn để quý Phật tử thẩm chiếu :
    - Năm 1982 Hòa Thượng Huyền Quang và Hòa Thượng Quảng Độ bị bắt và giải về nguyên quán giam giữ.
    - Ngày 23-3-1984, Hòa hượng Thích Đức Nhuận, Thượng Tọa Tuệ Sĩ, Trí Siêu, Ni Sư Trí Hải đều bị Công An bắt hết.


    - Mấy ngày sau Hòa Thượng Trí Thủ bị công an đem xe đến chùa bắt đi bệnh viện và bức tử tại đó (2-4-1984). Tôi biết rõ việc này. Thầy không có đau bệnh gì cả. Thầy bị giết vì Thầy làm bình phong bảo vệ Đạo Pháp và Dân Tộc ngày càng thành công cần phải triệt hạ. Xác đem về chùa Già Lam đầy máu me ở mũi và miệng. Hung tin truyền miệng lan rộng như hải triều âm. Cộng sản hoảng hốt liền cho Công an đến cướp nhục thân Ngài đưa quan tài lên chùa Xá Lợi làm nghi lễ Quốc tang vô cùng trọng thể, Phật tử khắp mọi noi toàn quốc kéo về bất chấp giấy tạm vắng, tạm trú của công an khu vực…Hòa Thượng Thích Thanh Trí đương kim Chánh đại diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất Thừa Thiên – Huế cũng viên tịch sau đó.


    Đạo Phật dạy chúng sinh tin sâu vào nhân quả có nghĩa là “tự tác hoàn tự thọ” chớ không thể ẩm ờ mà nói rằng :


    “Xanh kia thăm thẳm tầng trên


    Vì ai gầy dựng cho nên nỗi này”.


    Và tác giả Ngô Trọng Anh kết luận :


    -    Nghiệp làm bình phong chịu trận như Ngài Trí Thủ chết dễ như chơi. Ngoài đức tính vô úy, Ngài có sức chịu đựng, nhẫn nhục vô bờ bến vì dễ bị hiểu lầm. Chính Ngài Đôn Hậu đích thân lên Già Lam la mắng oan Ngài Trí Thủ thậm tệ khi Ngài thành lập Giáo Hội Quốc Doanh dưới sức ép tàn nhẫn của cộng sản.


    Không hiểu các sư trong Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất nghĩ thế nào mà ngày nay vẫn còn tranh với đấu. Trong cuốn “Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi” của Hoàng Linh Đổ Mậu ở kế trang 122 có những tấm hình của

    Thượng Tọa  Hộ Giác, Thiện Minh, Trí Quang vai bên vai, sát cánh tranh đấu bên nhau và kế trang 126 hình Thượng tọa Huyền Quang hân hoan đọc diễn văn chào mừng quan khách trước sự hiện diện của Trung tướng Dương Văn Minh, Đổ Mậu…và rất nhiều nhân viên sứ quán Hoa Kỳ trong lễ khai mạc Đại Hội Phật Giáo Thống Nhất đầu tiên vào năm 1964. Thế thì dưới ánh mắt của Cộng sản, Giáo Hội Phật Giáo Thống Nhất là tàn tích của nền đệ nhị Cộng Hòa tức là Ngụy mặc dù oái ăm thay các sư không phải là Ngụy nên làm sao tồn tại trong xã hội chủ nghĩa được. Nếu tồn tại thì Nghĩa Trang Quân Đội ở Biên Hòa vẫn còn chớ đâu có bị tàn phá hủy diệt.

    Cũng vì liên quan đến CIA mà Tướng Bạch Đằng của Cộng Sản đã đề nghị với Lê Đức Thọ đừng nên dùng Thượng tọa Trí Quang vì họ nghĩ rằng ông là người một mặt hai lòng (vừa đi với Mỹ vừa đi với Cộng sản), không tín nghĩa. Vì thế mà Thượng tọa Trí Quang lui về Vũng Tàu tham thiền lánh nạn. Mấy sư phấn khởi ủng hộ cho Cộng sản mà quên mất đi lời Phật dạy rằng : ”Tấm thân tứ đại là vô thường giả tạm nên chúng sinh chỉ dùng nó như là chiếc bè để sang sông. Sang sông rồi bỏ chiếc thuyền chớ đừng mang theo mà mệt nhọc, khổ đau”. Các sư nghĩ rằng Cộng sản là vô thần nên không biết Phật Pháp. Chẳng những họ rành Phật Pháp mà còn biết áp dụng triệt để, rốt ráo nữa là khác.

    Bây giờ Cộng sản sang sông được rồi thì họ vứt bỏ chiếc thuyền “Giáo Hội Thống Nhất” của các sư chớ mang theo chi mà mệt nhọc, khổ đau và nhức đầu mỗi khi nghe các sư kể công kể sức. Các sư ngày nay tranh đấu không phải là cho tự do dân chủ, cho nền Cộng hòa bởi vì trong thời đệ nhị Cộng hòa các sư có đầy đủ tự do dân chủ mà vẫn hăng say tranh đấu như thường! Phải chăng các sư tranh đấu là cho cái bóng ma “Giáo Hội Thống Nhất” hay cho cái ảo vị “Tăng thống” của các sư? Thời Cộng hòa các sư công khai biểu tình, tuyệt thực, đem Phật ra đường thì tại sao ngày nay không tiếp tục truyền thống tranh đấu đó để thống nhất Phật giáo và xóa bỏ giáo hội quốc doanh của nhà nước? Vàng thật thì sợ gì lửa? Sự tranh đấu hồ hởi của các sư đã làm sụp đổ nhanh nền Cộng hòa đưa đến cái chết của biết bao thường dân vô tội. Kết quả mấy trăm ngàn người thân xác chìm sâu dưới lòng đại dương và biết bao người khác bỏ thây trong những trại tù cải tạo, nhà tan cửa nát mà các sư vẫn chưa thấy đủ sao? Thôi các sư nên chín bỏ làm mười, an phận tu hành vì “vạn pháp giai không” nên bám víu chấp thủ vào nó để làm gì.


    Chớ đừng :


    “Đa mang chi nữa đèo bồng


    Vui gì thế sự mà mong nhân tình”


    Mà hãy :


    “Lấy gió mát trăng thanh kết nghĩa


    Mượn hoa đàm đuốc tuệ làm duyên” đi.


    Ở hải ngoại có nhiều dư luận nói về phong trào phản chiến, thiên tả của Thiền sư Nhất Hạnh hay lời nhạc Trịnh Công Sơn qua tiếng hát Khánh Ly có thật sự ảnh hưởng đến cuộc chiến Việt Nam chăng? Có câu chuyện để ôn cố tri tân như thế này :


    Ngày xưa trong thời kỳ Hán Sở tranh hùng, Hạng Võ (vua nước Sở) là tay dũng tướng đánh đổ nhà Tần, sức mạnh vô địch có thể nâng nổi chiếc đỉnh đồng nặng ngàn cân. Khi dấy binh khởi nghĩa, dân chúng sáu nước chư hầu đều ủng hộ  ông vì ai ai cũng đều chán ghét chế độ bạo tàn của Tần Thủy Hoàng. Thế nhưng khi nắm được quyền thế trong tay thì uy quyền, danh hoa, phú quý làm ông tối mắt mà đi theo vết xe đổ của bạo chúa nhà Tần nên Lưu Bang (nhà Hán) với sự điều binh khiển tướng của Hàn Tín xua quân đánh đuổi. Tuy dưới trướng của Hàn Tín có rất nhiều danh tướng, nhưng ông chống cự rất mãnh liệt, quả xứng danh mãnh hổ địch quần hùng. Sợ Hạng Võ chạy trốn về nước Sở là quê hương của ông thì rất khó tiêu diệt nên Quân sư của Lưu Bang là Trương Lương trong đêm thanh vắng lên đỉnh núi cao dùng tiếng tiêu sầu (tiếng sáo) để làm vơi lòng chiến sĩ khiến họ nhớ vợ con, thương cha mẹ ở quê nhà mà lần lượt đào ngũ hoặc chiến đấu với tinh thần tiêu cực. Mặt trời bình minh ló dạng, Hạng Võ thức giấc thấy quanh mình chỉ còn lẻ loi vài người trung tín. Biết thế cùng lực tận, không thể nào chống nổi, ông bèn tự vận ở bến Ô Giang.


    Trong những năm gần đây, tác giả Dương Thu Hương viết trong bài “Tôi là Phật tử theo cách riêng của tôi”, chúng tôi xin trích đăng nguyên văn đoạn chót khi diễn tả về kinh nghiệm chính bản thân của bà tại Việt Nam để quý Phật tử tư duy quán chiếu :


    “…Cách đây chừng mười bảy, mười tám năm một ngày Xuân tôi đi viếng cảnh chùa. Ngôi chùa đó nằm gần phủ Tây Hồ. Trên đường tới phủ rẽ tay phải chừng non trăm mét là tới. Tôi không còn nhớ rõ tên chùa mặc dù đó là nơi trước khi xảy ra sự việc năm nào tôi cũng tới, khoảng một hai tháng một lần, siêng năng nhất là mùa Xuân và mùa Thu. Đó là ngôi chùa cổ còn may mắn sót lại sau những cơn đốt phá đình chùa đền miếu theo chủ trương “tiêu diệt tàn dư phong kiến” của chính quyền cộng sản. Không có gì đặc biệt ở ngôi chùa ấy, ngoài một mảnh vườn nhỏ vừa trồng đào vừa trồng mai. Có lẽ cảnh tượng thân ái của những cây đào và cây mai chen vai, thích cảnh cuốn hút tôi vào mùa Xuân và khi mùa Thu đến, đám cành trần trụi khẳng khịu vươn lên trong lặng lẻ cũng mang lại một vẻ đẹp u sầu và nghiêm cẩn, vẻ đẹp ta thường gặp ở một ngôi chùa cổ xứ Bắc.


    Trưa hôm đó, tôi qua cổng chùa đi vào ngôi nhà ngang. Vừa đặt chân lên bậc tam cấp tôi chứng kiến một cảnh tượng không tương hợp chút nào với chốn từ bi : Trên tấm phản gỗ mốc, sư cụ bà ốm nằm cong queo, bát cháo ăn dở ở một góc phản khô đét lại. Nhà “sư nữ” ngoài tam tuần mắt long sòng sọc tay nắm cổ người bệnh lắc, miệng rít lên :


    -    Mày chết đi, mày chết ngay đi cho người ta nhờ!..


    Sư cụ đã quá yếu không cựa nổi, cái đầu lắc lư ngật ngưỡng như quả bưởi trong tay người đàn bà hung hãn :


    -    Mày chết đi…


    Tôi định lui ra nhưng cô ta đã nhìn thấy tôi. Quá muộn cho cả đôi bên. Hẳn cô ta không ngờ có kẻ đột nhập “ngang hông” bởi thông thường khách thập phương phải qua sân đi vào chùa chính. Cô ta không biết rằng tôi quen mọi ngõ ngách và thường đi tắt qua nhà ngang vào chùa sau để hầu chuyện sư cụ. Không thể mở miệng “mô phật” như lần trước cô ta ném cho tôi một cái nhìn giận dữ và thách thức rồi ngoay ngoảy quay đi. Tôi ngồi xuống phản với sư cụ. Cụ không mở mắt nổi và giọng nói đã đứt quãng nhưng hoàn toàn minh mẫn. Đó là người đã xuống tóc từ thời chính quyền 1945 chưa thiết lập, đã duy trì và tu tạo ngôi chùa này qua mọi thăng trầm của thời gian. Nhưng cụ không có mảy may quyền hành để lưu giữ các chân tu ở lại, thay vì chủ trì. “Nhân sự” do “bên trên” đưa xuống.
    Vậy cái gì là “bên trên”?


    Quyền lực nào áp chế những người tu hành và thả lũ lợn bẩn thỉu vào khắp chùa chiền xứ sở?...Chẳng có gì bí mật cả, “bên trên” là A 25. Cục bảo vệ văn hóa thuộc Tổng cục 1 Bộ Nội Vụ. A 25 có nhiệm vụ đào tạo sư sãi để “yểm” Hội Phật giáo Việt Nam, để trấn giữ hệ thống chùa toàn quốc. Không ai quên rằng chính nhà nước cộng sản đã dấy lên cơn bão kinh hoàng nhằm tàn phá đình chùa, đền miếu thậm chí đào mồ hốt mả chúng sinh, tiêu diệt tất cả những gì mà họ cho là “tàn tích của chế độ phong kiến”. Trong một thời gian dài, những người cộng sản muốn xóa sạch tất cả các tôn giáo, bắt chúng sinh thờ vị thần duy nhất mắt xanh mũi lõ tên là Karl Marx và đám tông đồ của ông ta. Nhưng để xóa đi một đức tin và thay thế vào một đức tin khác không dễ dàng như họ tưởng. Và không phải bất cứ lúc nào họng súng cũng đem lại những kết quả mong muốn. Thời gian không ủng hộ họ. Bức tường Berlin sụp đổ và Lénine vĩ đại của họ sụp đổ theo.

    Dân Nga xích cổ tượng ông ta kéo lê trên bùn. Đám tín đồ phương Đông đứng chơ vơ không biết từ nay “người cầm lái vĩ đại” của họ sẽ là ai? Trong lúc đó dân chúng ào ào dựng đình, cất chùa. Khắp nơi miếu mạo, đền chùa, lăng tẩm dựng lên theo trí nhớ. Chính quyền cộng sản có thể truy bức tàn sát chúng sinh, cướp bóc phá hủy tài sản của họ, nhưng trí nhớ và niềm tin là những thứ không thể bắn thủng bằng các loại đạn. Và như thế, giờ đây dân chúng đã xây lại tất cả những gì đã từng bị họ tàn phá, nếu không nói là còn nhiều hơn. Nhu cầu tâm linh hóa ra cũng là một nhu cầu sinh tử của kiếp người. Trước tình hình này A 25 trở nên quan trọng hơn vai trò “bảo vệ nền chuyên chính”. Nhiệm vụ của họ là “khống chế hội phật giáo” biến chùa chiền toàn quốc thành hệ thống pháo đài của quyền lực, rình mò theo dõi tư tưởng dân chúng và …điều này nữa, các tín đồ của Marx không quên : tận thu nguồn lợi béo bở từ đám chúng sinh “mê tín” kia. Vậy là đội quân “sư nhà nước” được hình thành.


    Nguồn đào tạo chính là C 500 (đại học ngành an ninh). Thêm nữa, sinh viên tuyển lựa từ các đại học khác như Tổng hợp, Sư phạm, Ngoại ngữ…có thành phần cơ bản (lý lịch đáng tin cậy) được vũ trang bằng lý thuyết giai cấp của Marx-Lénine và một thứ chủ nghĩa duy vật hạ đẳng. Sau đó, lớp người này được “tráng men” bằng lý thuyết đạo Phật và trước hết các phương pháp niệm kinh, hành lễ để “vào nghề”. Như thế nhà nước cộng sản đã tạo nên một đội ngũ “tôi tớ trung thành” được quyền thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất và nhục thể dựa trên sự đầu cơ trục lợi “những khác vọng tâm linh” của dân chúng. Các ông sư bà sư áo quần phấp phới cưỡi xe vù vù đi “hợp kín”. Hợp kín ở đây tức là hợp “giao ban” ngành dọc A 25. Họ báo cáo rành mạch mọi thành tích. Riêng những cọc tiền thu được từ các thùng công đức là “không thể rành mạch” vì các sư còn phải mang về quê xây nhà tầng và lo cho các con học đại học trong nước và ngoài nước. Sư hành nghề ở Thái Nguyên, Hà Bắc thường có quê quán gia thất tại Thanh Hóa, Nam Định và ngược lại… So với các nghề khác trong Bộ Nội Vụ, “nghề làm sư” là béo bở, chỉ thua  kém “Cục buôn lậu ma túy” thôi.


    Cả một bộ máy lừa bịp vận hành nghiễm nhiên và ngang nhiên dưới ánh mặt trời, trước mắt dân chúng.


    Dân chúng, tuy thường xuyên phải cúi mặt nhẫn nhục cam chịu, đôi khi cũng vùng lên tranh đấu, đòi đuổi sư nhà nước, giành chùa cho chân tu. Vụ biểu tình của các tín đồ chùa Láng Hà Nội cách đây ba năm là một thí dụ. Trong tối hôm đó, công an đã bắt giam trên một trăm tín đồ”…”.


    Người Tây phương có câu : “chiếc áo không làm nên người tu sĩ” bởi vì chiếc áo không phải là tâm đạo đức, tánh thuần lương của một nhà tu chân chánh. Vì thế trong kinh Duy Ma Cật, Phật dạy rằng tu hành không quan trọng chuyện đầu tròn áo vuông, không chạy theo hình tướng bề ngoài mà là sự tu sửa từ trong nội tâm để thanh lọc những vẩn đục tham-sân-si làm cho tâm được thanh tịnh. Ngày nay hiện tượng sư “lợi dưỡng” mà ngày xưa chính Đức Phật dùng để gọi các Tỳ kheo bị lợi ích vật chất lôi cuốn, chìm đắm vào đó mà xao lãng những mục đích cao quý của việc xuất gia. Hiện tượng này đã xuất hiện vào thời Đức Phật, vì vậy ngày nay giữa thế giới vật chất đầy cám dỗ thì điều này không thể tránh khỏi.


    Các sư dạy chúng sinh nhân quả mà chính mình chẳng coi nhân quả là gì thì đủ biết Phật giáo sa sút đến mức nào!


    Ngày xưa Đức Phật và biết bao đệ tử của Ngài từ bỏ giàu sang phú quý, quyền cao chức trọng để xuất gia cầu đạo và sống đời thanh bần an lạc mà hoằng pháp lợi sanh. Ngày nay người đệ tử Phật thì ngược lại muốn xuất gia để có được quyền uy, danh vọng, ăn trên ngồi trước, giàu sang phú quý. Như thế đủ biết tinh thần : ”Xã phú cầu bần xã thân cầu đạo” chỉ còn là kỷ niệm, là cái bóng của quá khứ. Ngay cả những danh từ rất khả kính như “bần tăng”, “bần ni” cũng dần theo thời gian biến mất.


    Có Cộng sản là bởi do thực dân, phong kiến. Ngày nay thực dân phong kiến không còn thì Cộng sản diễn lại “tuồng” thực dân phong kiến. Thế thì tuồng xưa hát lại, chỉ khác nhau là đào kép mới vậy thôi. Trước sau dân khố rách vẫn hoàn khố rách. Ngày xưa bạo chúa Tần Thủy Hoàng cưỡng chiếm nước Yên, bị Công chúa nước Yên mắng thẳng vào mặt rằng : ”Mày phản phúc, lừa người và dùng bạo quyền chiếm được đất Yên, nhưng mày không bao giờ chiếm được lòng người dân nước Yên”. Và Quỷ Cốc Tiên sư đã nói với Bàng Quyên trước khi cho người đệ tử xuống núi : ”Mày lừa người, hại người để đoạt công danh phú quý thì người sẽ lừa mày, hại mày trở lại”. Tuy thầy đã căn dặn, nhưng con người phản phúc Bàng Quyên vẫn lừa, chặt hai chân Tôn Tẩn nên về sau Tôn Tẩn dùng binh pháp lừa lại rồi chặt đầu Bàng Quyên. Trước sau vẫn không ngoài nhân quả báo ứng.


    Ngoài những vị tu sĩ “thích” dấn thân vào chính trường, Phật giáo Việt Nam cũng có những vị Hòa Thượng chỉ chuyên tu hành cầu giải thoát và hoằng pháp lợi sanh. Chúng tôi xin trích nguyên văn một đoạn của Thầy Thích Đồng Bổn thuộc Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam đã viết về Hòa Thượng Thích Trí Hải như sau :


    - Tôi có duyên lành được gặp Ngài một lần khi Ngài đến thăm Hòa Thượng chùa Đông Hưng, bổn sư của tôi, cũng là y chỉ sư của Hòa Thượng Quảng Thạc, một đệ tử của Ngài khi còn ở đất Bắc. Cung cách khiêm cung, Ngài cùng Hòa Thượng tôi đàm đạo về quá trình tu tập cũng như Phật học, hai Ngài đã rất tâm đắc về chí nguyện giải thoát và cùng nhau kết luận một câu nói để đời :

    ”MỤC ĐÍCH TU HÀNH KHÔNG PHẢI ĐỂ LÀM CHÍNH TRỊ”.

    Tại sao? Bởi vì chính trị có nhiều đòn phép dơ bẩn thâm độc, là gian manh, xảo quyệt, mánh lới, thủ đoạn, bẩn thỉu, đê hèn, lợi mình hại người, bất chấp phương tiện miễn sao đạt đến cứu cánh, chẳng những không thích hợp với đạo lý sống của con người mà còn đi ngược lại với tinh thần vô ngã vị tha của nhà Phật.


    Những trích đoạn trên đây là bút ký riêng của Hòa Thượng Thích Tâm Châu, tác giả Tâm Tràng Ngô Trọng Anh và tác giả Dương Thu Hương. Vì là tư tưởng cá nhân nên sẽ có thuận hay nghịch, đúng hay sai, hài lòng hay không tùy theo khuynh hướng, lập trường hay tư tưởng sống của mỗi người. Ngôn ngữ, văn tự chỉ là kết quả của sự đối đãi nhị nguyên trong thế giới tương đối. Thông thường cái “đúng” của phàm nhân là cùng phe, cùng phái, cùng tư tưởng với mình còn “sai” là khác phe khác phái. Cái đúng này khác với cái đúng khách quan, đúng với sự thật, đúng với chân lý. Nhưng đứng về mặt bản thể tuyệt đối thì hễ có nói là không đúng, cho dù nói hay cách mấy cũng sai chân lý. Chỉ có sự im lặng của Chánh pháp, sự vô ngôn của giải thoát giác ngộ là phương tiện tốt nhất để có sự thức tỉnh toàn vẹn. Vì thế kinh Bát Nhã có câu : ”vô thuyết vô văn chơn Bát Nhã” là vậy.


    Quý Phật tử muốn xem toàn bộ cuốn “Bạch Thư” hay bài “Pháp Thoại của Năm Đại Tăng Xứ Huế” xin vào www.thuvienhoasen.net  vào phần “Sử Phật Giáo Việt Nam” hay bài ”Tôi là Phật tử theo cách riêng của tôi” xin vào www.toquocvietnam.org.


    Nhưng tại sao các vị xuất gia “thích” tham gia chính trị?


    Theo tinh thần Phật giáo, những vị tu sĩ “Thân xuất gia mà tâm không xuất gia” nghĩa là những vị tu hành tuy thân đã vào đạo mà tâm vẫn còn đắm nhiễm thế tục, thích việc hý luận thế gian cho nên nơi nào có danh, văn, lợi, dưỡng là có mặt vị này. Vì thế những vị tu hành mà không tu theo Thiền na nghĩa là họ không nhập được định thì tâm vọng động sẽ nổi lên mà nhà Phật gọi là “thối đọa” nghĩa là tu lâu mà không đạt được gì cả. Lúc đó họ sẽ sinh tâm ham danh lợi, thích tham gia hoạt động chính trị thay vì chuyên tu tâm cầu giải thoát. Vì sao? Bởi vì sắc, tài, danh, lợi thì lúc nào cũng núp ở trong tâm của con người, nó chỉ đợi có cơ hội là phát hiện cho nên nếu không thể nhập vào đại định để có đủ trí tuệ mà tiêu diệt nó thì sự xuất hiện của tham-sân-si chỉ còn là vấn đề thời gian trước hay sau, mau hay chậm  mà thôi.
    Đức Phật dạy rằng :


    “Tri kiến lập tri tức vô minh bổn


    Tri kiến vô kiến tư tức Niết bàn”


    Nghĩa là đem sự thấy biết bên ngoài đưa vào tâm tức là đem những cái thấy, nghe, biết của mình chồng lên sự phân biệt thương ghét, lấy bỏ, hơn thua, tốt xấu thì đây chính là gốc rễ của phiền não, vô minh. Còn thấy biết rồi bỏ đi tức là không mời khách trần vào tâm thì mới tìm thấy Niết bàn. Nói cách khác người đệ tử Phật phải biết cái gì là gút để phải vướng mắc mãi mãi trong sinh tử luân hồi hoặc làm sao mở gút để không còn ràng buộc trói trăn mà bước đi thong dong tự tại. Nói thế có nghĩa là đừng đem những chuyện tranh chấp của thế gian đưa vào tâm sẽ làm cho tâm bất tịnh. Đức Phật dạy chúng sinh tin sâu vào nhân quả bởi vì không có việc “một người ăn mà người khác được no” mà phải là “ai ăn người nấy no, ai uống người đó hết khác”. Người đệ tử Phật nếu muốn đi theo con đường giải thoát giác ngộ thì nên tránh xa tranh chấp, xung đột, bè phái chính trị. Bởi vì còn tranh đấu, còn tranh chấp, còn chia rẽ là còn đi trên con đường tạo nghiệp, con đường sinh tử trầm luân. Phật Pháp giúp chúng sinh sống gần với chân tánh của chính mình còn đấu tranh là chạy theo vô minh phiền não.


    Vào thập niên sáu mươi, khi ca sĩ Elvis Prestley được Tổng thống Nixon mời vào tòa nhà trắng. Sau khi chụp hình kỷ niệm thì Elvis nói với Nixon rằng :


    “Tôi rất thích cảnh uy quyền của ông. Nay mai tôi sẽ vận dụng tranh cử để được ngồi vào chiếc ghế quyền uy tối thượng này”.


    Nixon êm diệu trả lời :


    - “Ông lầm rồi, chức vụ Tổng thống ở Hoa Kỳ chỉ có tối đa là 50% người dân của phe mình ủng hộ. Tôi là Tổng thống Cộng Hòa thì người Dân Chủ lúc nào cũng bới lông tìm vết để hạ bệ tôi. Đó là chưa kể phải đối đầu với biết bao nỗi khó khăn về mọi mặt từ trong nước đến hải ngoại. Còn ông ngày nay và có lẽ mãi mãi về sau ai ai cũng yêu cũng thích những lời ca và điệu nhảy bất tử của ông. Thế thì ông còn muốn đánh đổi nữa chăng?”.


    Nguyên lý Bất Nhị được xiển dương trong kinh Duy Ma Cật để khai thị cho người đệ tử Phật về đường tu không hai tức là không còn phân biệt có hai, có sự đối đãi của những hiện tượng thế gian pháp. Khi đã thấu hiểu chân lý này, người đệ tử Phật sẽ không còn thấy có sự khác biệt giữa mình và người vì mình và người vốn là một cùng chung một bản thể. Không còn thấy sự khác biệt giữa giáo hội nầy hay giáo hội nọ, không còn thấy có Phật giáo Việt Nam hay Phật giáo Ấn độ, Phật giáo Tây Tạng hay Phật giáo Trung Hoa vì mỗi quốc gia tuy ngôn ngữ có khác nhau, hình thức xây dựng chùa chiền khác nhau, nhưng tất cả cũng là Phật giáo phát xuất từ một cội nguồn và sau cùng quy về một cứu cánh là giải thoát giác ngộ cũng như trăm sông cùng đổ về biển lớn. Nói cách khác Phật giáo giống như một cây Bồ-đề, phát xuất từ một cội nguồn, tuy dần theo thời gian có sinh ra trăm nhánh, nhưng cuối cùng nhánh nào cũng trổ cùng một loại trái giải thoát giác ngộ, không sai không khác. Vì thấy có hai nên con người mới có sự phân biệt, có tốt có xấu, có người có ta, có giáo hội mình giáo hội người nên mới có sự xung đột, tranh đấu, chia rẽ, giết hại lẫn nhau.

    Tinh thần vô ngã (không phải cho mình) vị tha (vì người) của nhà Phật là không còn thấy có mình, có người do đó nếu người đệ tử Phật còn thấy có giáo hội này, giáo hội nọ là còn chạy theo chấp ngã, chấp tướng tức là vẫn còn nô lệ cho phiền não vô minh, khư khư ôm giữ quá khứ nên sống trong ảo tưởng oan đường. Ngày xưa Đức Phật xuất thân từ cung thành Ca Tỳ La Vệ, nhưng trong kinh điển Phật giáo không hề nói Phật giáo Ca Tỳ La Vệ hay Phật giáo Ma Kiệt Đà mà chỉ thuần nhất Phật giáo. Ngay cả giáo lý nhiệm mầu mà Như Lai chứng ngộ dưới cội Bồ-đề thì chính Đức Phật cũng không bao giờ nói là của mình bởi vì Như Lai chỉ thuật lại những gì mà Như Lai thực chứng. Mà chân lý là sự thật vĩnh hằng của thế gian vũ trụ chớ đâu phải của riêng gì cho Như Lai. Vì thế trong suốt bốn mươi chín năm hoằng pháp lợi sinh, Ngài nói :


    “Thị tùng thành đạo hậu


    Chung chí bạt-đề hà


    Ư thị nhị trung gian


    Vị thường thuyết nhứt tự”


    Nghĩa là :


    Từ khi mới thành đạo


    Đến lúc nhập Niết bàn


    Trong khoảng thời gian này


    Ta không nói một chữ.


    Con người vì còn chạy theo vị ngã nên mới thấy là của mình, thuộc về mình, nhưng thật ra trong thế gian có cái gì là của mình, thuộc về mình đâu? Có ai bảo đảm quý vị sẽ tái sinh là người Việt Nam trở lại hay là nghiệp lực sẽ quyết định vận mệnh của mình? “Vạn pháp giai không - Duyên sanh như huyển” nghĩa là đời là giả tạm, duyên kết thì tạm có, duyên tan thì tan rã, biến mất vì thế cái gì là thật của mình, thuộc về mình mà phải ôm giữ, tranh đấu?


    Trong cuốn “Lược Sử Phật Giáo” tác giả Edward Conze có viết rằng :


    -    Phật giáo chưa bao giờ được biết là có cơ chế quyền lực trung ương theo kiểu như Giáo Hoàng của Thiên Chúa giáo hay giáo chủ Khalif của Hồi giáo.


    Phật giáo là đạo tự giải thoát giác ngộ chớ không do ai cứu rỗi như Thiên Chúa giáo vì thế chức vị Tăng Thống hay cơ chế quyền lực dùng để làm gì, cứu rỗi cho ai? Đạo Phật là đạo giải thoát chớ đâu phải hệ thống trói buộc. Phật ở trong tâm vì thế bất cứ ở đâu hễ có tâm là có Phật. Ngày xưa vua Trần Thái Tông rời cung điện nguy nga, leo trèo lặn lội, núi hiểm suối sâu tìm lên núi Yên Tử để tìm Phật thì Quốc sư Trúc Lâm nói rằng : ”Trong núi vốn không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng mà biết gọi là Chơn tâm. Nay bệ hạ nếu ngộ tâm này thì tức khắc thành Phật, không nhọc cầu bên ngoài”. Chùa là cửa Phật, ở đâu hay chùa nào cũng là cửa Phật, tu theo pháp môn nào cũng là đạo Phật và vị Tăng nào cũng là đệ tử Phật. Ai muốn tu chùa nào cũng được, quy y với vị Tăng nào cũng thế vì quy y Tam Bảo chớ đâu phải quy y làm đệ tử riêng cho vị Tăng hay chùa nào. Rất nhiều người cho đến ngày nay vẫn còn lầm tưởng là chỉ quy y với vị Tăng này chớ không quy y với vị Tăng kia hoặc nếu quy y với vị Tăng nào thì phải là đệ tử của vị Tăng đó suốt đời.

    Dựa theo luật tạng thì bất cứ vị xuất gia nào đã thọ Đại Giới đều có thể vì chúng sinh mà truyền thọ Tam quy. Bởi vì quy y Tam Bảo là quy y với sự chứng minh của Tăng đoàn để bắt đầu xây dựng cuộc đời tu Phật của chính mình. Đây cũng được gọi là quy y thế gian trụ trì Tam Bảo dành cho những người sơ cơ mới vào đạo bởi vì Tam Bảo Phật, Pháp, Tăng tức là tượng Phật, kinh điển hay tăng đoàn đều là sinh diệt, vô thường, biến hoại. Mà sinh diệt thì làm sao nương tựa? Khi mê thì thấy mình và Phật là “Hai” vì ta và Phật là hai thực thể khác biệt nên mới cầu Phật bên ngoài đến khi thức tỉnh mới biết tâm mình chính là tâm Phật. Do đó khi đã hiểu đạo rồi thì người Phật tử nên lìa Sự Tướng mà nhập vào Bản thể thanh tịnh bất sinh bất diệt. Đó là tự mình quy y Nhất Thể Tam Bảo để quay về sống với chơn tâm, Phật tánh thanh tịnh sẵn có của chính mình.


    Ngày nay Phật giáo Việt Nam xuất hiện rất nhiều giáo hội gây ra biết bao sự chia rẽ khiến tinh thần lục hòa biến mất. Tình trạng Phật giáo thời nay có khác gì loạn 12 sứ quân đời Đinh Tiên Hoàng, ai cũng muốn làm sứ quân, quốc sư cả. Có giáo hội thì phải bày vẽ ra giáo điều. Đạo Phật là đạo giải thoát thì tại sao lại phải tự cột chặt mình vào giáo điều chủ nghĩa, đi ngược lại với lời di huấn của Đức Thế Tôn? Ngày xưa, Lục Tổ Huệ Năng được vua Trung Tông thỉnh mời về triều bao nhiêu lần đều bị Ngài từ chối. Trong lời từ chối, Ngài nói : ”Tôi nguyện được trọn đời ở chốn núi rừng”. Đối với Lục Tổ, làm Quốc sư, làm Tăng Thống không quan trọng, chỉ là bả công danh, mà quan trọng nhất là làm sao tẩy sạch mọi ô nhiễm trong tâm để có giải thoát giác ngộ. Sau đó dùng sự giác ngộ, sự thực chứng của mình mà hoằng pháp cứu độ chúng sinh. Phải chăng đây là tâm nguyện của người xuất gia?

    Con đường này chính Đức Phật Thích Ca đã đi và Lục Tổ cũng theo dấu chân Phật không sai, không khác. Lục Tổ không làm quốc sư mà ai ai cũng kính ngưỡng và nghe theo lời Tổ dạy làm cho Phật giáo Trung Hoa phát triển rạng ngời. Trong khi đó Thiền sư Thần Tú được phong làm Quốc sư, được mũ cao áo rộng mà chẳng chứng đắc được gì. Tu hành là gạt bỏ trí thức phân biệt đối đãi của thế gian để vun bồi đạo đức, phát triển trí tuệ và thực chứng chân lý. Ngày xưa Lục Tổ một chữ cũng không biết mà tu thành Phật trong khi ngày nay hàng vạn Tiến sĩ mà có ai chứng đắc gì đâu? Điều này đủ chứng minh rằng cái trí thức của phàm nhân và trí tuệ của bậc chứng đắc cũng ví như đom đóm mà so với trăng rằm vậy. Vì thế người xưa cũng nói rằng : ”Càng thông minh càng u tối, càng tính toán càng hụt hao” để minh xác rằng cái trí thức vọng tâm hướng ngoại của chúng sinh không có một giá trị nào so với tác dụng vô niệm vô ngã của bậc chứng đắc.


    Có người thắc mắc rằng tại sao thời nay vẫn còn sót một vài quốc gia đang thực thi chánh sách độc tài, phi dân chủ, giết hại chà đạp nhân quyền thế thì luật nhân quả của nhà Phật giải thích như thế nào?


    Hãy nhìn ngược lại dòng lịch sử nhân loại, đâu có ông vua nào đốt sách thánh hiền, chôn sống nhân tài hiền sĩ và dùng bạo quyền để bịt miệng dân hơn bạo chúa Tần Thủy Hoàng, nhưng bây giờ vua nhà Tần và nước Tần ở đâu? Tần Thủy Hoàng tàn ác, sát hại dân lành nên khi Hạng Võ (vua nước Sở) đem quân vào Hàm Dương (kinh đô nước Tần) cũng tàn sát, giết hại con cháu nhà Tần không còn ai sống sót. Thế thì luật nhân quả đâu có chừa một ai, từ thiên tử đến chí dân. Thừa tướng Lý Tư vì quyền lợi tối mắt giúp vua Tần làm những chuyện tàn ác vô luân, nhưng về sau con vua Tần Thủy Hoàng cũng vì quyền lợi tối mắt mà chém đầu ba đời dòng họ Lý Tư. Phải chăng đây là nhân quả ứng hiện?


    Những năm gần đây, không ai lạ gì tên tuổi nhà độc tài Saddam Hussen, nước Iraq rất nổi tiếng khát máu. Chẳng riêng gì ông mà các con và bà con quyến thuộc của ông cũng rất bạo tàn, giết người làm trò chơi, cưỡng chiếm vợ con người và làm biết bao chuyện vô luân khác. Đến khi quân đội Hoa Kỳ giải phóng đất nước này, ông bị treo cổ và các con ông cũng bị giết hết. Một lần nữa, “Quả báo nhãn tiền” của nhà Phật quả không sai bao giờ! Vì thế cổ nhân có câu : ”Hữu thế bất khả ỷ tận, thế tận oan tương phùng” nghĩa là khi nắm trong tay quyền thế thì đừng có ỷ quyền, ỷ thế hại người. Đến khi hết quyền, hết thế thì oan oan tương báo nó trả lại ghê gớm, thảm sầu. Do đó chạy theo thời thế để có danh, văn, lợi, dưỡng hại người lợi mình là chạy theo tội nghiệp còn sống với chân lý mới là cứu cánh thanh tịnh Niết bàn. Giáo lý của Đức Phật giúp chúng sinh thức tỉnh, dừng lại trước hố thẳm của tội lỗi đau thương bởi vì có giàu nhất thế giới như Bill Gates thì khi ra đi cũng bỏ lại hết cho thế gian.


    Thêm nữa, con người cũng vì quyền lợi tối mắt mà làm những chuyện tầy trời, rước voi về cày mã tổ đưa đến chiến tranh giết hại biết bao sinh linh vô tội. Vì thế, trong lịch sử Việt Nam, có rất nhiều mẫu chuyện nói về các vua chúa cõng rắn cắn gà nhà, nhưng có lẽ vua Quang Trung Nguyễn Huệ là người duy nhất đã hai lần đánh đuổi ngoại bang về dầy xéo quê hương cũng vì quyền lợi cá nhân của vua Lê và chúa Nguyễn. Những chiến công hiển hách của nhà Tây Sơn là những trang sử rực rỡ làm cho Trung Hoa và Thái Lan đều khiếp sợ.


    Nước Việt Nam lúc bấy giờ ngoài Bắc có vua Lê, nhưng thực quyền nằm trong tay chúa Trịnh. Còn trong Nam thuộc chúa Nguyễn Định Vương. Sự phân chia, chiến tranh Nam Bắc dai dẳng làm cho người dân Việt sống trong lầm than khổ sở biết bao năm. Do đó khi nhà Tây Sơn dấy binh khởi nghĩa là muốn thống nhất đất nước để con dân Việt được sống trong thanh bình, an cư lạc nghiệp.


    Chiến thắng Đống Đa vẻ vang mùa xuân năm Kỷ Dậu (1789) do quân Tây Sơn dưới sự lãnh đạo của Vua Quang Trung đã đánh đuổi quân xâm lược nhà Thanh ra khỏi bờ cõi Việt Nam do vua Lê Chiêu Thống cầu viện ngoại bang. Cuộc chiến quyết định tại trận Đống Đa đã đánh bại trên 200.000 quân Thanh khiến Tôn Sĩ Nghị hoảng sợ, quên mặc áo giáp, không kịp thắng yên ngựa, quên luôn cả ấn tín cùng tàn quân chạy về Tàu.


    Năm Bính Thân (1777) sau khi Nguyễn Nhạc xưng vương liền cử hai em là Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ vào Nam đánh chúa Nguyễn Định Vương và Đông Cung thua chạy về Vĩnh Long và sau cùng tử trận tại Long Xuyên. Chỉ còn người cháu là Nguyễn Phúc Ánh chạy thoát được. Phúc Ánh chạy trốn và được Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau De Béhaine, Evêque d’Adran) đem trốn vào rừng và sau đó Bá Đa Lộc giúp phương tiện cho Nguyễn Ánh lấy đảo Thổ Châu (Phú Quốc) rồi trở về Long Xuyên cùng tướng Đỗ Thành Nhơn đánh lấy lại thành Gia Định. Nguyễn Phúc Ánh xưng vương và phong Đỗ Thành Nhơn làm Phụ chánh, nhưng chẳng bao lâu Đỗ Thành Nhơn bị Nguyễn Ánh xử tử.


    Bốn năm sau, Nguyễn Huệ đem binh vào cửa Cần Giờ, phá tan quân Nguyễn Ánh tại sông Ngã bảy. Phúc Ánh chạy về Lữ phụ. Nguyễn Huệ đuổi đến Lữ phụ rồi dùng thế trận bối thủy của Hàn Tín tức là dàn quân quay lưng về phía sông, công hãm quân Nguyễn Ánh tan rã tơi bời, Phúc Ánh suýt chết, chạy ra Phú Quốc rồi qua cầu viện Thái Lan, diễn cảnh cõng rắn cắn gà nhà. Vua Thái Lan là Chánh Vương Chất Tri từ lâu đã có dã tâm muốn chiếm lấy Gia Định nên không ngần ngại sai tướng Thát-Xi-Đa đem binh bất ngờ đánh úp chiếm được Hà Tiên. Năm 1783, Nguyễn Huệ hay tin liền kéo đại binh vào Nam đánh tan binh Nguyễn Ánh. Nguyễn Phúc Ánh thua to phải chạy ra đảo Phú Quốc và gởi Châu Văn Tiếp sang Thái Lan cầu viện lần nữa. Quân Tây Sơn truy lùng gắt gao, Nguyễn Phúc Ánh phải chạy từ đảo này sang đảo khác để trốn. Trong khi trốn tránh, Nguyễn Phúc Ánh gặp lại Bá Đa Lộc và được Bá Đa Lộc đề nghị nên sang cầu nước Pháp. Nguyễn Phúc Ánh gởi Hoàng tử Cảnh và một tờ quốc thơ cho Bá Đa Lộc sang Pháp xin viện binh. Tờ quốc thư có 14 điều đại để nói rằng : Nguyễn Vương giao toàn quyền cho Bá Đa Lộc sang Pháp nhờ giúp cho 1500 quân võ trang, để bù lại, Nguyễn Vương xin nhường cho nước Pháp cửa Hội An và quần đảo Côn Lôn. Cửa bể Đà Nẳng sẽ là đất chung cho cả Đại Việt lẫn Pháp. Người Pháp được tự do xây dựng trên cửa biển ấy và người Pháp được đặc quyền buôn bán trên đất nước của Nguyễn Vương. Trong lúc sắp ra đi thì có tin quân cứu viện Thái Lan sắp đến.


    Năm 1784 quân Thái Lan chia hai đường tiến vào Việt Nam. Ba vạn bộ binh và kỵ kinh vượt qua Cao Miên và hai vạn thủy binh tiến vào Kiên Giang. Quân Thái Lan đánh tới đâu thắng tới đó, sát hại dân lành  làm quân Tây Sơn phải lui về Gia Định. Nguyễn Huệ lãnh ấn kiếm của Vua Thái Đức (Nguyễn Nhạc) đem quân vào Nam. Nguyễn Huệ là tay anh hùng xuất chúng, hành quân như vũ bão, mưu kế thần tình, lão luyện binh thơ chiến pháp chẳng khác Tôn Tử ngày xưa. Thêm vào đó, binh sĩ của Nguyễn Huệ võ nghệ giỏi, xông trận như hùm beo nên chẳng bao lâu quân của Thái Lan và Nguyễn Phúc Ánh chết ngổn ngang, đen đặc cả một giòng sông, bốn vạn xác nghẽn cứng một đoạn sông, ba trăm chiến thuyền cháy ngùn ngụt khói đen cả một bầu trời. Nguyễn Phúc Ánh thua chạy về Hà Tiên rồi trốn sang Thái Lan cầu viện Pháp.


    Trong hai mươi bốn năm từ ngày khởi nghĩa, Vua Quang Trung và nhà Tây Sơn đánh Nam dẹp Bắc không ngừng nghỉ, chỉ mong đem lại bình yên lâu dài cho đất nước. Đem cái dũng để đánh ngoại bang, đem lòng nhân để trị thiên hạ, chỉ mong sao cho đất nước thái bình. Nhưng trời không chiều lòng người trung nghĩa nên làm vua mới được bốn năm, khi vận nước chưa yên, vua Quang Trung băng hà khi mới vừa 40 tuổi. Từ khi Vua Quang Trung qua đời, nội bộ của nhà Tây Sơn chia rẽ và cuối cùng Nguyễn Phúc Ánh với sự trợ giúp của người Pháp đã chiếm lại toàn cõi Việt Nam.


    Nguyễn Phúc Ánh xưng vương tức là vua Gia Long. Thời chiến  tranh binh biến từ cổ chí kim, từ Đông qua Tây, thắng thua thành bại là chuyện thường, tướng nào thờ chủ nấy, tận trung báo quốc. Ngay cả Tào Tháo là tay gian hùng mà ông chỉ tha những người tận trung vì chúa của họ và ra lệnh chém đầu những kẻ hai lòng. Sau đây là câu chuyện trả thù của vua Gia Long phỏng theo tài liệu của giáo sĩ De La Bissachère, người có cơ hội chúng kiến cuộc hành hình đẫm máu tại Phú Xuân vào mùa Thu năm 1802. Đây là một mẫu chuyện để luận cổ suy kim vậy.


    Vào ngày trăng tròn nhằm ngày rằm tháng 7 năm 1802 cũng là ngày Vu lan báo hiếu, vua Gia Long cùng đoàn tùy tùng trên các xe song mã dừng trước khán đài. Ngoài vua, còn có các quan ngự sử, thượng thư cùng các phu nhân. Về phía người Pháp có sự hiện diện của giám mục Eyot, giáo sĩ Le Labouse, giáo sĩ De La Bissachère, thuyền trưởng hai chiến thuyền giúp Nguyễn Ánh ngày xưa là Dayot, Vannire và hai Đại tá quân đội viễn chinh Pháp.


    Tử tội là tướng Trần Quang Diệu, nữ tướng Bùi Thị Xuân, mẹ Trần Quang Diệu và Trần Bích Xuân là con gái của đôi tướng tài. Đội hành quyết dẫn bốn người ra trình diện vua. Mẹ Trần Quang Diệu, tuy ngoài 80 nhưng nét mặt vẫn còn quắc thước. Nữ tướng Bùi Thị Xuân chân bị còng dây xích bước từng bước ngắn rất khó nhọc nhưng vẫn toát ra một vẻ hiên ngang oai dũng.


    Trước giờ hành quyết, vua Gia Long hạ lệnh:


    - Trần Quang Diệu. Ngươi có điều gì muốn nói trước khi chết không?


    Trần Quang Diệu đứng thẳng, nghiêm trang nói :


    - Mẹ ta nay tuổi già sức yếu, một đời người chẳng hại ai, nay đã ngoài tám mươi. Xin ngươi hãy tha chết cho mẹ ta.


    Vua Gia Long đưa mắt nhìn mẹ Trần Quang Diệu rồi cười nói :


    - Hôm nay là ngày Rằm tháng bảy, ngày xá tội vong nhân, Ta mở lượng khoan hồng tha cho mẹ ngươi được sống, nhưng nhà ngươi phải chết không toàn thây. Quân đâu, mang tên Trần Quang Diệu ra xử lăng trì.


    Mẹ Trần Quang Diệu nghe vậy đứng thẳng người giơ tay chỉ thẳng vào mặt vua Gia Long mắng :


    - Thằng tiểu nhân! Giết gì thì cứ giết việc gì phải phanh thây xẻ thịt. Ta quyết không vì sự sống của thân già này mà để cho các con ta chịu nhục.


    Nói xong tự mình đập đầu vào tam cấp tự tử mà chết.


    Bùi Thị Xuân đau đớn than rằng :


    - Mẹ ơi!  Sao mẹ lại hủy hoại thân mình như thế làm chúng con đau lòng!


    Ba hồi trống dục nổi lên, ngoài sân đội hành quyết bắt đầu hành hình tướng Trần Quang Diệu. Một tên chém đầu ông lìa khỏi cổ, tên thứ hai chém ngang hông dứt làm hai đoạn rồi chúng tiếp tục lóc da xẻ thịt.
    Bùi Thị Xuân tức giận chỉ vào mặt vua Gia Long hét lớn :


    Nguyễn Ánh! Ngươi là kẻ tiểu nhân hèn hạ, đã làm điều dã man tàn bạo, đào mộ Tiên đế ta (tức Vua Quang Trung), dù ngươi là kẻ chiến thắng nhưng mai này ai dám bảo ngươi là kẻ anh hùng.
    Vua Gia Long cười mỉa hỏi :


    - Ngươi thử cho ta biết, ta và Nguyễn Huệ, ai hơn ai?


    - Luận về tài, ngươi làm sao so sánh được, một bên là mãnh hổ một bên là cẩu (chó) hèn. Tiên đế ta trăm trận trăm thắng từ Nam ra Bắc, đại phá quân Thanh lấy lại cơ đồ chỉ trong năm ngày. Còn ngươi cầu cứu quân ngoại bang cả vạn binh, chỉ một đêm bị quân ta đánh tan rã.


    Vua Gia Long giận run nhưng vẫn làm ra vẻ bình tĩnh hỏi :


    Còn nói về đức thì thế nào?


    Bùi Thị Xuân đáp :


    - Về đức, ngươi cũng không đáng để so sánh. Tiên đế ta lấy nhân nghĩa đối xử với các tôi nhà ngươi. Còn ngươi dùng tâm của kẻ tiểu nhân hèn hạ đối xử với các nghĩa sĩ. Tiên đế ta đánh đổ hai nhà Trịnh, Nguyễn là đem an lạc và đời sống ấm no cho sơn hà xã tắc. Còn ngươi rước quân ngoại bang về tàn sát lương dân, bắt được các sĩ tướng của Tiên đế ta thì xử tru di tam tộc. Tiên đế ta chết đã mười năm, ngươi còn đào mả lấy xương cốt làm tội.


    Bùi Thị Xuân vừa dứt lời, các tướng hầu cạnh vua đều rút gươm khỏi vỏ. Vua Gia Long ngăn lại bảo :


    - Đừng giết ngay, ta muốn xem gan nó lớn cỡ nào. Quân đâu! Đem con gái Bùi Thị Xuân ra cho voi giày trước mặt nó.


    Bỗng có một người con gái tuổi thanh xuân từ cánh trái khán đài tiến đến cạnh vua nói lớn :


    - Xin Hoàng huynh hãy tha tội chết cho con gái Bùi Thị Xuân, nó còn trẻ dại đâu có tội tình gì?


    Mọi người giật mình quay nhìn lại, thì ra đó là Quận chúa Ngọc Du. Vua Gia Long lấy làm ngạc nhiên hỏi Ngọc Du :


    Trong trận đánh Bình Định, Trần Quang Diệu đã giết chết Võ Tánh chồng của em, sao em còn xin tha cho con gái của nó?


    Ngọc Du trả lời :


    - Thưa Hoàng huynh! Ngày trước trong trận đánh thành Quy Nhơn, chồng em không giữ nổi thành nên tự vận và Bùi Thị Xuân đã tha mạng cho mẹ con em nên em mới còn sống đến ngày nay. Xin Hoàng huynh nghĩ tình ấy mà tha tội cho con gái Bà.


    Vua Gia Long lắc đầu, đoạn quay sang bọn quân sĩ quát lớn :


    - Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc. Quân đâu, hãy mang con gái Bùi Thị Xuân ra hành hình.


    Thế là một hồi trống dục lại nổi lên. Đội hành quyết áp tải người con gái tên Trần Bích Xuân ra sân lột hết y phục một cách dã man tàn bạo. Một võ sĩ khác dẫn một con voi to lớn bước chậm rãi đến gần nàng. Khuôn mặt nàng biến sắc, Bích Xuân hoảng sợ nhìn về phía mẹ kêu thất thanh :


    - Mẹ ơi cứu con với!


    Bùi Thị Xuân nghiêm nét mặt hét lớn :


    - Con nhà tướng phải chết anh dũng! Hãy hiên ngang chết cùng cha mẹ còn hơn là sống với đám tiểu nhân bán nước!


    Bùi Thị Xuân vưa dứt lời, voi đã dùng vòi quấn lấy con gái Bà tung lên không trung. Khi nàng rơi xuống cùng với tiếng hết hãi hùng, voi đưa cặp ngà ra hứng. Ngà voi nhọn xuyên qua người, Bích Xuân quằn quại trên miệng voi mà chết. Voi quăng xác nàng xuống đất rồi dùng chân phải giày đạp lên. Xót thương thay người con gái trẻ chết nát tan thân thể. Mọi người hiện diện đều rùng mình rơi nước mắt.


    Nữ tướng Bùi Thị Xuân lặng người đau đớn. Bà kéo lê đôi chân đã bị xiếng đến gần con voi vừa giày đạp con gái mình. Khí sắc bà vẫn hồng hào, hiên ngang như khi lâm trận. Tên điều khiển voi thúc voi quấn lấy bà. Voi vừa vươn vòi, bà trợn mắt hét lên một tiếng như sấm nổ, voi thất kinh co vòi thụt lui. Tên nài voi lại thúc voi, voi bước tới thấy bà lại thối lui. Tên nài không biết tính sao, lấy gậy đập vào đầu voi, voi thét lên một tiếng hất tên nài xuống đất rồi cắm đầu chạy ra khỏi pháp trường. Đội quân hành quyết lại đưa voi khác vào thay, nhưng con nào cũng thế, khi đến gần nghe nữ tướng hét lên đều co vòi quay đầu bỏ chạy.
    Ba hồi trống dục dứt tiếng. Cả pháp trường im phăng phắc đến nghẹt thở. Nguyễn Ánh tức giận quát lớn :


    - Nếu voi không giết nổi người đàn bà này thì cho ngũ mã phanh thây. Nhất định cho nó chết không toàn thây.


    Ba hồi trống dục lại vang lên. Năm tên nài ngựa trong đội hành quyết dẫn năm con ngựa khỏe ra pháp trường, chúng dùng dây buộc mỗi con vào đầu, vào tay, vào chân nữ tướng xếp thành hình ngôi sao. Nữ tướng vẫn bình tĩnh, nét mặt không thay đổi và không tỏ chút sợ hãi nào. Tiếng trống tiếp tục dồn dập trong bầu không khí thê lương. Tên đội trưởng ra dấu cho năm tên nài cùng quất roi cho ngựa chạy về năm hướng làm thân xác Bà bị xé nhiều mảnh, máu me lai láng trông rất kinh hãi. Ai nấy đều xúc động, mặt đầm đìa nước mắt và vô cùng cảm kích trước sự anh dũng của nữ tướng khi chứng kiến những giây phút sau cùng đầy khí phách, kiên cường của Bà và hình ảnh bất diệt này vẫn còn vang vọng đến ngày nay.


    Vua Gia Long nhờ Pháp phục hồi được ngôi vị, nhưng than ôi con rắn đã vô nhà rồi thì đàn gà làm sao chống nổi. Vì thế mà trong suốt chiều dài gần hai trăm năm lịch sử của Việt Nam, con cháu Gia Long bị người Pháp kềm kẹp, khống chế, tù đày, tuy mang tiếng làm vua nhưng hữu danh mà vô quyền (làm vua mà hàng tháng lãnh lương của Pháp). Đây phải chăng là nhân quả, cha ăn mặn con khát nước?


    Không những sự phân chia dị biệt giữa những người khác giống nòi mà ngay cả những người cùng nòi cùng giống, cùng tập quán hay tín ngưỡng cũng phân chia mà sinh ra xung đột mãnh liệt đưa đến sự tranh đấu chém giết lẫn nhau. Thí dụ Phật giáo ngày nay trên thế giới được chia thành hai phái Tiểu thừa và Đại thừa mà trong mỗi phái lại chia ra thành nhiều tông phái khác nữa. Thiên Chúa giáo thì chia làm Công giáo và nhiều chi phái Tin Lành, đó là chưa kể những nhánh khác như phái Chính Thống ở Nga, phái Hợp Nhất ở Hy Lạp. Về phía những nhà triết học thì đồ đệ của Hégel đã chia thành hai phe Tả và Hữu, những môn đồ của Marx cũng phân làm các phe Đệ Nhị, Đệ Tam, Đệ Tứ, TiTo, Mao Trạch Đông, ở Hoa Kỳ thì có đảng Cộng Hòa, Dân Chủ…Sự bất đồng tư tưởng đã đưa con người đến nhiều cuộc tranh chấp đẫm máu. Những cuộc chiến tranh giữa các tôn giáo hoặc trong một tôn giáo hay những sự thanh toán quyết liệt giữa các phe phái chính trị đã cho thấy rằng sự bất đồng tư tưởng là một trở ngại lớn lao đưa đến chiến tranh thảm khốc, giết hại lẫn nhau mà không biết gớm.


    Đức Phật đã nâng cao những giai cấp thấp tận cùng xã hội lên địa vị bình đẳng. Vì thế theo Đức Phật, nếu giá trị con người nằm ở đời sống đạo đức và trí tuệ thì con đường giải thoát giác ngộ sẽ không còn ranh giới của giới tính, chủng tộc, màu da, ngôn ngữ… cho nên nếu bất cứ ai một khi thực hành đúng chánh pháp của Như Lai thì chắc chắn sẽ có hạnh phúc, an lạc, Bồ-đề và Niết bàn. Đức Phật thường dạy các đệ tử đừng vì kính nể, tôn trọng Ngài mà nhắm mắt tin theo lời Ngài dạy. Chúng sinh hãy tư duy, kiểm nghiệm để cảm nhận được sự lợi ích thì lúc đó hãy thực hành những lời Như Lai dạy. Cảm tình với thầy mình là vô minh mà hãy noi theo đạo đức và trí tuệ của thầy mình mới là hành động của người trí, là theo chánh đạo.


    Tại sao ngày nay người tu thì nhiều mà không đạt được đạo? Bởi vì họ không giữ giới. Trong tam vô lậu học “Giới-Định-Tuệ” thì giới là khuôn vàng thước ngọc, là cánh cửa để vào căn nhà giác ngộ. Tham thì phá giới, sân phá định và si phá trí tuệ khiến con người sống trong tăm tối mà làm nô lệ cho phiền não vô minh. Vì tầm quan trọng của giới mà trước khi nhập diệt, Đức Phật đã dạy rằng : ”Gặp thời không có Phật, hãy lấy giới luật làm thầy”.


    Ngoài ra, trong Luật tạng cũng ghi lại những hiện tượng của người xuất gia không biết giữ gìn Chánh pháp để chúng sinh tư duy quán chiếu :


    1) Dục giới: tức là lòng còn ham muốn vật chất. Vị nào thích ăn ngon, mặt đẹp (như áo cà sa phải vải tốt) hoặc thích ở nơi có tiện nghi sung túc đều không phải là chân tu. Ngày xưa Đức Phật thường ca ngợi những Tỳ kheo thiểu dục vì thế Đức Thế Tôn luôn quy định vật dụng, y bát đều làm bằng những vật liệu thô thường (không được làm bằng vật liệu quý hiếm), áo cà sa phải làm màu vải xấu đi và việc ăn uống không cầu mỹ vị hay yêu sách cúng dường. Đức Phật khuyên thiểu dục là đáp ứng nhu cầu căn bản để bảo đảm cuộc sống tức là nuôi thân mà tu đạo.


    2) Sắc giới : tức là lòng ham muốn danh tiếng địa vị nghĩa là nghĩ mình mặc chiếc áo vàng là cao trọng hơn người khác, bắt người lạy cúng và gặp ai cũng cho là tội lỗi còn mình là thanh khiết. Đua đòi làm chùa chiền to lớn một cách quá nhu cầu, tổn hại sức bá tánh để thỏa mãn bản ngã của riêng mình (chùa tôi vĩ đại hơn chùa thầy) mà cho rằng đó là hoằng dương đạo pháp thì cũng là háo danh ham địa vị.


    3) Vô sắc giới : là lòng tham cầu hư danh. Hiện tượng này không phải đến bây giờ mới xuất hiện mà ngay vào thời Đức Phật đã có nhiều Tỳ kheo tuyên xưng mình đắc pháp dù chưa đắc pháp (Đề Bà Đạt Đa). Họ dùng Niết bàn để chiêu dụ hay địa ngục để gây hoang mang, kinh sợ cho tín đồ. Họ còn mượn Phật để mê hoặc chúng sinh vào con đường mê tín. Luật tạng có ghi lại nhiều chuyện giống như vậy đã bị Phật chê trách.


    Thời nay thay vì chú tâm tu học Phật pháp, người đệ tử Phật ở hải ngoại chỉ lo hô hào, tổ chức gây quỹ dưới những hình thức đượm màu tục lụy để tranh nhau xây chùa to, đúc tượng lớn mà xa dần phẩm hạnh của đời sống tinh thần nên dễ dàng lâm vào cảnh nợ nần ngân hàng nên cả Thầy lẫn đệ tử phải đôn đáo lo “chạy tiền” trả nợ “chùa” bằng cách biến chốn tôn nghiêm thanh tịnh thành ra những hí viện, trung tâm ca nhạc. Đức Phật dạy rằng : ”Một người chết đuối thì không thể nào cứu một người khác đang chết đuối được”. Mình thì tham-sân-si mạn nghi đầy ấp, to hơn cả núi Tu Di thì làm sao dạy chúng sinh sống đời trong sạch?


    Vì thế Đức Phật lại dạy rằng : “Người đem tâm đời tức là danh, lợi, sân, si mà làm việc đạo thì việc đạo biến thành việc đời. Trái lại, người đem tâm đạo tức là từ, bi, hỷ, xả mà làm việc đời để giúp đỡ chúng sanh thì việc đời trở thành việc đạo.” nghĩa là : “Đem đời vào đạo sẽ làm cho đạo chao đảo chông chênh, nhưng đem đạo vào đời sẽ làm cho đời thêm thanh cao vững chắc”.


    Trăm năm trước người Trung Hoa đến định cư tại Hoa Kỳ, họ cũng xây chùa to, tạc tượng lớn, tụng niệm có khác gì Phật giáo Việt Nam ngày nay. Nhưng chỉ mới trải qua hơn trăm năm khi thế hệ già, thế hệ củ mất đi thì chùa chiền cũng theo họ biến mất. Vì sao? Bởi vì giáo lý nhiệm mầu của Đức Phật không còn được rao giảng, các sư chỉ chú trọng vào hình thức, cúng vái cầu xin và thiếu đức hạnh nên tinh thần Phật giáo không còn ăn sâu vào đời sống xã hội vì thế những thế hệ trẻ mất niềm tin nơi Phật Pháp nên không còn tiếp tục con đường truyền thống mà ông cha đã đi qua.

    Read more »
RSS