Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Exoteric scriptures - Hiển giáo


  • TÁNH KHÔNG VÀ BỐN PHÁP GIỚI HOA NGHIÊM

    Thế giới Hoa Nghiêm hiện hữu trên nền tảng tánh Không

    Như kinh Duy-ma-cật nói, “Từ gốc vô trụ (tánh Không), lập tất cả pháp”.

    Trung luận (phẩm Quán Tứ đế) nói, “Bởi vì có nghĩa Không. Tất cả pháp được thành. Nếu không có nghĩa Không. Tất cả đều chẳng thành”.

    Kinh Hoa Nghiêm, như các kinh điển Đại thừa, lấy tánh Không làm nền tảng. Tánh Không trong kinh này là Pháp thân của Phật bổn nguyên Tỳ-lô-giá-na, và toàn thể vũ trụ là hiện thân của Ngài. Pháp thân Tỳ-lô-giá-na chính là pháp thân của Phật Thích Ca.

    Những vị thấy được pháp giới Tỳ-lô-giá-na đều đã đạt đến và an trụ trong tánh Không tức Pháp thân, dầu chưa hoàn toàn rốt ráo. Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm thứ nhất nói, “Thiên vương Thanh Tịnh Công Đức Nhãn được giải thoát môn biết tất cả pháp vô tướng, không sanh diệt, không đến đi, vô công dụng hạnh”,“Thần Phước Kiều Quang Âm được giải thoát môn pháp giới thanh tịnh vô tướng vô tánh”.

    Cuối phẩm Nhập Pháp giới, lâu các của Đức Di-lặc hiển bày rõ ràng nhất về pháp giới sự sự vô ngại; đây là chỗ ở của bậc đã chứng hoàn toàn tánh Không:

    “Đại lâu các này là chỗ ở của bậc đạt Không, Vô tướng, Vô nguyện.
    Là chỗ ở của bậc vô phân biệt tất cả pháp
    Là chỗ ở của bậc rõ pháp giới vô sai biệt.
    Là chỗ ở của bậc biết tất cả chúng sanh đều bất khả đắc.
    Là chỗ ở của bậc biết tất cả pháp vô sanh…”.

    Chính những vị Bồ-tát đã đắc từng phần Pháp thân tánh Không đã nói lên những bài kệ tán thán Phật trong những phẩm đầu.

    Bồ-tát Nhất Thiết Huệ thừa oai lực của Phật, quán sát khắp mười phương rồi nói kệ:

    … Quán sát nơi các pháp Đều không có tự tánh
    Tướng chúng có sanh diệt Chỉ là danh thuyết giả.
    T
    ất cả pháp vô sanh. Tất cả pháp vô diệt
    Thấu hiểu được như vậy Chư Phật thường hiện tiền.
    Pháp tánh vốn không tịch Vô thủ cũng vô kiến
    T
    ánh Không tức là Phật . Chẳng thể nghĩ lường được.

    (Tu-di đảnh Kệ tán thứ 14) Thiên vương Thanh Tịnh Huệ Danh Xưng nói:

    Rõ biết pháp tánh là vô ngại
    Hiện 
    khắp mười phương vô lượng cõi
    Nơi cảnh giới Phật chẳng nghĩ bàn
    Khắp chúng đồng quy biển giải thoát
    Như Lai ở đời vô sở y
    Hiện 
    trong các cõi như vang bóng
    Pháp 
    tánh rốt ráo không khởi sanh.

    (Thế Chủ Diệu Nghiêm thứ 1) Đại Bồ-tát Pháp Hỷ Huệ Quang Minh nói:

    Pháp thân vốn vô sanh
    Mà thị hiện xuất sanh
    Pháp tánh như hư không
    Chư Phật trụ trong đó
    Không trụ cũng không đi
    Mọi nơi đều thấy Phật
    V
    ô thể vô sở trụ
    C
    ũng không có chỗ sanh
    Không tướng cũng không hình
    Chỗ hiện đều như bóng.

    (Như Lai hiện tướng thứ 2) Vũ trụ này là thân Phật Tỳ-lô-giá-na, cũng tức là Pháp thân:

    Pháp thân cùng khắp đồng pháp giới
    K
    hắp ứng chúng sanh đều hiện tiền.

    (Thế Chủ Diệu Nghiêm thứ 1) Sự biểu lộ ra vũ trụ này là sự ứng hiện của Pháp thân tánh Không:

    Phật như hư không vô tự tánh
    Thân Phật hiện khắp mười phương cõi
    Nhưng vẫn bất động không đến đi.

    (Thế Chủ Diệu Nghiêm thứ 1) Sự ứng hiện mà“bất động, không đến không đi”này, nói theo Bát-nhã Tâm kinh, là Sắc tức thị Không, Không tức thị Sắc. Ứng hiện chính là tức thị, thời gian chấm dứt nơi đây.
    Ứng hiện tức là hiện tiền, không gian trở thành vô ngại.

    Duyên khởi vô ngại

    Tánh Không có rất nhiều định nghĩa, nhiều cách để tiếp cận. Nhưng có lẽ dễ hiểu nhất, tánh Không là không có tự tánh, vô tự tánh. Sự vật không có tự tánh nên không thể tự giữ nguyên bản chất của  mình, do đó mà nó phải thay đổi, tan rã, tiêu hoại. Phiền não không có tự tánh nên có có thể được tịnh hóa, được chuyển hóa hay bị tiêu diệt.

    Mọi sự vật đều không có tự tánh, thời gian và không gian đều không có tự tánh. Nghĩa là chúng rỗng không, không có bản chất, không có cốt lõi, do đó không có bản chất nào ở trong để chướng ngại. Sự vật không có tự tánh nghĩa là không ngăn ngại. Vô tự tánh là vô ngại.

    Duyên khởi hay duyên sanh là “Cái này có nên cái kia có. Cái này sanh nên cái kia sanh. Cái này không có nên cái kia không có. Cái này diệt nên cái kia diệt”. Sự khởi sanh của cái này tác động đến sự khởi sanh của cái kia, nhưng cái này tương tác với cái kia chỉ theo một chiều.

    Còn duyên khởi của tánh Không và trong tánh Không thì đa dạng hơn, nhiều chiều hơn. Sắc tức thị Không nghĩa là một sắc thì không có tự tánh, không có bản chất, cho nên không chướng ngại với tất cả sắc khác. Như thế, một sắc có thể nhập vào (tương nhập) tất cả các sắc khác, đồng thời bao trùm, chứa đựng (tương nhiếp) tất cả các sắc khác. Chính nhờ sự tương nhiếp, tương nhập vô ngại này mà kinh Hoa Nghiêm nói, “Tất cả là một, một là tất cả”.

    Trong tánh Không, cái này vô ngại và là tất cả các cái khác (vì đồng một tánh Không vô tự tánh), tất cả các cái khác vô ngại và là một với cái này. Một vô ngại với tất cả, tất cả vô ngại với một. Từ đây, duyên khởi không chỉ giữa cái này với cái kia, mà giữa cái này với tất cả, và giữa tất cả với cái này. Đó là duyên khởi trùng trùng vô tận.

    Duyên khởi không còn đi theo một chiều, cái này tác động đến cái kia, làm sanh khởi cái kia. Một sự vật là vô tự tánh nên có tất cả mọi chiều, tương tác trong tất cả mọi chiều. Nghĩa là một sự vật duyên khởi đồng thời với tất cả trong tất cả mọi chiều. Và một sự vật vì vô tự tánh nên nó là tất cả, thế nên tất cả đồng thời duyên khởi với tất cả trong tất cả mọi chiều.

    Thế nên, trong kinh Hoa Nghiêm, duyên khởi là đồng thời trùng trùng duyên khởi, là đồng thời trùng trùng vô tận.

    Ở đây không còn là một duyên khởi đơn giản, theo một chiều. Mà ở đây toàn bộ vũ trụ đều duyên khởi  lẫn nhau, pháp giới trùng trùng duyên khởi. Toàn bộ vũ trụ từng phần nhỏ nhất của không gian (vi trần) và của thời gian (sát-na, niệm) đều duyên khởi lẫn nhau, phản ánh lẫn nhau, nhập và nhiếp lẫn nhau một cách đồng thời và đồng hiện. Một sự vật phản chiếu tất cả sự vật, tất cả sự vật được dung nhiếp trong sự vật ấy lại phản chiếu tất cả sự vật khác. Không còn ranh giới giữa trong và ngoài, giữa chủ thể và khách thể, giữa một và tất cả. Sự phản chiếu vô ngại này do đó nói theo chiều ngang là trùng trùng, nói theo chiều dọc là vô tận.

    Lấy thí dụ một sự vật là một tấm gương. Tấm gương thì vô ngại, có thể phản chiếu mọi sự vật là những tấm gương khác. Một tấm gương này nhiếp và nhập vào những tấm gương khác. Mỗi tấm gương được phản chiếu trong một tấm gương sự vật này lại phản chiếu toàn bộ những tấm gương khác của vũ trụ. Sự tương tức tương nhập, tương dung tương nhiếp này là duyên khởi trùng trùng vô tận.

    Trở lại với Phật Tỳ-lô-giá-na. Một là tất cả, tất cả là một nghĩa là chỉ một Phật Tỳ-lô-giá-na (mà kinh gọi là Nhất Tâm trong phẩm Thập Địa) là tất cả Phật Tỳ-lô-giá-na hiện  thành vũ trụ đa thù. Và tất cả Phật Tỳ-lô-giá-na trong mỗi vi trần trong mỗi niệm là một Phật Tỳ-lô-giá-na.

     

    Bốn Pháp giới

    Bốn pháp giới trong kinh Hoa Nghiêm đặt nền tảng trên tánh Không. Vì tánh Không là vô ngại nên các pháp giới vô ngại với nhau. Đặc biệt, kinh Hoa Nghiêm nói nhiều về pháp giới thứ tư là Sự sự vô ngại pháp giới. Những kinh khác cũng có nói, nhưng chỉ diễn tả trong vài đoạn, chứ không tập trung nhiều như kinh Hoa Nghiêm.

    Sự pháp giới: là thế giới của sự vật và sự việc (sự), thế giới hiện tượng, thế giới của thời gian và không gian, bình thường như chúng ta vẫn thể nghiệm. Thế giới hiện tượng bao gồm những sự vật và sự việc chia biệt nhau, ngăn cách nhau, chướng ngại nhau. Nói gọn, đây là thế giới của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đây là thế giới của không gian cách ngăn và thời gian không thể vãn hồi, mà chúng ta vẫn thường gọi là thế giới sanh tử.

    Lý pháp giới: là thế giới của bản thể (lý). Ở đây, bản thể là tánh Không. Thế giới này được gọi là Không hay Niết-bàn. Nếu thế giới Sự là hình tướng sai biệt và phần mảnh cho nên là sanh diệt và sanh tử thì thế giới Lý là không sai biệt, không sanh diệt và toàn thể không phân chia. Đây là một tánh Không hoàn hảo không thể chia cắt, là thế giới của Niết-bàn.

    Lý Sự vô ngại pháp giới: Lý hay Không thì dĩ nhiên là vô ngại rồi, vì vô tự tánh, như hư không. Nhưng Sự hay Sắc cũng vô ngại, vì vô tự tánh, không có một bản chất nào để ngăn ngại cái gì, huống là ngăn ngại tánh Không. Lý Sự vô ngại với nhau vì cả hai đều vô tự tánh.

    Nhìn sâu hơn, Sự hay Sắc là vô tự tánh nên nó chính là tánh Không. Ở đây, chúng ta nhớ lại Bát-nhã Tâm kinh, “Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc. Sắc tức là Không, Không tức là Sắc”. Nói theo ngôn ngữ của tông Hoa Nghiêm, thì “Sự chẳng khác Lý, Lý chẳng khác Sự. Sự tức là Lý, Lý tức là Sự”. Ngoài Sự không có Lý, ngoài Lý không có Sự. Lý và Sự là đồng nhất; do đó, Lý và Sự vô ngại với nhau. Lý và Sự tương tức tương nhập, tương dung tương nhiếp với nhau.

    Một thí dụ: một bọt sóng (Sự) và biển (Lý). Bọt sóng từ biển mà khởi lên, có mặt, rồi lại tan vào biển. Bọt sóng và biển đồng là nước nên vô ngại với nhau. Biển bao hàm tất cả mọi bọt sóng và ngược lại một bọt sóng chứa đựng cả biển lớn vì đồng một vị nước. Nguyên lý Một tức Tất cả, Tất cả tức Một áp dụng vào thế giới Lý Sự vô ngại là: Một Lý là Tất cả Sự, Tất cả Sự là Một Lý. Một Sự là Tất cả Lý, Tất cả Lý là Một Sự.

    Trong một vi trần nhiều biển cõi
    Nơi 
    chốn riêng khác đều nghiêm tịnh
    V
    ô lượng như vậy vào một cõi
    Mỗi mỗi phân rõ không xen tạp
    Trong mỗi vi trần những cây Giác
    Rủ 
    xuống đủ những thứ trang nghiêm
    C
    õi nước mười phương đều đồng hiện
    T
    ất cả như vậy vô sai biệt
    T
    rong mỗi trần có vô số chúng
    C
    ùng nhau bao quanh đức Thế Tôn
    Siêu 
    việt tất cả, khắp thế gian
    Mà 
    không chật chội không tạp loạn.

    (Thế giới thành tựu thứ 4)

    Thời gian cũng Lý Sự vô ngại:

    Vô lượng vô số kiếp
    Hiểu chỉ là một niệm
    Biết niệm cũng vô niệm
    Như vậy thấy thế gian.

    (Phổ Hiền hạnh thứ 36)

    Một và tất cả duyên sanh vô ngại lẫn nhau. Nói theo ngôn ngữ đời thường thì thời gian và vĩnh cửu là vô ngại, một nguyên tử và tất cả vũ trụ là vô ngại:

    Trong một, hiểu vô lượng
    Trong vô lượng, hiểu một
    Rõ duyên sanh vô ngại
    S
    ẽ thành vô sở úy.

    (Quang Minh giác thứ 9)

    Sự Sự vô ngại pháp giới: Đỉnh cao nhất của triết học, khoa học, văn chương, tư tưởng của con người cũng chỉ tư duy đến mức Lý Sự vô ngại. Đó là chỉ nói đến lãnh vực tư duy, chứ trong lãnh vực chứng nghiệm thật sự thì điều đó càng khó khăn hơn nữa.

    Đến Sự Sự vô ngại thì thoát hẳn mọi tư duy con người có thể vươn tới, đây là kinh nghiệm của những tầng thánh cao nhất.

    Một sự là vô tự tánh như những sự khác là vô tự tánh. Vì một sự là vô tự tánh, nghĩa là vô ngại, nên nó chứa đựng, dung nhiếp tất cả các sự cũng vô tự tánh và vô ngại khác mà không làm hư hoại, trộn lẫn.

    Nguyên lý Một tức Tất cả, Tất cả là Một bây giờ được nhìn thấy trong thế giới của những sự với nhau. Một sự trùm chứa tất cả sự. Tất cả sự nhập vào trong một sự.

    Nói theo Bát-nhã Tâm kinh, thì vì Sắc tức là Không, nên một sắc trùm chứa và nhập vào tất cả sắc. Tất cả sắc nhập vào trong một sắc mà không sắc nào bị hư hoại hoặc trộn lẫn.

    Lấy thí dụ bọt sóng và biển ở trên. Một bọt sóng không chỉ bao hàm tất cả biển lớn mà một bọt sóng bao hàm tất cả những bọt sóng, những giọt nước khác của biển cả mà không xen tạp, không trộn lẫn, không làm mất đi không gian, thời gian riêng của những bọt sóng biển khác.

    Toàn bộ kinh Hoa Nghiêm hầu như phẩm nào cũng hiển bày Sự Sự vô ngại pháp giới này. Đặc biệt là đoạn chót của phẩm Nhập Pháp giới, khi Đồng tử Thiện Tài bước vào “lầu các của Đức Di-lặc.” Lầu các đó là thế giới Sự Sự vô ngại:

    Chỗ một đầu lông vô lượng cõi
    Phật, 
    chúng sanh, kiếp bất khả thuyết
    Thấy rõ 
    như vậy đều cùng khắp
    Lầu này của bậc Vô Ngại Nhãn
    Một niệm nhiếp khắp vô biên kiếp
    Q
    uốc độ, chư Phật và chúng sanh.

    Phật tử ở lầu này

    Thấy trong một vi trần
    Vô lượng cõi, đạo tràng
    Chúng sanh và các kiếp.
    Như trong một vi trần
    Thấy mọi trần đều vậy
    Mỗi mỗi đều trọn đủ
    Chốn chốn đều vô ngại.
    Phật tử trụ ở đây
    Q
    uán khắp tất cả pháp
    Chúng sanh, cõi và thời
    Không sanh, vô sở hữu.

    (Nhập Pháp giới thứ 39)

    Bốn pháp giới hiển hiện nhờ thiền định thiền quán càng lúc càng sâu. Quá trình này xảy ra khi thiền định và thiền quán càng đi sâu vào tánh Không hay Pháp giới tánh hay Phật tánh cho đến lúc rốt ráo.

    Nếu như kinh Pháp Hoa nói về quá trình Khai Thị Ngộ Nhập thì kinh Hoa Nghiêm cũng thế, cho nên chương cuối cùng của kinh có nhan đề là Nhập Pháp giới. Như những kinh Đại thừa khác, sự thâm nhập này không chỉ có thiền định thiền quán, mà bằng tất cả các pháp Đại thừa ứng dụng lên toàn bộ thân, khẩu, ý; bởi thế kinh nói những biển đại nguyện, biển đại bi, biển đại trí, biển công đức, biển đại hạnh… Bởi vì nhờ những biển này mà hành giả mới có thể tương ưng được với biển Hoa tạng Tỳ-lô-giá-na.

    Một thế giới hài hòa là điều mong ước lớn lao nhất và duy nhất của cuộc hiện sinh con người.

    Với thần học Tây phương, thế giới hài hòa ấy (vườn Địa đàng) chỉ xảy ra vào lúc bắt đầu của lịch sử loài người, và với chỉ hai con người (Adam và Eva). Sự hài hòa ấy, vườn địa đàng ấy đã mất khi lịch sử con người bắt đầu. Thế nên, với Tây phương, lịch sử là một lời nguyền rủa. Chỉ khi nào lịch sử chấm dứt, con người mới thấy lại “trời mới và đất mới”.

    Với Phật giáo thì khác. Thế giới hài hòa ấy vẫn hiện hữu tại đây và bây giờ. Mặc cho thời gian và không gian của con người vẫn cứ rách nát vì chiến tranh, vì bạo lực, vì tham tàn… vì nghiệp và tạo nghiệp vẫn đang tiếp diễn.

    Nhưng sự “cứu rỗi” cho con người vẫn hiện hữu tại đây và bây giờ. Vì sự tương tức tương nhập, tương dung tương nhiếp của mọi thế giới, kể cả thế giới nghiệp của con người, vẫn đang xảy ra và mãi mãi xảy ra. Thế giới hài hòa vẫn đang có mặt tại đây và bây giờ, bất chấp thế giới nghiệp của con người có như thế nào và nó cũng chẳng làm hư hoại thời gian và không gian của thế giới nghiệp này. Bởi vì thế giới hài hòa đây không phải là sự hài hòa của những hình tướng mà là sự hài hòa của tánh Không vô ngại.

    Nếu dùng chữ “phép lạ” của văn hóa Tây phương thì phép lạ của kinh Hoa Nghiêm vẫn đang xảy ra trong từng khoảnh khắc, trong từng vi trần. Đó là sự giải thoát tối hậu và thọ dụng tối hậu dành cho mỗi chúng ta.

    Source: TVHS

    Read more »
  • BỬU SƠN KỲ HƯƠNG HUYỀN NGHĨA

    Bửu Sơn Kỳ Hương đã có mặt trên đất nước Việt Nam hơn một thế kỷ, giáo lý ngày nay vẫn còn được lưu giữ trên giấy mực, trong lòng người, giữa núi rừng, đền tháp thiêng liêng.

    Ngoài phần thi kệ và những câu chuyện sống động, thần bí xảy ra vào thời các vị giáo chủ còn tại thế được ghi chép, lưu truyền; bốn quyển Khuyên Người Đời Tu Niệm, Kệ Dân, Sám Giảng, và Giác Mê Tâm Kệ của Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (1939 -1947) là giáo lý phổ thông hiện nay trên đất Việt, đặc biệt đối với miền Nam nước Việt nam.

    Con đường hoằng hóa của chư Phật qua nhiều giai đoạn, nội dung giáo lý cũng tùy thuận căn tánh chúng sinh nên có cõi nước vị giáo chủ chỉ dạy giáo pháp Đại thừa cho hàng Bồ tát, có cõi dạy thập thiện, có cõi dạy nhân thừa, thiên thừa v.v… gọi là chánh giáo và quyền giáo.

    Quyền giáo là giáo lý phương tiện, sử dụng tạm thời tùy thuận theo căn cơ chưa đến được chỗ sâu sắc của đa số thính chúng. Pháp phương tiện này cuối cùng sẽ bị vượt qua để đi đến cái thấy chân thật là chánh giáo. Vì vậy, thời Đức Phật thuyết kinh Pháp Hoa là lúc phá quyền hiển chánh. Đức Phật dạy rõ vì sao Ngài phải tạm dùng pháp phương tiện để hướng dẫn trí tuệ chúng sinh:

    “Trí hèn kém biết đâu là bể khổ

    Nếu Như Lai dùng trí tuệ, thần thông

    Tán dương và khen ngợi pháp thậm thâm

    Mười trí lực cùng bốn vô sở úy

    Tâm chúng sinh biết đâu là Phật trí

    Bởi trong vòng bức não của thế gian

    Ta như người có sức mạnh vạn năng

    Chẳng dùng được, phải tìm lời khuyến dỗ”.[1]

    (Phẩm Thí Dụ)

    Chánh giáo là pháp viên mãn dạy chúng sinh thành Phật, chỉ cho Nhất Thừa tức Phật thừa:

    “Hai thừa còn không có, huống chi ba,

    Chín tạng pháp vì chúng sinh tạm nói.” [2]

    (Phẩm Phương Tiện)

    Như vậy, trong toàn bộ giáo lý của Bửu Sơn Kỳ Hương, còn gọi là Phật giáo Hòa Hão, thì dòng kệ nào là quyền giáo, dòng kệ nào là chánh giáo?.

    Chúng ta thấy năm 1939, tại miền Nam nước Việt Nam, Đức Huỳnh Giáo chủ viết rõ trong Giác Mê Tâm Kệ, và rãi rác trong ba tập sấm giảng khác:

    “Trong sấm giảng nếu ai không hiểu

    Tầm kệ này Ta chỉ nẻo đường”.

    Và:

     “Coi Tâm Kệ làm theo mới trúng”.

    “Kệ này” hoặc “Tâm kệ” chỉ cho Giác Mê Tâm Kệ. Vì sao Ngài lại dạy rằng nếu có ai đã học  ba tập Khuyên người đời tu niệm, Kệ dân, và Sám giảng mà vẫn không hiểu cái Ngài muốn họ hiểu thì hãy tìm những giáo lý trong quyển Giác Mê Tâm Kệ? Chúng ta mở ra liền thấy nhiều đoạn trong Giác Mê Tâm Kệ dạy về Tâm:

    “Tâm sáng suốt như đài nguyệt kiến,

    Tánh trong như nước biếc mùa thu”.

     “Vô pháp tướng mới là thật tướng”.

    Đức Huỳnh giáo chủ lại khuyên tín chúng:

    “Huyền cơ đạo hạnh hãy gắng tầm

    Đời cùng tiên Phật dụng nhân tâm”.

    “Cảnh Niết Bàn là nơi cứu cánh”.

    “Nay gặp gốc phải mau tìm gốc.”

    Gốc này chính là nguồn tâm vậy.

    Trong Giác Mê Tâm Kệ, Đức giáo chủ cũng xác định chỗ đứng của pháp phương tiện, mặc dù pháp phương tiện là một pháp cần thiết, nhưng sự cần thiết này chỉ có ý nghĩa tạm thời, đóng vai trò làm bậc thang đưa bước:

    “Tạo làm chi những trung với hiếu!

    Ấy là người bổn phận phải trau”.

    Chư Phật luôn nói lời chân thật nên dù là pháp phương tiện, chánh báo và y báo đều thành tựu như kết quả của việc tu hành.

    Kinh Pháp Hoa được nhìn là quyển kinh thuyết về Nhất Thừa Viên Giáo, chỉ rõ Phật tức Tâm. Trí Giả Đại Sư (538-597) dùng kinh này như quyển kinh nòng cốt cho Thiên Thai Tông, đại sư thuyết ý nghĩa thâm sâu trong kinh, môn đồ ghi lại thành một trong ba quyển luận quan trọng của tông phái, lấy tựa đề là Pháp Hoa Huyền Nghĩa. Vì vậy, người đời sau còn gọi là Thiên Thai Tông là Pháp Hoa Tông.

    Khi Đức Thích Ca thuyết kinh Pháp Hoa thì năm ngàn người trong thính chúng tự ý bỏ đi ra khỏi pháp hội.

    Vì muốn nương kinh để giải kinh, nương trí để thấy trí, tôi xin vẽ ra đồ biểu dưới đây, gọi tên là “Bảng đối chiếu Pháp Hoa Huyền Nghĩa và Bửu Sơn Kỳ Hương Huyền Nghĩa” để trình bày sự tương quan giữa hai đường lối hoằng pháp của Đức Phật Thích Ca và Đức Huỳnh Giáo Chủ, tức Bửu Sơn Kỳ Hương.

    Sau cùng, hai mặt giáo lý và thực hành được trình bày song song, áp dụng trực tiếp vào sinh hoạt hằng ngày của hành giả. Những câu kệ dùng văn tự đơn sơ (Kệ Dân, “Giả quê dốt khuyên người tỉnh ngộ” [3],) trong bốn tập sách này, nhắm vào đa số quần chúng là cư sĩ tại gia, thực sự chứa đựng kho tàng pháp bảo. Nội dung giáo lý của Bửu Sơn Kỳ Hương cũng như Phật giáo Hòa Hão hoàn toàn trung thực với Phật pháp, cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa, là ngọn đuốc được chư Phật Tổ thắp sáng xưa nay trên toàn thế giới, không khác gì với nội dung những bộ kinh luận đồ sộ của chư Phật và chư Tổ. Đường lối giảng dạy cũng không khác.[4] Tánh Không, Pháp Hoa Kinh An Lạc Hạnh Nghĩa, Tứ Tất Đàn, Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế, Lục Độ, pháp môn niệm Phật, minh tâm kiến tánh, tự độ, độ tha cho đến những tam muội thâm sâu như Niệm Phật Tam Muội,[5] Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội [6]. Nhẫn nhục ba la mật trong Giác Mê Tam Kệ đi qua lăng kính của một tác phẩm thâm thúy là Vô Tránh Tam Muội của vị Tổ thứ ba Thiên Thai Tông là tôn giả Nam Nhạc Tuệ Tư (tôn sư của người sáng lập nên Thiên Thai Tông là Trí Giả Đại Sư). Pháp môn đốn giác của Lục Tổ Tuệ Năng cũng được nói đến trong tập Giác Mê Tâm Kệ. Tôi chứng minh những điều trên trong từng con số chú giải theo với mỗi câu kệ.

    Không có chánh giáo thì không có Phật ra đời. Không có Phật ra đời thì không có chánh giáo. Nói cách khác, chánh giáo là giáo lý dạy chúng sinh biết mình vốn có Phật tánh, trực nhận Phật tánh này, cởi bỏ lớp áo nhuốm bụi đời bên ngoài để lộ nguyên chân tánh. Giáo pháp thậm thâm vi diệu phải là chánh giáo, đó cũng là bản hoài của chư Phật vì đại sự nhân duyên mà ứng hiện cõi này, khai tri kiến Phật vốn sẳn có nơi mỗi mỗi chúng sinh. “Người ngộ được tự tánh, tiến tu theo tự tánh mới gọi là chân tu”, [7] ngoài ra thì là duyên tu.

    Vì vậy mà nói rằng tự tánh tự độ.

     

    Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm

    Núi Bắc, tháng 5, 2015

     


    [1] Trích “Muôn Pháp Hội Trổ Một Hoa Vô Tướng” (thi hóa kinh Pháp Hoa), Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm, nxb Phương Đông, 2008.

    [2] Nếu có phương pháp nào khác, cũng do Đức Thế Tôn chỉ dạy, thì đều là những phương tiện để hỗ trợ, dẫn phát chân ngôn mà thôi.  (Bồ Đề Đạt Ma: Ngộ Tánh Luận. HT Thích Trí Tịnh giảng giải).

    [3] Thầy Ba Đạo xướng bài thơ hỏi đạo, Đức Huỳnh giáo chủ họa:

    “Bốn chữ xuống phàm chớ ở đâu?”.

    [4] Đọc Đường Phật Đi (Phật Tổ Đạo Ảnh), và 379 bài kệ của HT Tuyên Hóa, BS Trần văn Nghĩa và Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm dịch, Thư Viện Hoa Sen, 2014.

    [5] Niệm Phật Tam Muội: (念佛三昧) Tam muội quán niệm đức của Phật hoặc xưng niệm danh hiệu Phật, tức là loại thiền định lấy niệm Phật làm nội dung quán tưởng. Niệm Phật tam muội được chia làm 2 loại: 1. Nhân hành niệm Phật tam muội: Nhất tâm quán tưởng tướng hảo của Phật, hoặc nhất tâm quán tưởng thực tướng của Pháp thân Phật, cả 2 đều là quán tưởng niệm Phật. Trái lại, nhất tâm xưng niệm danh hiệu của Phật thì gọi là Xưng danh niệm Phật. 2. Quả thành niệm Phật tam muội: Ba loại nhân hành nói trên được thành tựu, như trong thiền định được thấy thân Phật hiện tiền. Nhân hành niệm Phật tam muội là tu, Quả thành niệm Phật tam muội là phát được. Tự Điển Phật Quang.

    Giác Mê Tâm Kệ, Đức Huỳnh giáo chủ:

    “Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối

    Ghi vào lòng sáu chữ Di Đà”.

    “Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà

    Phật chẳng chấp, chẳng nài thời khắc”.

    [6] Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội: (普現色身三昧)

    Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội. Cũng gọi Hiện nhất thiết sắc thân tam muội, Phổ hiện tam muội. Tam muội mà chư Phật, Bồ tát thể nhập khi cần thị hiện các sắc thân. Phẩm Diệu âm bồ tát kinh Pháp hoa (Đại 9, 56 trung) ghi: Bồ Tát Hoa Đức bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Bồ tát Diệu Âm trụ trong tam muội nào mà có thể hiển hiện độ thoát chúng sinh như vậy? Phật bảo Bồ tát Hoa Đức: Thiện nam tử! Tam muội này gọi là Hiện nhất thiết sắc thân, bồ tát Diệu Âm trụ trong Tam muội này nên mới có năng lực lợi ích vô lượng chúng sinh như thế. Tự Điển Phật Quang.

    Kệ Dân, Đức Huỳnh Giáo Chủ:

    “Dạy chánh đạo vì thương Nam Việt

    Ở Cao Miên vì mến Tần Hoàng

    Trở về Nam đặng có sửa sang

    Cho thiện tín được rành chân lý”.

    “Ta là kẻ vô hình, hữu ảnh

    Ẩn xác phàm gìn đạo Thích Ca”.

     “Giả quê dốt khuyên người tỉnh ngộ”.

    Pháp Hoa Kinh An Lạc Hạnh Nghĩa, Nam Nhạc Tuệ Tư Đại Thiền Sư (Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm biên dịch, nxb Phương Đông 2012, p. 629, Thư Viện Hoa Sen):

    “Giữa lòng đêm hiu hắt

    Mưa ướt lạnh hai vai

    Ai biết thân đơn bạc

    Là Phật thân cõi này”.

    SOURCE TVHS

    Read more »
  • Chết đi về đâu ?

    CÕI ÂM CÓ HAY KHÔNG?


    Read more »
  • Phát Bồ Đề Tâm

    LÒNG VỊ THA CỦA BỒ TÁT
    Chân Hiền Tâm

    Tôi có chồng và con, nhưng không hề biết gì về thế giới của trẻ thơ cho đến khi tôi có đứa cháu đầu lòng. Tôi mặc con vì phải cùng chồng bươn chải kiếm tiền và mọi thứ đều giao cho mẹ. Giờ tôi là mẹ, con gái cũng phải bươn chải kiếm tiền, vết xe cũ lần nữa lại tiếp diễn.

    Con nít vô tư và rất hồn nhiên. Sống trong thế giới của chúng, tôi không phải suy nghĩ nhiều về cách phải hành xử sao cho phù hợp với phong tục tập quán của từng người hay từng tập thể để tạo nên sự hòa hợp. Chúng không hề đòi hỏi tôi điều đó. Cũng không có thái độ khó chịu khi tôi sống theo cách của tôi. Trong thế giới của chúng, tôi có thế sống theo cách mà tôi muốn nhưng không hề làm chúng bận lòng hay khó chịu. 

    Đương nhiên, tôi cũng phải bỏ ra một chút gì đó của mình để chúng vui. Dù vậy, chúng cũng chỉ là chúng sinh. Chưa bị ngã kiến phân biệt hiện tại chi phối nhưng phần câu sanh tập khí thì không tránh khỏi. Câu sanh tập khí, là những gì đã huân tập thành nếp, được lưu giữ trong tạng thức, giờ sinh ra không cần ai dạy cũng đầy đủ.

    Đa phần trẻ hiện nay đều vướng vào cái gọi là vị kỷ. Nó được thể hiện đơn giản qua mấy từ “của tôi”. Chúng có thể giành giựt những gì trẻ khác đang có, nhưng những gì mà chúng đã quan tâm thì vật đó trở thành sở hữu của chúng. Không ai có thể đụng đến những thứ mà chúng đã nghĩ là của chúng. Có những tật thuộc câu sanh tập khí, cha mẹ hiện đời đang tìm cách dạy bảo. Có những tật do chính cha mẹ hiện đời tạo điều kiện để tật ấy được phát triển mạnh hơn. Đó không phải là việc tốt cho tương lai của một đất nước.

    Tính vị kỷ chỉ biến chủ nhân của nó trở thành những kẻ bị cô lập và đau khổ trong tương lai, còn xã hội thì trở nên đình trệ vì những con người chỉ biết đến riêng mình. Có lẽ vì thế, không phải chỉ có đạo Phật mới nói đến lòng vị tha mà ngay cả sách báo mang tính giáo dục, đắc nhân tâm v.v… cũng đề cập đến lòng vị tha. 

    Với cái thấy của nhiều người, vị tha của Phật giáo không mang tính thiết thực như các hội từ thiện, bảo trợ v.v… (Đó là cái khoản mà Tăng Ni chưa tham gia các hoạt động xã hội như cứu trợ v.v… chỉ tập trung cho vấn đề công phu tu hành và giảng thuyết giáo hóa chúng sinh), cũng không thiết thực bằng các nhà khoa học hay Billgate v.v… đã cung cấp cho xã hội những lợi ích rõ ràng. Thấy như thế vì chúng ta không nắm được mặt duyên khởi của pháp. Thứ mà chúng ta cho là thiết thực đó, với cái nhìn của Phật giáo, chỉ mới là mặt nổi của những vấn đề còn ẩn mặt. Có thể nó cũng có ít nhiều thiết thực trong hiện tại, nhưng nói thiết thực dài lâu thì nó chỉ có khi những người sử dụng nó được trang bị bởi những kiến thức mà Như Lai đã nói, dù là vô tình hay hữu ý. Còn không, thứ gì cũng có hai mặt, không đơn giản chỉ là mặt lợi ích không thôi.

    Thời vua Quán Đảnh Sát-đế-lị,1 quốc gia không được hưng thịnh như các đời vua trước. Hỏi các cận thần thì được biết vì vua không cai trị nước theo Chánh pháp của Thánh vương mà theo ý mình. Từ đó vua bắt đầu cai trị quốc gia theo chánh pháp nhưng riêng mục bố thí thì không. Nghèo đói lan rộng và trộm cắp nảy sinh.

    Khi kẻ trộm bị bắt, vua hỏi vì sao đi trộm cắp? Được trả lời “Vì không có gì sống”. Vua nghe vậy, liền cho hắn tiền và dặn hãy dùng tiền đó nuôi dưỡng gia đình, bản thân cũng như bố thí, cúng dường v.v... Bất cứ ăn trộm nào được dẫn tới, nhà vua đều làm như thế. Dân quân đồn nhau: “Kẻ nào ăn trộm tiền bạc của người khác, đều được vua cho tiền bạc”. Thế là nghề ăn trộm tăng thạnh. Vua biết tin mới suy nghĩ: “Trộm cắp mà được ta cho tiền thì trộm cắp sẽ tăng trưởng. Nay phải ngăn chặn triệt để”. Nhà vua ra lệnh, ai trộm cắp sẽ bị chặt đầu. 

    Khi lệnh được ban hành thì xã hội lại nẩy sinh vấn đề mới. Đó là hình thành nên những tên ăn trộm được trang bị bằng đao, gươm. Chúng giết sạch những người bị chúng ăn trộm để không còn ai nhận diện. Từ đó, kéo theo những việc phi pháp khác. Do những việc như thế mà tuổi thọ loài người ngày càng giảm mạnh, người sống trái đạo được tán dương, người người sát hại lẫn nhau, ác ý lẫn nhau, sát tâm mãnh liệt, người trong gia đình thông dâm với nhau v.v...

    Hết thảy đều do thiếu cái nhìn mà Như Lai đã nói trong kinh điển.

    Những việc tương tự như thế hiện nay không phải không có. Những thứ chúng ta cho là thiết thực có khi chính là đầu mối giúp nẩy sinh những ác pháp mới. Khi tôi nghe một phụ nữ trẻ bị bức tường đổ sập, chắn ngay vào cột sống, phải nằm một chỗ, chỉ biết nương vào lòng tốt của những người nghèo khổ chung quanh, tôi nẩy sinh việc chu cấp hàng tháng cho cô bé. Và những người có lòng đồng nẩy sinh ý niệm đó. Thế là… cô bé trở thành vật phẩm nhử tiền của thiên hạ. Những người hàng xóm tốt bụng bỗng trở thành những kẻ chăn người. Những giọt lệ không thành thật bắt đầu xuất hiện v.v… Lợi ích gắn liền với tai họa. Chỉ vì người nhận và người cho không được trang bị bởi những kiến thức cần thiết trong cuộc sống. Quy luật Nhân quả bị bỏ mặc. Những hành vi vị kỷ xuất hiện.

    Chúng ta nói nhiều về tính tương trợ, về lòng nhân ái đối với muôn người, về cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư nhưng ác pháp vẫn xảy ra, vì chúng ta coi thường phần giáo lý Nhân quả mà Phật đã dạy trong các kinh điển, vì cách giáo dục và xử lý của chúng ta tạo điều kiện cho tham - sân - si trong mỗi người phát triển mạnh. Chính vì thế, việc tốt có khi là nhân để các ác pháp xuất hiện. Chúng ta vá chỗ này, rách chỗ kia. Những việc làm mang tính vị tha có khi chỉ là trá hình của những vụ lợi riêng tư. Thiện pháp trở thành nhân của ác pháp. Nhân quả xoay vần, thời vận càng thêm xấu, vì nhân quả trả vay không sai lệch. Cho nên, thứ mà chúng ta gọi là thiết thực chưa hẳn đã là thiết thực dù nó có thể thiết thực trong một phạm vi nào đó, trong một giai đoạn nào đó. 

    Pháp cúng dường của Bồ-tát

    Hai từ Bồ-tát và chúng sinh nói đây, xin hiểu theo nghĩa “hữu tình giác” và “hữu tình chưa giác”. Bồ-tát và chúng sinh nói đây cũng được tính trên từng niệm. Vì thế, không hẳn trong một người chúng ta cho là chúng sinh không có các niệm Bồ-tát. Trong một người chúng ta cho là Bồ-tát không hẳn không có những niệm chúng sinh. Phân, chỉ để dễ phân biệt vấn đề, không có ý đề cao hay chê bai.    

    Trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Nhập bất tư nghị giải thoát cảnh giới Phổ Hiền hạnh nguyện, Bồ-tát Phổ Hiền nói với Thiện Tài cùng đại chúng rằng: “Thiện nam tử! Trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết. Pháp cúng dường là: Tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường, làm lợi ích cho chúng sinh để cúng dường, chịu khổ thế cho chúng sinh để cúng dường, nhiếp thọ chúng sinh để cúng dường, siêng năng tu tập căn lành để cúng dường, không bỏ hạnh Bồ-tát để cúng dường, chẳng rời tâm Bồ-đề mà cúng dường…”. Trong 10 pháp này, “Tu hành đúng theo lời Phật dạy” và “siêng năng tu tập căn lành” mang tính tự lợi. “Làm lợi ích cho chúng sinh”, “Chịu khổ thế cho chúng sinh” và “Nhiếp thọ chúng sinh” thuộc lợi tha. Phân vậy nhưng lợi tha không lìa tự lợi.

    Có lẽ, ít có đạo giáo nào dạy môn đồ của mình chịu khổ thế cho chúng sinh v.v… lấy đó làm pháp cúng dường, nhưng Phổ Hiền đã nói về hạnh nguyện của mình cũng như của tất cả các Bồ-tát là như vậy. Thì biết, tâm vị tha mà đạo Phật nói đến không chỉ dừng lại ở mặt thiết thực trong hiện tại, có những thứ thiết thực sâu xa và dài lâu hơn nhiều mà với cái nhìn của phàm phu, chúng ta không thể hiểu thấu.

    Tu hành theo đúng lời Phật dạy

    Hiện nay, thiện nghiệp trở thành cái nhân của ác nghiệp hay trở thành sự trá hình của những vụ lợi riêng tư, đều bắt nguồn từ ba thứ tham - sân - si. Vì bị vô minh chi phối, không hiểu về thực lý Duyên khởi đang chi phối thế giới này thế nào, nên chúng ta mới coi các việc thiện như một phương tiện để thực thi những tham muốn vị kỷ của mình. Chính vì thế, nguyện đầu tiên mà một vị Bồ-tát phải làm, đó là tu hành theo đúng lời Phật dạy. Chỉ khi tu hành theo đúng lời Phật dạy thì chúng ta mới không vướng vào những điều mà người thế gian hay vướng trong việc làm lợi ích cho người. Việc lợi tha mới được viên mãn.

    Muốn tu hành theo đúng lời Phật dạy thì trước hết phải học, phải suy ngẫm những gì mà Như Lai đã nói trong kinh luận. Chắc không có tôn giáo nào có phần kinh luận nhiều như Phật giáo. Bởi giáo pháp của Như Lai do ứng cơ mà thành tựu. Chúng sinh có bao nhiêu bệnh thì có bấy nhiêu pháp. Vì thế, kinh luận nhiều vô kể. Nhiều như thế, nhưng mục đích cũng chỉ là giúp chúng sinh nhận ra thực lý đang chi phối thế giới này, giúp chúng sinh tiêu trừ tận gốc ba thứ tham - sân - si đã huân tập từ thời vô thủy và cuối cùng là nhận ra được bản chất thật của vạn pháp, trong đó có thân tâm mình.

    Vì sao phải tiêu trừ tham - sân - si? 

    Vì tham thì thiện nghiệp trở thành cái nhân của ác nghiệp. Vì tham thì thiện nghiệp chỉ là trá hình của những vụ lợi riêng tư v.v… Với một tâm dễ sân hận, chúng ta khó mà tiếp cận được với người, để việc lợi ích cho tha nhân được tốt đẹp, cũng không đủ tâm mềm mỏng để làm lợi ích cho hàng hạ căn. Nghĩa là, khi tham sân còn nhiều, chúng ta không thể thực hiện nổi lời nguyện mà Bồ-tát Phổ Hiền đã nói: “Chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường. Vì thế cần phải tiêu trừ tham - sân - si.

    Thứ hai, với giáo pháp của Như Lai, không tiêu trừ tham dục và sân hận, chúng ta không thể tiếp cận được với phần thâm pháp mà Như Lai đã nói. Có thể với phần thô của Duyên khởi, là phần dạy về nhân quả ở thế gian, tham sân còn chúng ta vẫn có thể tiếp thu được nó, nhưng muốn tiếp cận được với phần giáo Duyên khởi thâm sâu, tham sân phải nhạt mỏng thì thực tánh của Duyên khởi mới được hiển bày. Và chỉ khi nhận ra được thực tánh của vạn pháp, chúng ta mới có thể sử dụng được phần “ý sinh thân” mà kinh Lăng-già đã nói. Tự lợi mới tròn đầy. Lợi tha mới viên mãn. Vì thế, cần phải bào mòn tham - sân - si. Nói chính xác là cần phải nhận ra thực tánh của tham - sân - si.

    Cho nên, học hạnh Bồ-tát mà không học để hiểu những gì Như Lai đã nói, là một thiếu sót rất lớn của kẻ tu đạo. Học mà không hành thì có khi trên sự, mình lại đi ngược với những gì Như Lai đã nói cũng nên.

    Có người nói với tôi, tham dục hay sân hận là chủ động ở mỗi người. Chỉ cần ngay lúc đó không tham hay sân thì mọi thứ khác đi, việc gì mà phải học. Dù học cho nhiều mà ngay lúc đó không chịu làm chủ hành vi của mình thì cũng như không. Nói rất đúng nhưng chưa phải là tất cả. Vì nếu không học thì không thể biết tham sân là xấu để mà từ bỏ. Không học thì không biết tai hại của tham sân. Và nếu không học thì chúng ta không thể biết thân tâm mình bị chi phối bởi một thứ mà chúng ta chưa ý thức hết về nó, đó là nghiệp hay tập.

    Chúng ta không phải chỉ sống ở một kiếp này. Đã từ vô lượng kiếp về trước. Tham và sân được huân tập và tích tụ rất nhiều trong tạng thức. Chính vì sự tích tụ đó mà đụng duyên, mình không thể làm chủ hành vi của mình. Vì tham sân một khi tích tụ nhiều thì nó sẽ tạo ra một lực, khiến khi đủ duyên, mình không còn làm chủ được bản thân. Không còn nhớ hay nghĩ gì đến thiện pháp khi duyên đã đầy đủ trước mắt. Chính vì tham sân có lực mà mọi suy nghĩ của mình trở thành lệch lạc (sao cho phù hợp với những hành vi mà mình đã làm). Suy nghĩ đã lệch lạc thì tham sân càng tăng thạnh. Huân vào tạng thức càng nhiều thì tham sân càng có lực hơn vào những kiếp sau, tà kiến càng tăng thạnh.

    Giờ học pháp của Như Lai, chính là để biết vì sao không nên tham hay sân. Là lúc chúng ta bắt đầu ý thức về thiện nghiệp, lấy ý thiện làm chủ lực trong mọi hành động của mình. Nó góp phần khá lớn trong việc giúp chúng ta làm chủ bản thân. 

    Giáo pháp của Như Lai nói đến nhân quả thế gian và xuất thế gian. Như dạy, sung túc là quả của bố thí cúng dường, là cái quả của những gì mà bạn cho đi, không phải là cái quả của những gì bạn tham lam của người khác. Sát sinh sẽ mang đến tai ương, hoạn nạn và giảm thọ v.v… không phải là nhân của mạnh khỏe để sát hại sinh mạng bồi bổ cho thân mình. 

    Khi bạn có thể ghi nhận những tư tưởng đó trong đầu, thì dù muốn dù không, nó cũng chi phối hành động của bạn ít nhiều. Thường thì chúng ta không thể làm chủ liền mọi hành vi của mình dù đã được học những gì mà Như Lai đã nói, nhưng rồi mọi thứ cũng xong khi chúng ta có niềm tin đối với Tam bảo.

    Nếu nhân quả được mang ra dạy cho con trẻ, ngay từ khi chúng ý thức được ít nhiều về một sự trao đổi hai chiều, thì đó chính là chìa khóa giúp dừng bớt tham sân trong chúng, các bất thiện nghiệp cũng sẽ giảm trong tương lai. 

    Đó là lý do chúng ta phải học để hiểu về những gì Như Lai đã nói, phải thực hiện cho được về những gì mình đã học. Trong việc học pháp và hành pháp Như Lai đã nói, có một phần chúng ta không thể bỏ qua, đó là lời nguyện. Lời nguyện giúp chúng ta dễ dàng thực hiện hơn những gì mình đã được học. “Nguyện cho chúng con ngày càng tin sâu vào giáo pháp của Như Lai. Nguyện cho chúng con được cơ hội thực nghiệm giáo pháp của Như Lai trong đời sống thường nhật của mình, để hiểu hơn về những gì mà Như Lai đã nói với niềm tin sâu sắc nhất”. Hãy nguyện như thế khi tiếp cận giáo pháp của Như Lai.

    Khi đã biết nhân quả chi phối thế gian này thế nào, tham sân cũng nhạt mỏng rồi, thì nhất định chúng ta không còn bị vật chất thế gian làm mờ mắt đến nỗi biến các thiện nghiệp thành cái nhân của ác nghiệp, cũng như lợi dụng thiện nghiệp để vơ vét tài sản cho riêng mình.

    Làm lợi ích cho chúng sinh

    Tự lợi rồi, không thể thiếu phần lợi tha. Vì không có lợi tha thì tự lợi không thể viên mãn. Nó là nhân duyên giúp một người phát tâm tu đại đạo thành tựu quả vị Phật của mình.

    Nếu chỉ tập trung tự lợi mà không có lợi tha thì không thể tiêu trừ ngã chấp. Lợi tha, biểu hiện cho mức độ phá ngã mà hành giả vừa đạt được. Đỉnh cao của nó là “chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường mười phương chư Phật. Nếu đã có thể chịu khổ thế cho chúng sinh thì khả năng nhiếp thọ đối với chúng sinh đó là rất lớn. Đây là quy luật tự nhiên ở thế gian này. Mọi thứ đều không ra ngoài nhân quả. Nếu có thể thí xả thân mạng vì lợi ích của một ai đó, chúng ta sẽ nhận lại được những phần tương tợ nhờ nguyện lực đã phát.

    Ngoài ra, khi tự lợi được hoàn chỉnh ở mức độ nào đó, lợi tha trở thành việc tự nhiên của một vị Bồ-tát. Đó là việc không thể thiếu trong quá trình tu hành của chư vị. Nó tự nhiên như việc ăn cơm uống nước hàng ngày.     

    Chịu khổ thế cho chúng sinh…

    Suốt một thời gian dài, tôi đã rất cực vì cậu con trai của mình. Vì sinh con ra nhưng phần giáo dục con trẻ tôi đã không thể tự mình hoàn tất. Nhân cách và thành công của nó đa phần là do thiện nghiệp quá khứ cộng với tự lực của bản thân trong hiện tại. Phải nói không gần gũi được con là một thất bại rất lớn đối với các bậc cha mẹ. Việc giáo dục Phật pháp cho con trẻ càng trở nên khó khăn khi chúng đã lớn, khi giới luật (dù chỉ là giới luật của người tại gia) đi ngược với những ham muốn đang thịnh hành của giới trẻ.

    Con trai tôi đã tự lực phấn đấu và tự nó thành công với sự nghiệp của nó. Vì thế, lời nói của bố mẹ trở thành không giá trị đối với những gì mang tính tham dục của nó. Rượu bia là món nó không thể thiếu trong các cuộc vui. Khi tôi nhắc đến vấn đề bia rượu, nó chỉ nói đơn giản rằng, nó không có ý định tu như tôi để phải hạn chế đi những thứ đó. Khi tôi bảo đó là việc mang lại lợi ích cho con trong hiện tại và mai sau, không phải chỉ tu hành mới nói đến việc giữ gìn. Tôi nhận được câu trả lời: “Không có bia rượu thì chỉ còn nước vào rừng ở với khỉ. Khỉ thì không biết uống bia rượu và chỉ ăn toàn trái cây”.

    Bia rượu, vênh váo, vung vãi, xáo tung mọi thứ v.v… trở thành tính cách của thằng bé. Tôi không thể dùng lời nói để dạy con. Chỉ còn cách thí thân làm mọi việc cho nó rồi dùng phước ấy mà hồi hướng, mong một sự chuyển tâm trong tương lai. Đương nhiên, không chỉ nương vào phần phước đức đó mà còn phải nương vào công đức tu hành, công đức lợi tha, công đức hồi hướng và nhất là công đức phát tâm Bồ-đề mà tôi đã phát khi quyết định chọn cho mình con đường này. Cộng tất cả những thứ đó lại mà hồi hướng, mong thằng bé chuyển tâm.

    Công việc của thằng bé đang trên đà tiến triển bỗng gặp trục trặc và thất bại kéo dài sau đó. Lên voi thì đắc chí, nhưng xuống chó dài lâu thì nhụt chí cũng hiện ra. Người ta không thể không cầu cứu đến Phật Tổ khi mà sự mất mát và đình trệ kéo dài quá lâu. Không tiền thì cũng không thể nhậu nhẹt. Bia rượu uống vào sinh bệnh thì cũng có lúc phải ngừng. Kêu Phật hoài không tới thì phải cầu đến mẹ. Bởi mẹ là người âm thầm chính thức gieo duyên với con trai.

    Thằng bé thay đổi…

    Không ai ngờ nó chuyển tâm một cách mau lẹ như vậy. Không phải chỉ nói không với bia rượu, nó còn phát tâm ăn chay trường, tham gia đạo tràng và thay đổi hoàn toàn phong cách xử thế của mình. Ngạo mạn, thách thức nhường chỗ cho thí xả và lắng nghe. Một con người hoàn toàn khác trước. Tâm chuyển thì cảnh ngoài cũng chuyển. Mọi đình trệ chấm dứt.

    Không phải chỉ một chuyện của con trai, nhiều chuyện khác tôi cũng cứ cách ấy mà xử lý. Chuyển người không được thì chuyển mình rồi dùng công đức ấy hồi hướng cho người. 

    Những việc làm đó, cũng có thể được coi là một dạng rất nhẹ của cái gọi là “chịu khổ thế cho chúng sinh”. Tôi từng chứng kiến những tai nạn, những đau đớn mà một vị Bồ-tát phải chịu, để người thân của mình thay đổi. Không có những đau đớn khổ nhọc đó, không đủ lực để làm thay đổi một con người. Luận Đại thừa khởi tín nói: “Trong đó hoặc thấy, hoặc niệm, hoặc làm quyến thuộc, hoặc làm cha mẹ, hoặc làm tôi tớ, hoặc làm oan gia, hoặc khởi Tứ nhiếp… cho đến tất cả việc làm với vô lượng duyên hạnh. Bởi do lực huân tập đại bi phát khởi, nên hay khiến chúng sinh tăng trưởng thiện căn, nếu thấy nếu nghe đều được lợi ích”. 

    Hiện oan gia v.v…. là nhân của khổ nạn và ba đường dữ. Nhân như thế, duyên như thế thì quả như thế. Không ai không bị quy luật nhân quả chi phối khi bước chân vào thế giới chúng sinh dù đó là Phật. Chỉ là vì pháp đó mới có thể khiến người chuyển ác nghiệp thành thiện nghiệp, nên Bồ-tát phải dùng pháp đó và sẵn sàng chịu cái quả của ba đường dữ. Trong Tứ nhiếp pháp, Lợi hành và Đồng sự đối với hàng hạ căn chuyên gây tạo ác nghiệp, cũng khó tránh khỏi cái quả tương tự. Nhưng vì lợi ích chúng sinh nên Bồ-tát vẫn có thể “chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường.

    La-hán bỏ cảnh giới an vui của mình phát đại nguyện vào lại thế gian độ sinh, ba mươi hai ứng hóa thân của Quán Thế Âm, cảnh giới “lưu hoặc độ sinh” của hàng đại Bồ-tát, bỏ sự an vui riêng mình mà gánh vác đại chúng v.v… đều là những dạng của cái gọi là “chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường, mà đỉnh cao là hình tượng Đức Phật, do thấy một kẻ vì tội bất hiếu mà đội vòng lửa đỏ, đã phát nguyện chịu thay thế khổ nạn đó để không còn những kẻ bất hiếu trên đời2.

    Có nghịch lý không?

    Nhân quả không sai lệch. Nghiệp của chúng sinh một khi đã đủ duyên, ngay cả Phật cũng không thể cứu, vậy có nghịch lý không khi đặt ra vấn đề “chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường?

    Nhân quả không sai lệnh. Nhân người nào gieo, người đó gặt v.v… nhưng vì quá trình từ nhân đến quả còn bị chi phối bởi duyên. Quả có thể thay đổi nhờ duyên. Nên Bồ-tát có thể nương duyên ấy, dùng nguyện lực mà chịu khổ thế cho chúng sinh, khiến chúng sinh chuyển dần các bất thiện nghiệp của mình. Việc này đòi hỏi chúng sinh phải từng có duyên với Bồ-tát. Không cần phải nhiều, chỉ cần một lần gieo duyên là Bồ-tát đã có thể dùng duyên ấy, nương nguyện lực mà “đồng sự” hay “lợi hành” để làm lợi ích cho mình. Trong kinh Địa Tạng Vương Bồ-tát bổn nguyện, Đức Phật nói với Bồ-tát Địa Tạng rằng: “Trong đời sau, như có hàng trời người trồng chút ít căn lành trong Phật pháp chừng bằng sợi lông, mảy trần, hột cát… thời ông nên dùng đạo lực của ông ủng hộ người đó, khiến cho người đó tu tập lần lần đạo hạnh Vô thượng, chớ để họ thối thất” thì biết nguyện lực độ sinh của chư vị rất là lớn.  

    Lợi tha muốn càng lớn càng rộng, đòi hỏi “tự lợi” phải có năng lực khá mạnh. Năng lực nói đây bao gồm các việc như phát tâm Bồ-đề, thiết tha với các đại nguyện mà mình đã thọ, tu tập căn lành không mệt mỏi  v.v...

    Tu tập các căn lành      

    Căn lành nói đây bao gồm cả trí và bi, cả tự lợi và lợi tha, cả tu huệ lẫn tu phước.

    Thiện và bất thiện không có tướng cố định, chỉ tùy duyên mà hiển tướng. Vì thế nếu không đủ trí, thì có khi bất thiện mà tưởng là thiện, thiện lại tưởng là bất thiện. Việc lợi tha trở thành hạn chế.

    Chúng sinh tâm địa cang cường, nuôi lớn ngã tướng từ vô lượng kiếp, tham sân tích kết trong tạng thức sâu dày… không phải nói lời chánh là đã chịu nghe. Không phải nghe lời chánh rồi, chịu từ bỏ ác nghiệp rồi, là có thể bỏ liền được. Nếu không đủ trí tuệ để hiểu, không đủ nhẫn lực để kiên trì thì việc lợi tha khó mà hoàn mãn.

    Trí tuệ không đủ thì bi nguyện không lớn. Căn lành dù có cũng chỉ hạn cuộc trong mức độ nho nhỏ. Làm sao có đủ lực công đức để hồi hướng mà thành tựu được sở nguyện cho mình và người?

    Cho nên căn lành muốn đủ, thì tự lợi và lợi tha đều phải đầy đủ. Giới, định, tuệ phải có. Thiện nghiệp dù là việc rất nhỏ, có khả năng làm được đều phải làm. Vì không giới thì thân mình còn khó bảo toàn, nói là lợi ích cho tha nhân. Không định, không tuệ thì không có tình thương đối với tha nhân, cũng không biết thông cảm và kiên trì với các ác pháp của tha nhân. Các pháp như bố thí, phóng sinh v.v… tạo ra phương tiện giúp việc lợi tha được hoàn mãn hơn. Bởi dụng pháp muốn có tác dụng thì pháp được dùng phải ứng đúng với căn dục của chúng sinh. Người đang đói không thể cho pháp mà phải giúp họ được no ấm rồi, mới có thể nghe pháp. Muốn cho thì phải có mới cho được. Đó là lý do tu tuệ phải kèm tu phước. Việc lợi ích tha nhân mới được rộng rãi. Tu phước, cũng là một cách gieo duyên với chúng sinh để họ có duyên nghe pháp sau này.         

    Phát tâm Bồ-đề

    Trong các công đức cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết. Trong các pháp cúng dường, phát tâm Bồ-đề là pháp cúng dường hơn hết. Tổ Hiền Thủ nói: “Có thể một niệm phát tâm Bồ-đề, đó là pháp cúng dường tối thượng”3. Nói hơn hết, nói tối thượng là để biết công đức của các việc đó không có công đức nào có thể sánh kịp. Phát tâm Bồ-đề ngoài việc giúp hành giả không lạc vào tà ma ngoại đạo, nó còn là phương tiện để việc lợi tha dễ dàng được viên mãn. Hành Bồ-tát hạnh, nếu không đủ công đức hồi hướng cho chúng sinh thì việc lợi tha khó thành tựu. Lợi tha không thành tựu thì tự lợi cũng không thành tựu.

    Cùng một hình thức lợi ích như nhau, nhưng kết quả được hay không được, mau hay chậm không giống nhau, là do việc hồi hướng lệ thuộc vào công đức dùng hồi hướng. Đó là công đức phát Bồ-đề tâm, công đức tu hành, công đức hành thiện nghiệp, công đức hồi hướng không giống nhau. Thiện nghiệp của người đã phát Bồ-đề tâm không giống với thiện nghiệp của người chưa phát Bồ-đề tâm. Thiện nghiệp của người phát Bồ-đề tâm không giống với thiện nghiệp của người phát Bồ-đề tâm mà đã thấu được tánh của mình v.v... Vì thế, phát Bồ-đề tâm là việc tối cần thiết của người học đạo và hành đạo Bồ-tát. 

    Công đức hồi hướng

    Công đức hồi hướng là công đức có được sau khi chúng ta dùng thiện nghiệp hồi hướng cho tất cả. Do tấm lòng rộng mở đó mà thiện nghiệp thực hiện dù nhỏ cũng trở thành gấp bội. Vì thế kinh Hoa nghiêm dạy chư vị Bồ-tát mang công đức thiện nghiệp đã có hồi hướng cho chư Phật, chư vị Bồ-tát v.v… Vì nhờ đó, công đức thiện nghiệp càng tăng gấp bội. Nương công đức tăng gấp bội đó làm lợi ích chúng sinh thì dễ thành tựu hơn.

    Một việc tôi thường gặp trong thực tế là khá nhiều người, tu hành thấy cũng nhiệt tình, nhưng con cái cha mẹ v.v… nói chung là người thân gặp nhiều bất trắc. Việc đó không phải chỉ gây cản trở cho việc tu hành của đương sự mà còn khiến cho tinh thần của đương sự xuống dốc, mất tin tưởng đối với việc tu hành của mình (thối Bồ-đề tâm). 

    Tu không đúng, cảnh không thể chuyển là việc đương nhiên. Nhưng nhiều người tu thấy không sai nhưng bất trắc vẫn đầy dẫy, hỏi ra thì vấn đề hồi hướng cho người thân có thiếu sót. Chỉ vì cho rằng làm vậy sẽ ích kỷ nên không dám hồi hướng, chỉ hồi hướng chung chung cho chúng sinh. Đó là một suy nghĩ thiếu thực tế. 

    Muốn không ích kỷ thì trước hãy hồi hướng cho tất cả chúng sinh, sau hồi hướng thẳng cho đương sự nào cần hồi hướng. Chúng ta tu hành cần thực tế một chút. Chuyện nhỏ trước mắt nếu không giải quyết được, sao có thể giải quyết chuyện lớn hơn? Vì thế, chỗ nào cần hồi hướng, bất kể là người thân hay không thân,  đều có thể phát tâm hồi hướng. Hồi hướng sao để Sở hồi hướng phát tâm hướng về Tam bảo, biết hành thiện nghiệp và cuối cùng là thành tựu Bồ-đề vô thượng. Hồi hướng vậy thì không rơi vào ích kỷ.

    Có người phóng sinh xong, nghĩ tưởng đến ân sư, nên tha thiết hồi hướng cho ân sư được mạnh khỏe. Liền bị người khác nạt: “Có một chút phóng sinh thôi cũng bày đặt hồi hướng cho ân sư”. Nói vậy, vì chúng ta không hiểu về công đức hồi hướng. Thiện nghiệp dù nhỏ, có lòng hồi hướng thì công đức cũng thành lớn. Quan trọng là tha thiết. Trong kinh cũng dạy hồi hướng cho chư Phật, chư Bồ-tát, lý gì không thể hồi hướng cho ân sư, lấy đó làm pháp cúng dường mười phương chư Phật? Mọi phước đức đều có thể hồi hướng, hồi hướng cho bất cứ ai và nó sẽ trở thành công đức nếu được có tâm Bồ-đề làm nền tảng.

    Kết luận

    Pháp giới này khó nghĩ bàn, Duyên khởi vận hành chi phối thế gian này khó nghĩ bàn, công hạnh của Bồ-tát khó nghĩ bàn… nhưng dù là gì thì “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Thế giới bên ngoài chỉ là phán ánh của tự tâm. Vì thế cái quyết định hạnh phúc của mỗi người vẫn là thiện nghiệp của chính người ấy.

    Do lầm tưởng thế giới này là thực có nên thấy có ta và những thứ của ta, thấy ta và người khác nhau. Cũng do chấp ngã mà thấy ta và người là những thực thể trong thế giới này. Song thế giới này là ảnh tượng do tâm thức của “ta” tạo ra, nên không thể tách rời khỏi “ta” được. Mọi tạo tác, mọi tác động của “ta” vào thế giới đều phản hồi trở lại vào chính “ta” một kết quả nào đó. Giống như ngôi nhà của mình, nếu thường được tu bổ chăm sóc, làm những việc tốt đẹp cho nó thì chúng ta sẽ có được một ngôi nhà đẹp mà mình là kẻ thừa hưởng những tiện nghi do nó mang lại (làm lành gặp lành). 

    Nếu xem thế giới chung quanh là đối kháng, và chỉ lo cấu xé gom góp về mình, thì vô tình chúng ta đang phá hoại thế giới của ta và tất yếu sẽ gặp các cảnh giới dữ (làm ác gặp ác). Chính vì thế mà kinh luận khuyên chúng ta bỏ ác làm lành (vì tâm lý chúng ta ai cũng thích sống trong những cảnh giới tốt đẹp). Và cuộc sống của chúng ta chỉ được hạnh phúc thực sự, khi chúng ta biết phát tâm Bồ-đề, học hạnh Bồ-tát, tiêu trừ dần ngã chấp của mình, tâm vị tha rộng mở không còn bờ mé. 

    Source TVHS

    Read more »