Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Exoteric scriptures - Hiển giáo


  • BỬU SƠN KỲ HƯƠNG HUYỀN NGHĨA

    Bửu Sơn Kỳ Hương đã có mặt trên đất nước Việt Nam hơn một thế kỷ, giáo lý ngày nay vẫn còn được lưu giữ trên giấy mực, trong lòng người, giữa núi rừng, đền tháp thiêng liêng.

    Ngoài phần thi kệ và những câu chuyện sống động, thần bí xảy ra vào thời các vị giáo chủ còn tại thế được ghi chép, lưu truyền; bốn quyển Khuyên Người Đời Tu Niệm, Kệ Dân, Sám Giảng, và Giác Mê Tâm Kệ của Đức giáo chủ Huỳnh Phú Sổ (1939 -1947) là giáo lý phổ thông hiện nay trên đất Việt, đặc biệt đối với miền Nam nước Việt nam.

    Con đường hoằng hóa của chư Phật qua nhiều giai đoạn, nội dung giáo lý cũng tùy thuận căn tánh chúng sinh nên có cõi nước vị giáo chủ chỉ dạy giáo pháp Đại thừa cho hàng Bồ tát, có cõi dạy thập thiện, có cõi dạy nhân thừa, thiên thừa v.v… gọi là chánh giáo và quyền giáo.

    Quyền giáo là giáo lý phương tiện, sử dụng tạm thời tùy thuận theo căn cơ chưa đến được chỗ sâu sắc của đa số thính chúng. Pháp phương tiện này cuối cùng sẽ bị vượt qua để đi đến cái thấy chân thật là chánh giáo. Vì vậy, thời Đức Phật thuyết kinh Pháp Hoa là lúc phá quyền hiển chánh. Đức Phật dạy rõ vì sao Ngài phải tạm dùng pháp phương tiện để hướng dẫn trí tuệ chúng sinh:

    “Trí hèn kém biết đâu là bể khổ

    Nếu Như Lai dùng trí tuệ, thần thông

    Tán dương và khen ngợi pháp thậm thâm

    Mười trí lực cùng bốn vô sở úy

    Tâm chúng sinh biết đâu là Phật trí

    Bởi trong vòng bức não của thế gian

    Ta như người có sức mạnh vạn năng

    Chẳng dùng được, phải tìm lời khuyến dỗ”.[1]

    (Phẩm Thí Dụ)

    Chánh giáo là pháp viên mãn dạy chúng sinh thành Phật, chỉ cho Nhất Thừa tức Phật thừa:

    “Hai thừa còn không có, huống chi ba,

    Chín tạng pháp vì chúng sinh tạm nói.” [2]

    (Phẩm Phương Tiện)

    Như vậy, trong toàn bộ giáo lý của Bửu Sơn Kỳ Hương, còn gọi là Phật giáo Hòa Hão, thì dòng kệ nào là quyền giáo, dòng kệ nào là chánh giáo?.

    Chúng ta thấy năm 1939, tại miền Nam nước Việt Nam, Đức Huỳnh Giáo chủ viết rõ trong Giác Mê Tâm Kệ, và rãi rác trong ba tập sấm giảng khác:

    “Trong sấm giảng nếu ai không hiểu

    Tầm kệ này Ta chỉ nẻo đường”.

    Và:

     “Coi Tâm Kệ làm theo mới trúng”.

    “Kệ này” hoặc “Tâm kệ” chỉ cho Giác Mê Tâm Kệ. Vì sao Ngài lại dạy rằng nếu có ai đã học  ba tập Khuyên người đời tu niệm, Kệ dân, và Sám giảng mà vẫn không hiểu cái Ngài muốn họ hiểu thì hãy tìm những giáo lý trong quyển Giác Mê Tâm Kệ? Chúng ta mở ra liền thấy nhiều đoạn trong Giác Mê Tâm Kệ dạy về Tâm:

    “Tâm sáng suốt như đài nguyệt kiến,

    Tánh trong như nước biếc mùa thu”.

     “Vô pháp tướng mới là thật tướng”.

    Đức Huỳnh giáo chủ lại khuyên tín chúng:

    “Huyền cơ đạo hạnh hãy gắng tầm

    Đời cùng tiên Phật dụng nhân tâm”.

    “Cảnh Niết Bàn là nơi cứu cánh”.

    “Nay gặp gốc phải mau tìm gốc.”

    Gốc này chính là nguồn tâm vậy.

    Trong Giác Mê Tâm Kệ, Đức giáo chủ cũng xác định chỗ đứng của pháp phương tiện, mặc dù pháp phương tiện là một pháp cần thiết, nhưng sự cần thiết này chỉ có ý nghĩa tạm thời, đóng vai trò làm bậc thang đưa bước:

    “Tạo làm chi những trung với hiếu!

    Ấy là người bổn phận phải trau”.

    Chư Phật luôn nói lời chân thật nên dù là pháp phương tiện, chánh báo và y báo đều thành tựu như kết quả của việc tu hành.

    Kinh Pháp Hoa được nhìn là quyển kinh thuyết về Nhất Thừa Viên Giáo, chỉ rõ Phật tức Tâm. Trí Giả Đại Sư (538-597) dùng kinh này như quyển kinh nòng cốt cho Thiên Thai Tông, đại sư thuyết ý nghĩa thâm sâu trong kinh, môn đồ ghi lại thành một trong ba quyển luận quan trọng của tông phái, lấy tựa đề là Pháp Hoa Huyền Nghĩa. Vì vậy, người đời sau còn gọi là Thiên Thai Tông là Pháp Hoa Tông.

    Khi Đức Thích Ca thuyết kinh Pháp Hoa thì năm ngàn người trong thính chúng tự ý bỏ đi ra khỏi pháp hội.

    Vì muốn nương kinh để giải kinh, nương trí để thấy trí, tôi xin vẽ ra đồ biểu dưới đây, gọi tên là “Bảng đối chiếu Pháp Hoa Huyền Nghĩa và Bửu Sơn Kỳ Hương Huyền Nghĩa” để trình bày sự tương quan giữa hai đường lối hoằng pháp của Đức Phật Thích Ca và Đức Huỳnh Giáo Chủ, tức Bửu Sơn Kỳ Hương.

    Sau cùng, hai mặt giáo lý và thực hành được trình bày song song, áp dụng trực tiếp vào sinh hoạt hằng ngày của hành giả. Những câu kệ dùng văn tự đơn sơ (Kệ Dân, “Giả quê dốt khuyên người tỉnh ngộ” [3],) trong bốn tập sách này, nhắm vào đa số quần chúng là cư sĩ tại gia, thực sự chứa đựng kho tàng pháp bảo. Nội dung giáo lý của Bửu Sơn Kỳ Hương cũng như Phật giáo Hòa Hão hoàn toàn trung thực với Phật pháp, cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa, là ngọn đuốc được chư Phật Tổ thắp sáng xưa nay trên toàn thế giới, không khác gì với nội dung những bộ kinh luận đồ sộ của chư Phật và chư Tổ. Đường lối giảng dạy cũng không khác.[4] Tánh Không, Pháp Hoa Kinh An Lạc Hạnh Nghĩa, Tứ Tất Đàn, Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế, Lục Độ, pháp môn niệm Phật, minh tâm kiến tánh, tự độ, độ tha cho đến những tam muội thâm sâu như Niệm Phật Tam Muội,[5] Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội [6]. Nhẫn nhục ba la mật trong Giác Mê Tam Kệ đi qua lăng kính của một tác phẩm thâm thúy là Vô Tránh Tam Muội của vị Tổ thứ ba Thiên Thai Tông là tôn giả Nam Nhạc Tuệ Tư (tôn sư của người sáng lập nên Thiên Thai Tông là Trí Giả Đại Sư). Pháp môn đốn giác của Lục Tổ Tuệ Năng cũng được nói đến trong tập Giác Mê Tâm Kệ. Tôi chứng minh những điều trên trong từng con số chú giải theo với mỗi câu kệ.

    Không có chánh giáo thì không có Phật ra đời. Không có Phật ra đời thì không có chánh giáo. Nói cách khác, chánh giáo là giáo lý dạy chúng sinh biết mình vốn có Phật tánh, trực nhận Phật tánh này, cởi bỏ lớp áo nhuốm bụi đời bên ngoài để lộ nguyên chân tánh. Giáo pháp thậm thâm vi diệu phải là chánh giáo, đó cũng là bản hoài của chư Phật vì đại sự nhân duyên mà ứng hiện cõi này, khai tri kiến Phật vốn sẳn có nơi mỗi mỗi chúng sinh. “Người ngộ được tự tánh, tiến tu theo tự tánh mới gọi là chân tu”, [7] ngoài ra thì là duyên tu.

    Vì vậy mà nói rằng tự tánh tự độ.

     

    Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm

    Núi Bắc, tháng 5, 2015

     


    [1] Trích “Muôn Pháp Hội Trổ Một Hoa Vô Tướng” (thi hóa kinh Pháp Hoa), Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm, nxb Phương Đông, 2008.

    [2] Nếu có phương pháp nào khác, cũng do Đức Thế Tôn chỉ dạy, thì đều là những phương tiện để hỗ trợ, dẫn phát chân ngôn mà thôi.  (Bồ Đề Đạt Ma: Ngộ Tánh Luận. HT Thích Trí Tịnh giảng giải).

    [3] Thầy Ba Đạo xướng bài thơ hỏi đạo, Đức Huỳnh giáo chủ họa:

    “Bốn chữ xuống phàm chớ ở đâu?”.

    [4] Đọc Đường Phật Đi (Phật Tổ Đạo Ảnh), và 379 bài kệ của HT Tuyên Hóa, BS Trần văn Nghĩa và Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm dịch, Thư Viện Hoa Sen, 2014.

    [5] Niệm Phật Tam Muội: (念佛三昧) Tam muội quán niệm đức của Phật hoặc xưng niệm danh hiệu Phật, tức là loại thiền định lấy niệm Phật làm nội dung quán tưởng. Niệm Phật tam muội được chia làm 2 loại: 1. Nhân hành niệm Phật tam muội: Nhất tâm quán tưởng tướng hảo của Phật, hoặc nhất tâm quán tưởng thực tướng của Pháp thân Phật, cả 2 đều là quán tưởng niệm Phật. Trái lại, nhất tâm xưng niệm danh hiệu của Phật thì gọi là Xưng danh niệm Phật. 2. Quả thành niệm Phật tam muội: Ba loại nhân hành nói trên được thành tựu, như trong thiền định được thấy thân Phật hiện tiền. Nhân hành niệm Phật tam muội là tu, Quả thành niệm Phật tam muội là phát được. Tự Điển Phật Quang.

    Giác Mê Tâm Kệ, Đức Huỳnh giáo chủ:

    “Muốn niệm Phật chẳng cần sớm tối

    Ghi vào lòng sáu chữ Di Đà”.

    “Ở ruộng đồng cũng niệm vậy mà

    Phật chẳng chấp, chẳng nài thời khắc”.

    [6] Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội: (普現色身三昧)

    Phổ Hiện Sắc Thân Tam Muội. Cũng gọi Hiện nhất thiết sắc thân tam muội, Phổ hiện tam muội. Tam muội mà chư Phật, Bồ tát thể nhập khi cần thị hiện các sắc thân. Phẩm Diệu âm bồ tát kinh Pháp hoa (Đại 9, 56 trung) ghi: Bồ Tát Hoa Đức bạch đức Phật rằng: Bạch đức Thế tôn! Bồ tát Diệu Âm trụ trong tam muội nào mà có thể hiển hiện độ thoát chúng sinh như vậy? Phật bảo Bồ tát Hoa Đức: Thiện nam tử! Tam muội này gọi là Hiện nhất thiết sắc thân, bồ tát Diệu Âm trụ trong Tam muội này nên mới có năng lực lợi ích vô lượng chúng sinh như thế. Tự Điển Phật Quang.

    Kệ Dân, Đức Huỳnh Giáo Chủ:

    “Dạy chánh đạo vì thương Nam Việt

    Ở Cao Miên vì mến Tần Hoàng

    Trở về Nam đặng có sửa sang

    Cho thiện tín được rành chân lý”.

    “Ta là kẻ vô hình, hữu ảnh

    Ẩn xác phàm gìn đạo Thích Ca”.

     “Giả quê dốt khuyên người tỉnh ngộ”.

    Pháp Hoa Kinh An Lạc Hạnh Nghĩa, Nam Nhạc Tuệ Tư Đại Thiền Sư (Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm biên dịch, nxb Phương Đông 2012, p. 629, Thư Viện Hoa Sen):

    “Giữa lòng đêm hiu hắt

    Mưa ướt lạnh hai vai

    Ai biết thân đơn bạc

    Là Phật thân cõi này”.

    SOURCE TVHS

    Read more »
  • Chết đi về đâu ?

    CÕI ÂM CÓ HAY KHÔNG?


    Read more »
  • Phát Bồ Đề Tâm

    LÒNG VỊ THA CỦA BỒ TÁT
    Chân Hiền Tâm

    Tôi có chồng và con, nhưng không hề biết gì về thế giới của trẻ thơ cho đến khi tôi có đứa cháu đầu lòng. Tôi mặc con vì phải cùng chồng bươn chải kiếm tiền và mọi thứ đều giao cho mẹ. Giờ tôi là mẹ, con gái cũng phải bươn chải kiếm tiền, vết xe cũ lần nữa lại tiếp diễn.

    Con nít vô tư và rất hồn nhiên. Sống trong thế giới của chúng, tôi không phải suy nghĩ nhiều về cách phải hành xử sao cho phù hợp với phong tục tập quán của từng người hay từng tập thể để tạo nên sự hòa hợp. Chúng không hề đòi hỏi tôi điều đó. Cũng không có thái độ khó chịu khi tôi sống theo cách của tôi. Trong thế giới của chúng, tôi có thế sống theo cách mà tôi muốn nhưng không hề làm chúng bận lòng hay khó chịu. 

    Đương nhiên, tôi cũng phải bỏ ra một chút gì đó của mình để chúng vui. Dù vậy, chúng cũng chỉ là chúng sinh. Chưa bị ngã kiến phân biệt hiện tại chi phối nhưng phần câu sanh tập khí thì không tránh khỏi. Câu sanh tập khí, là những gì đã huân tập thành nếp, được lưu giữ trong tạng thức, giờ sinh ra không cần ai dạy cũng đầy đủ.

    Đa phần trẻ hiện nay đều vướng vào cái gọi là vị kỷ. Nó được thể hiện đơn giản qua mấy từ “của tôi”. Chúng có thể giành giựt những gì trẻ khác đang có, nhưng những gì mà chúng đã quan tâm thì vật đó trở thành sở hữu của chúng. Không ai có thể đụng đến những thứ mà chúng đã nghĩ là của chúng. Có những tật thuộc câu sanh tập khí, cha mẹ hiện đời đang tìm cách dạy bảo. Có những tật do chính cha mẹ hiện đời tạo điều kiện để tật ấy được phát triển mạnh hơn. Đó không phải là việc tốt cho tương lai của một đất nước.

    Tính vị kỷ chỉ biến chủ nhân của nó trở thành những kẻ bị cô lập và đau khổ trong tương lai, còn xã hội thì trở nên đình trệ vì những con người chỉ biết đến riêng mình. Có lẽ vì thế, không phải chỉ có đạo Phật mới nói đến lòng vị tha mà ngay cả sách báo mang tính giáo dục, đắc nhân tâm v.v… cũng đề cập đến lòng vị tha. 

    Với cái thấy của nhiều người, vị tha của Phật giáo không mang tính thiết thực như các hội từ thiện, bảo trợ v.v… (Đó là cái khoản mà Tăng Ni chưa tham gia các hoạt động xã hội như cứu trợ v.v… chỉ tập trung cho vấn đề công phu tu hành và giảng thuyết giáo hóa chúng sinh), cũng không thiết thực bằng các nhà khoa học hay Billgate v.v… đã cung cấp cho xã hội những lợi ích rõ ràng. Thấy như thế vì chúng ta không nắm được mặt duyên khởi của pháp. Thứ mà chúng ta cho là thiết thực đó, với cái nhìn của Phật giáo, chỉ mới là mặt nổi của những vấn đề còn ẩn mặt. Có thể nó cũng có ít nhiều thiết thực trong hiện tại, nhưng nói thiết thực dài lâu thì nó chỉ có khi những người sử dụng nó được trang bị bởi những kiến thức mà Như Lai đã nói, dù là vô tình hay hữu ý. Còn không, thứ gì cũng có hai mặt, không đơn giản chỉ là mặt lợi ích không thôi.

    Thời vua Quán Đảnh Sát-đế-lị,1 quốc gia không được hưng thịnh như các đời vua trước. Hỏi các cận thần thì được biết vì vua không cai trị nước theo Chánh pháp của Thánh vương mà theo ý mình. Từ đó vua bắt đầu cai trị quốc gia theo chánh pháp nhưng riêng mục bố thí thì không. Nghèo đói lan rộng và trộm cắp nảy sinh.

    Khi kẻ trộm bị bắt, vua hỏi vì sao đi trộm cắp? Được trả lời “Vì không có gì sống”. Vua nghe vậy, liền cho hắn tiền và dặn hãy dùng tiền đó nuôi dưỡng gia đình, bản thân cũng như bố thí, cúng dường v.v... Bất cứ ăn trộm nào được dẫn tới, nhà vua đều làm như thế. Dân quân đồn nhau: “Kẻ nào ăn trộm tiền bạc của người khác, đều được vua cho tiền bạc”. Thế là nghề ăn trộm tăng thạnh. Vua biết tin mới suy nghĩ: “Trộm cắp mà được ta cho tiền thì trộm cắp sẽ tăng trưởng. Nay phải ngăn chặn triệt để”. Nhà vua ra lệnh, ai trộm cắp sẽ bị chặt đầu. 

    Khi lệnh được ban hành thì xã hội lại nẩy sinh vấn đề mới. Đó là hình thành nên những tên ăn trộm được trang bị bằng đao, gươm. Chúng giết sạch những người bị chúng ăn trộm để không còn ai nhận diện. Từ đó, kéo theo những việc phi pháp khác. Do những việc như thế mà tuổi thọ loài người ngày càng giảm mạnh, người sống trái đạo được tán dương, người người sát hại lẫn nhau, ác ý lẫn nhau, sát tâm mãnh liệt, người trong gia đình thông dâm với nhau v.v...

    Hết thảy đều do thiếu cái nhìn mà Như Lai đã nói trong kinh điển.

    Những việc tương tự như thế hiện nay không phải không có. Những thứ chúng ta cho là thiết thực có khi chính là đầu mối giúp nẩy sinh những ác pháp mới. Khi tôi nghe một phụ nữ trẻ bị bức tường đổ sập, chắn ngay vào cột sống, phải nằm một chỗ, chỉ biết nương vào lòng tốt của những người nghèo khổ chung quanh, tôi nẩy sinh việc chu cấp hàng tháng cho cô bé. Và những người có lòng đồng nẩy sinh ý niệm đó. Thế là… cô bé trở thành vật phẩm nhử tiền của thiên hạ. Những người hàng xóm tốt bụng bỗng trở thành những kẻ chăn người. Những giọt lệ không thành thật bắt đầu xuất hiện v.v… Lợi ích gắn liền với tai họa. Chỉ vì người nhận và người cho không được trang bị bởi những kiến thức cần thiết trong cuộc sống. Quy luật Nhân quả bị bỏ mặc. Những hành vi vị kỷ xuất hiện.

    Chúng ta nói nhiều về tính tương trợ, về lòng nhân ái đối với muôn người, về cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư nhưng ác pháp vẫn xảy ra, vì chúng ta coi thường phần giáo lý Nhân quả mà Phật đã dạy trong các kinh điển, vì cách giáo dục và xử lý của chúng ta tạo điều kiện cho tham - sân - si trong mỗi người phát triển mạnh. Chính vì thế, việc tốt có khi là nhân để các ác pháp xuất hiện. Chúng ta vá chỗ này, rách chỗ kia. Những việc làm mang tính vị tha có khi chỉ là trá hình của những vụ lợi riêng tư. Thiện pháp trở thành nhân của ác pháp. Nhân quả xoay vần, thời vận càng thêm xấu, vì nhân quả trả vay không sai lệch. Cho nên, thứ mà chúng ta gọi là thiết thực chưa hẳn đã là thiết thực dù nó có thể thiết thực trong một phạm vi nào đó, trong một giai đoạn nào đó. 

    Pháp cúng dường của Bồ-tát

    Hai từ Bồ-tát và chúng sinh nói đây, xin hiểu theo nghĩa “hữu tình giác” và “hữu tình chưa giác”. Bồ-tát và chúng sinh nói đây cũng được tính trên từng niệm. Vì thế, không hẳn trong một người chúng ta cho là chúng sinh không có các niệm Bồ-tát. Trong một người chúng ta cho là Bồ-tát không hẳn không có những niệm chúng sinh. Phân, chỉ để dễ phân biệt vấn đề, không có ý đề cao hay chê bai.    

    Trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Nhập bất tư nghị giải thoát cảnh giới Phổ Hiền hạnh nguyện, Bồ-tát Phổ Hiền nói với Thiện Tài cùng đại chúng rằng: “Thiện nam tử! Trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết. Pháp cúng dường là: Tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường, làm lợi ích cho chúng sinh để cúng dường, chịu khổ thế cho chúng sinh để cúng dường, nhiếp thọ chúng sinh để cúng dường, siêng năng tu tập căn lành để cúng dường, không bỏ hạnh Bồ-tát để cúng dường, chẳng rời tâm Bồ-đề mà cúng dường…”. Trong 10 pháp này, “Tu hành đúng theo lời Phật dạy” và “siêng năng tu tập căn lành” mang tính tự lợi. “Làm lợi ích cho chúng sinh”, “Chịu khổ thế cho chúng sinh” và “Nhiếp thọ chúng sinh” thuộc lợi tha. Phân vậy nhưng lợi tha không lìa tự lợi.

    Có lẽ, ít có đạo giáo nào dạy môn đồ của mình chịu khổ thế cho chúng sinh v.v… lấy đó làm pháp cúng dường, nhưng Phổ Hiền đã nói về hạnh nguyện của mình cũng như của tất cả các Bồ-tát là như vậy. Thì biết, tâm vị tha mà đạo Phật nói đến không chỉ dừng lại ở mặt thiết thực trong hiện tại, có những thứ thiết thực sâu xa và dài lâu hơn nhiều mà với cái nhìn của phàm phu, chúng ta không thể hiểu thấu.

    Tu hành theo đúng lời Phật dạy

    Hiện nay, thiện nghiệp trở thành cái nhân của ác nghiệp hay trở thành sự trá hình của những vụ lợi riêng tư, đều bắt nguồn từ ba thứ tham - sân - si. Vì bị vô minh chi phối, không hiểu về thực lý Duyên khởi đang chi phối thế giới này thế nào, nên chúng ta mới coi các việc thiện như một phương tiện để thực thi những tham muốn vị kỷ của mình. Chính vì thế, nguyện đầu tiên mà một vị Bồ-tát phải làm, đó là tu hành theo đúng lời Phật dạy. Chỉ khi tu hành theo đúng lời Phật dạy thì chúng ta mới không vướng vào những điều mà người thế gian hay vướng trong việc làm lợi ích cho người. Việc lợi tha mới được viên mãn.

    Muốn tu hành theo đúng lời Phật dạy thì trước hết phải học, phải suy ngẫm những gì mà Như Lai đã nói trong kinh luận. Chắc không có tôn giáo nào có phần kinh luận nhiều như Phật giáo. Bởi giáo pháp của Như Lai do ứng cơ mà thành tựu. Chúng sinh có bao nhiêu bệnh thì có bấy nhiêu pháp. Vì thế, kinh luận nhiều vô kể. Nhiều như thế, nhưng mục đích cũng chỉ là giúp chúng sinh nhận ra thực lý đang chi phối thế giới này, giúp chúng sinh tiêu trừ tận gốc ba thứ tham - sân - si đã huân tập từ thời vô thủy và cuối cùng là nhận ra được bản chất thật của vạn pháp, trong đó có thân tâm mình.

    Vì sao phải tiêu trừ tham - sân - si? 

    Vì tham thì thiện nghiệp trở thành cái nhân của ác nghiệp. Vì tham thì thiện nghiệp chỉ là trá hình của những vụ lợi riêng tư v.v… Với một tâm dễ sân hận, chúng ta khó mà tiếp cận được với người, để việc lợi ích cho tha nhân được tốt đẹp, cũng không đủ tâm mềm mỏng để làm lợi ích cho hàng hạ căn. Nghĩa là, khi tham sân còn nhiều, chúng ta không thể thực hiện nổi lời nguyện mà Bồ-tát Phổ Hiền đã nói: “Chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường. Vì thế cần phải tiêu trừ tham - sân - si.

    Thứ hai, với giáo pháp của Như Lai, không tiêu trừ tham dục và sân hận, chúng ta không thể tiếp cận được với phần thâm pháp mà Như Lai đã nói. Có thể với phần thô của Duyên khởi, là phần dạy về nhân quả ở thế gian, tham sân còn chúng ta vẫn có thể tiếp thu được nó, nhưng muốn tiếp cận được với phần giáo Duyên khởi thâm sâu, tham sân phải nhạt mỏng thì thực tánh của Duyên khởi mới được hiển bày. Và chỉ khi nhận ra được thực tánh của vạn pháp, chúng ta mới có thể sử dụng được phần “ý sinh thân” mà kinh Lăng-già đã nói. Tự lợi mới tròn đầy. Lợi tha mới viên mãn. Vì thế, cần phải bào mòn tham - sân - si. Nói chính xác là cần phải nhận ra thực tánh của tham - sân - si.

    Cho nên, học hạnh Bồ-tát mà không học để hiểu những gì Như Lai đã nói, là một thiếu sót rất lớn của kẻ tu đạo. Học mà không hành thì có khi trên sự, mình lại đi ngược với những gì Như Lai đã nói cũng nên.

    Có người nói với tôi, tham dục hay sân hận là chủ động ở mỗi người. Chỉ cần ngay lúc đó không tham hay sân thì mọi thứ khác đi, việc gì mà phải học. Dù học cho nhiều mà ngay lúc đó không chịu làm chủ hành vi của mình thì cũng như không. Nói rất đúng nhưng chưa phải là tất cả. Vì nếu không học thì không thể biết tham sân là xấu để mà từ bỏ. Không học thì không biết tai hại của tham sân. Và nếu không học thì chúng ta không thể biết thân tâm mình bị chi phối bởi một thứ mà chúng ta chưa ý thức hết về nó, đó là nghiệp hay tập.

    Chúng ta không phải chỉ sống ở một kiếp này. Đã từ vô lượng kiếp về trước. Tham và sân được huân tập và tích tụ rất nhiều trong tạng thức. Chính vì sự tích tụ đó mà đụng duyên, mình không thể làm chủ hành vi của mình. Vì tham sân một khi tích tụ nhiều thì nó sẽ tạo ra một lực, khiến khi đủ duyên, mình không còn làm chủ được bản thân. Không còn nhớ hay nghĩ gì đến thiện pháp khi duyên đã đầy đủ trước mắt. Chính vì tham sân có lực mà mọi suy nghĩ của mình trở thành lệch lạc (sao cho phù hợp với những hành vi mà mình đã làm). Suy nghĩ đã lệch lạc thì tham sân càng tăng thạnh. Huân vào tạng thức càng nhiều thì tham sân càng có lực hơn vào những kiếp sau, tà kiến càng tăng thạnh.

    Giờ học pháp của Như Lai, chính là để biết vì sao không nên tham hay sân. Là lúc chúng ta bắt đầu ý thức về thiện nghiệp, lấy ý thiện làm chủ lực trong mọi hành động của mình. Nó góp phần khá lớn trong việc giúp chúng ta làm chủ bản thân. 

    Giáo pháp của Như Lai nói đến nhân quả thế gian và xuất thế gian. Như dạy, sung túc là quả của bố thí cúng dường, là cái quả của những gì mà bạn cho đi, không phải là cái quả của những gì bạn tham lam của người khác. Sát sinh sẽ mang đến tai ương, hoạn nạn và giảm thọ v.v… không phải là nhân của mạnh khỏe để sát hại sinh mạng bồi bổ cho thân mình. 

    Khi bạn có thể ghi nhận những tư tưởng đó trong đầu, thì dù muốn dù không, nó cũng chi phối hành động của bạn ít nhiều. Thường thì chúng ta không thể làm chủ liền mọi hành vi của mình dù đã được học những gì mà Như Lai đã nói, nhưng rồi mọi thứ cũng xong khi chúng ta có niềm tin đối với Tam bảo.

    Nếu nhân quả được mang ra dạy cho con trẻ, ngay từ khi chúng ý thức được ít nhiều về một sự trao đổi hai chiều, thì đó chính là chìa khóa giúp dừng bớt tham sân trong chúng, các bất thiện nghiệp cũng sẽ giảm trong tương lai. 

    Đó là lý do chúng ta phải học để hiểu về những gì Như Lai đã nói, phải thực hiện cho được về những gì mình đã học. Trong việc học pháp và hành pháp Như Lai đã nói, có một phần chúng ta không thể bỏ qua, đó là lời nguyện. Lời nguyện giúp chúng ta dễ dàng thực hiện hơn những gì mình đã được học. “Nguyện cho chúng con ngày càng tin sâu vào giáo pháp của Như Lai. Nguyện cho chúng con được cơ hội thực nghiệm giáo pháp của Như Lai trong đời sống thường nhật của mình, để hiểu hơn về những gì mà Như Lai đã nói với niềm tin sâu sắc nhất”. Hãy nguyện như thế khi tiếp cận giáo pháp của Như Lai.

    Khi đã biết nhân quả chi phối thế gian này thế nào, tham sân cũng nhạt mỏng rồi, thì nhất định chúng ta không còn bị vật chất thế gian làm mờ mắt đến nỗi biến các thiện nghiệp thành cái nhân của ác nghiệp, cũng như lợi dụng thiện nghiệp để vơ vét tài sản cho riêng mình.

    Làm lợi ích cho chúng sinh

    Tự lợi rồi, không thể thiếu phần lợi tha. Vì không có lợi tha thì tự lợi không thể viên mãn. Nó là nhân duyên giúp một người phát tâm tu đại đạo thành tựu quả vị Phật của mình.

    Nếu chỉ tập trung tự lợi mà không có lợi tha thì không thể tiêu trừ ngã chấp. Lợi tha, biểu hiện cho mức độ phá ngã mà hành giả vừa đạt được. Đỉnh cao của nó là “chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường mười phương chư Phật. Nếu đã có thể chịu khổ thế cho chúng sinh thì khả năng nhiếp thọ đối với chúng sinh đó là rất lớn. Đây là quy luật tự nhiên ở thế gian này. Mọi thứ đều không ra ngoài nhân quả. Nếu có thể thí xả thân mạng vì lợi ích của một ai đó, chúng ta sẽ nhận lại được những phần tương tợ nhờ nguyện lực đã phát.

    Ngoài ra, khi tự lợi được hoàn chỉnh ở mức độ nào đó, lợi tha trở thành việc tự nhiên của một vị Bồ-tát. Đó là việc không thể thiếu trong quá trình tu hành của chư vị. Nó tự nhiên như việc ăn cơm uống nước hàng ngày.     

    Chịu khổ thế cho chúng sinh…

    Suốt một thời gian dài, tôi đã rất cực vì cậu con trai của mình. Vì sinh con ra nhưng phần giáo dục con trẻ tôi đã không thể tự mình hoàn tất. Nhân cách và thành công của nó đa phần là do thiện nghiệp quá khứ cộng với tự lực của bản thân trong hiện tại. Phải nói không gần gũi được con là một thất bại rất lớn đối với các bậc cha mẹ. Việc giáo dục Phật pháp cho con trẻ càng trở nên khó khăn khi chúng đã lớn, khi giới luật (dù chỉ là giới luật của người tại gia) đi ngược với những ham muốn đang thịnh hành của giới trẻ.

    Con trai tôi đã tự lực phấn đấu và tự nó thành công với sự nghiệp của nó. Vì thế, lời nói của bố mẹ trở thành không giá trị đối với những gì mang tính tham dục của nó. Rượu bia là món nó không thể thiếu trong các cuộc vui. Khi tôi nhắc đến vấn đề bia rượu, nó chỉ nói đơn giản rằng, nó không có ý định tu như tôi để phải hạn chế đi những thứ đó. Khi tôi bảo đó là việc mang lại lợi ích cho con trong hiện tại và mai sau, không phải chỉ tu hành mới nói đến việc giữ gìn. Tôi nhận được câu trả lời: “Không có bia rượu thì chỉ còn nước vào rừng ở với khỉ. Khỉ thì không biết uống bia rượu và chỉ ăn toàn trái cây”.

    Bia rượu, vênh váo, vung vãi, xáo tung mọi thứ v.v… trở thành tính cách của thằng bé. Tôi không thể dùng lời nói để dạy con. Chỉ còn cách thí thân làm mọi việc cho nó rồi dùng phước ấy mà hồi hướng, mong một sự chuyển tâm trong tương lai. Đương nhiên, không chỉ nương vào phần phước đức đó mà còn phải nương vào công đức tu hành, công đức lợi tha, công đức hồi hướng và nhất là công đức phát tâm Bồ-đề mà tôi đã phát khi quyết định chọn cho mình con đường này. Cộng tất cả những thứ đó lại mà hồi hướng, mong thằng bé chuyển tâm.

    Công việc của thằng bé đang trên đà tiến triển bỗng gặp trục trặc và thất bại kéo dài sau đó. Lên voi thì đắc chí, nhưng xuống chó dài lâu thì nhụt chí cũng hiện ra. Người ta không thể không cầu cứu đến Phật Tổ khi mà sự mất mát và đình trệ kéo dài quá lâu. Không tiền thì cũng không thể nhậu nhẹt. Bia rượu uống vào sinh bệnh thì cũng có lúc phải ngừng. Kêu Phật hoài không tới thì phải cầu đến mẹ. Bởi mẹ là người âm thầm chính thức gieo duyên với con trai.

    Thằng bé thay đổi…

    Không ai ngờ nó chuyển tâm một cách mau lẹ như vậy. Không phải chỉ nói không với bia rượu, nó còn phát tâm ăn chay trường, tham gia đạo tràng và thay đổi hoàn toàn phong cách xử thế của mình. Ngạo mạn, thách thức nhường chỗ cho thí xả và lắng nghe. Một con người hoàn toàn khác trước. Tâm chuyển thì cảnh ngoài cũng chuyển. Mọi đình trệ chấm dứt.

    Không phải chỉ một chuyện của con trai, nhiều chuyện khác tôi cũng cứ cách ấy mà xử lý. Chuyển người không được thì chuyển mình rồi dùng công đức ấy hồi hướng cho người. 

    Những việc làm đó, cũng có thể được coi là một dạng rất nhẹ của cái gọi là “chịu khổ thế cho chúng sinh”. Tôi từng chứng kiến những tai nạn, những đau đớn mà một vị Bồ-tát phải chịu, để người thân của mình thay đổi. Không có những đau đớn khổ nhọc đó, không đủ lực để làm thay đổi một con người. Luận Đại thừa khởi tín nói: “Trong đó hoặc thấy, hoặc niệm, hoặc làm quyến thuộc, hoặc làm cha mẹ, hoặc làm tôi tớ, hoặc làm oan gia, hoặc khởi Tứ nhiếp… cho đến tất cả việc làm với vô lượng duyên hạnh. Bởi do lực huân tập đại bi phát khởi, nên hay khiến chúng sinh tăng trưởng thiện căn, nếu thấy nếu nghe đều được lợi ích”. 

    Hiện oan gia v.v…. là nhân của khổ nạn và ba đường dữ. Nhân như thế, duyên như thế thì quả như thế. Không ai không bị quy luật nhân quả chi phối khi bước chân vào thế giới chúng sinh dù đó là Phật. Chỉ là vì pháp đó mới có thể khiến người chuyển ác nghiệp thành thiện nghiệp, nên Bồ-tát phải dùng pháp đó và sẵn sàng chịu cái quả của ba đường dữ. Trong Tứ nhiếp pháp, Lợi hành và Đồng sự đối với hàng hạ căn chuyên gây tạo ác nghiệp, cũng khó tránh khỏi cái quả tương tự. Nhưng vì lợi ích chúng sinh nên Bồ-tát vẫn có thể “chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường.

    La-hán bỏ cảnh giới an vui của mình phát đại nguyện vào lại thế gian độ sinh, ba mươi hai ứng hóa thân của Quán Thế Âm, cảnh giới “lưu hoặc độ sinh” của hàng đại Bồ-tát, bỏ sự an vui riêng mình mà gánh vác đại chúng v.v… đều là những dạng của cái gọi là “chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường, mà đỉnh cao là hình tượng Đức Phật, do thấy một kẻ vì tội bất hiếu mà đội vòng lửa đỏ, đã phát nguyện chịu thay thế khổ nạn đó để không còn những kẻ bất hiếu trên đời2.

    Có nghịch lý không?

    Nhân quả không sai lệch. Nghiệp của chúng sinh một khi đã đủ duyên, ngay cả Phật cũng không thể cứu, vậy có nghịch lý không khi đặt ra vấn đề “chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường?

    Nhân quả không sai lệnh. Nhân người nào gieo, người đó gặt v.v… nhưng vì quá trình từ nhân đến quả còn bị chi phối bởi duyên. Quả có thể thay đổi nhờ duyên. Nên Bồ-tát có thể nương duyên ấy, dùng nguyện lực mà chịu khổ thế cho chúng sinh, khiến chúng sinh chuyển dần các bất thiện nghiệp của mình. Việc này đòi hỏi chúng sinh phải từng có duyên với Bồ-tát. Không cần phải nhiều, chỉ cần một lần gieo duyên là Bồ-tát đã có thể dùng duyên ấy, nương nguyện lực mà “đồng sự” hay “lợi hành” để làm lợi ích cho mình. Trong kinh Địa Tạng Vương Bồ-tát bổn nguyện, Đức Phật nói với Bồ-tát Địa Tạng rằng: “Trong đời sau, như có hàng trời người trồng chút ít căn lành trong Phật pháp chừng bằng sợi lông, mảy trần, hột cát… thời ông nên dùng đạo lực của ông ủng hộ người đó, khiến cho người đó tu tập lần lần đạo hạnh Vô thượng, chớ để họ thối thất” thì biết nguyện lực độ sinh của chư vị rất là lớn.  

    Lợi tha muốn càng lớn càng rộng, đòi hỏi “tự lợi” phải có năng lực khá mạnh. Năng lực nói đây bao gồm các việc như phát tâm Bồ-đề, thiết tha với các đại nguyện mà mình đã thọ, tu tập căn lành không mệt mỏi  v.v...

    Tu tập các căn lành      

    Căn lành nói đây bao gồm cả trí và bi, cả tự lợi và lợi tha, cả tu huệ lẫn tu phước.

    Thiện và bất thiện không có tướng cố định, chỉ tùy duyên mà hiển tướng. Vì thế nếu không đủ trí, thì có khi bất thiện mà tưởng là thiện, thiện lại tưởng là bất thiện. Việc lợi tha trở thành hạn chế.

    Chúng sinh tâm địa cang cường, nuôi lớn ngã tướng từ vô lượng kiếp, tham sân tích kết trong tạng thức sâu dày… không phải nói lời chánh là đã chịu nghe. Không phải nghe lời chánh rồi, chịu từ bỏ ác nghiệp rồi, là có thể bỏ liền được. Nếu không đủ trí tuệ để hiểu, không đủ nhẫn lực để kiên trì thì việc lợi tha khó mà hoàn mãn.

    Trí tuệ không đủ thì bi nguyện không lớn. Căn lành dù có cũng chỉ hạn cuộc trong mức độ nho nhỏ. Làm sao có đủ lực công đức để hồi hướng mà thành tựu được sở nguyện cho mình và người?

    Cho nên căn lành muốn đủ, thì tự lợi và lợi tha đều phải đầy đủ. Giới, định, tuệ phải có. Thiện nghiệp dù là việc rất nhỏ, có khả năng làm được đều phải làm. Vì không giới thì thân mình còn khó bảo toàn, nói là lợi ích cho tha nhân. Không định, không tuệ thì không có tình thương đối với tha nhân, cũng không biết thông cảm và kiên trì với các ác pháp của tha nhân. Các pháp như bố thí, phóng sinh v.v… tạo ra phương tiện giúp việc lợi tha được hoàn mãn hơn. Bởi dụng pháp muốn có tác dụng thì pháp được dùng phải ứng đúng với căn dục của chúng sinh. Người đang đói không thể cho pháp mà phải giúp họ được no ấm rồi, mới có thể nghe pháp. Muốn cho thì phải có mới cho được. Đó là lý do tu tuệ phải kèm tu phước. Việc lợi ích tha nhân mới được rộng rãi. Tu phước, cũng là một cách gieo duyên với chúng sinh để họ có duyên nghe pháp sau này.         

    Phát tâm Bồ-đề

    Trong các công đức cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết. Trong các pháp cúng dường, phát tâm Bồ-đề là pháp cúng dường hơn hết. Tổ Hiền Thủ nói: “Có thể một niệm phát tâm Bồ-đề, đó là pháp cúng dường tối thượng”3. Nói hơn hết, nói tối thượng là để biết công đức của các việc đó không có công đức nào có thể sánh kịp. Phát tâm Bồ-đề ngoài việc giúp hành giả không lạc vào tà ma ngoại đạo, nó còn là phương tiện để việc lợi tha dễ dàng được viên mãn. Hành Bồ-tát hạnh, nếu không đủ công đức hồi hướng cho chúng sinh thì việc lợi tha khó thành tựu. Lợi tha không thành tựu thì tự lợi cũng không thành tựu.

    Cùng một hình thức lợi ích như nhau, nhưng kết quả được hay không được, mau hay chậm không giống nhau, là do việc hồi hướng lệ thuộc vào công đức dùng hồi hướng. Đó là công đức phát Bồ-đề tâm, công đức tu hành, công đức hành thiện nghiệp, công đức hồi hướng không giống nhau. Thiện nghiệp của người đã phát Bồ-đề tâm không giống với thiện nghiệp của người chưa phát Bồ-đề tâm. Thiện nghiệp của người phát Bồ-đề tâm không giống với thiện nghiệp của người phát Bồ-đề tâm mà đã thấu được tánh của mình v.v... Vì thế, phát Bồ-đề tâm là việc tối cần thiết của người học đạo và hành đạo Bồ-tát. 

    Công đức hồi hướng

    Công đức hồi hướng là công đức có được sau khi chúng ta dùng thiện nghiệp hồi hướng cho tất cả. Do tấm lòng rộng mở đó mà thiện nghiệp thực hiện dù nhỏ cũng trở thành gấp bội. Vì thế kinh Hoa nghiêm dạy chư vị Bồ-tát mang công đức thiện nghiệp đã có hồi hướng cho chư Phật, chư vị Bồ-tát v.v… Vì nhờ đó, công đức thiện nghiệp càng tăng gấp bội. Nương công đức tăng gấp bội đó làm lợi ích chúng sinh thì dễ thành tựu hơn.

    Một việc tôi thường gặp trong thực tế là khá nhiều người, tu hành thấy cũng nhiệt tình, nhưng con cái cha mẹ v.v… nói chung là người thân gặp nhiều bất trắc. Việc đó không phải chỉ gây cản trở cho việc tu hành của đương sự mà còn khiến cho tinh thần của đương sự xuống dốc, mất tin tưởng đối với việc tu hành của mình (thối Bồ-đề tâm). 

    Tu không đúng, cảnh không thể chuyển là việc đương nhiên. Nhưng nhiều người tu thấy không sai nhưng bất trắc vẫn đầy dẫy, hỏi ra thì vấn đề hồi hướng cho người thân có thiếu sót. Chỉ vì cho rằng làm vậy sẽ ích kỷ nên không dám hồi hướng, chỉ hồi hướng chung chung cho chúng sinh. Đó là một suy nghĩ thiếu thực tế. 

    Muốn không ích kỷ thì trước hãy hồi hướng cho tất cả chúng sinh, sau hồi hướng thẳng cho đương sự nào cần hồi hướng. Chúng ta tu hành cần thực tế một chút. Chuyện nhỏ trước mắt nếu không giải quyết được, sao có thể giải quyết chuyện lớn hơn? Vì thế, chỗ nào cần hồi hướng, bất kể là người thân hay không thân,  đều có thể phát tâm hồi hướng. Hồi hướng sao để Sở hồi hướng phát tâm hướng về Tam bảo, biết hành thiện nghiệp và cuối cùng là thành tựu Bồ-đề vô thượng. Hồi hướng vậy thì không rơi vào ích kỷ.

    Có người phóng sinh xong, nghĩ tưởng đến ân sư, nên tha thiết hồi hướng cho ân sư được mạnh khỏe. Liền bị người khác nạt: “Có một chút phóng sinh thôi cũng bày đặt hồi hướng cho ân sư”. Nói vậy, vì chúng ta không hiểu về công đức hồi hướng. Thiện nghiệp dù nhỏ, có lòng hồi hướng thì công đức cũng thành lớn. Quan trọng là tha thiết. Trong kinh cũng dạy hồi hướng cho chư Phật, chư Bồ-tát, lý gì không thể hồi hướng cho ân sư, lấy đó làm pháp cúng dường mười phương chư Phật? Mọi phước đức đều có thể hồi hướng, hồi hướng cho bất cứ ai và nó sẽ trở thành công đức nếu được có tâm Bồ-đề làm nền tảng.

    Kết luận

    Pháp giới này khó nghĩ bàn, Duyên khởi vận hành chi phối thế gian này khó nghĩ bàn, công hạnh của Bồ-tát khó nghĩ bàn… nhưng dù là gì thì “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Thế giới bên ngoài chỉ là phán ánh của tự tâm. Vì thế cái quyết định hạnh phúc của mỗi người vẫn là thiện nghiệp của chính người ấy.

    Do lầm tưởng thế giới này là thực có nên thấy có ta và những thứ của ta, thấy ta và người khác nhau. Cũng do chấp ngã mà thấy ta và người là những thực thể trong thế giới này. Song thế giới này là ảnh tượng do tâm thức của “ta” tạo ra, nên không thể tách rời khỏi “ta” được. Mọi tạo tác, mọi tác động của “ta” vào thế giới đều phản hồi trở lại vào chính “ta” một kết quả nào đó. Giống như ngôi nhà của mình, nếu thường được tu bổ chăm sóc, làm những việc tốt đẹp cho nó thì chúng ta sẽ có được một ngôi nhà đẹp mà mình là kẻ thừa hưởng những tiện nghi do nó mang lại (làm lành gặp lành). 

    Nếu xem thế giới chung quanh là đối kháng, và chỉ lo cấu xé gom góp về mình, thì vô tình chúng ta đang phá hoại thế giới của ta và tất yếu sẽ gặp các cảnh giới dữ (làm ác gặp ác). Chính vì thế mà kinh luận khuyên chúng ta bỏ ác làm lành (vì tâm lý chúng ta ai cũng thích sống trong những cảnh giới tốt đẹp). Và cuộc sống của chúng ta chỉ được hạnh phúc thực sự, khi chúng ta biết phát tâm Bồ-đề, học hạnh Bồ-tát, tiêu trừ dần ngã chấp của mình, tâm vị tha rộng mở không còn bờ mé. 

    Source TVHS

    Read more »
  • Hành Giả Tu Thiền cần biết - Ma Thế Gian.

    Người Dụng Công Tu Thiền
    Phải Biện Rành Mười Thứ Ma

    —o0o—

     Người ngộ Ðạo tu thiền, bởi chẳng phải là việc tầm thường, nên dễ bị các thứ ma trong ngoài não loạn chánh định. Nếu tự mình không làm chủ được, liền sinh ái trước các cảnh. Nhân cảnh tâm động, kẹt vào rọ ma. Thế thì, vốn là nhân lành, trái lại gặt quả chẳng lành. Kẻ sơ cơ đời sau nên thận trọng đề phòng đó.

    Ở đây, nêu ra 10 điều biện ma, tự phải gẫm xét. Gặp tâm ma và thiên ma nên dùng trí tuệ quán chiếu, ma nghiệt liền tiêu. Tâm nhơ nếu sạch thì các chướng tự bặt, cái gì lại sợ thiên ma? Nó làm gì mê hoặc được tâm người chơn chánh? Nay 10 thứ ma này sẽ thuật rõ sau đây:

    Bởi mười thứ ma này vừa nêu nó hay làm nhiễu loạn kẻ mộ Ðạo tu hành, nhất là người tu Thiền chơn chánh, nên các hành giả phải đề phòng cẩn mật.

    1. Ma Oan Nghiệt Nhiều Ðời

    Loại ma này chính là nghiệp chướng nhiều đời của ta. Bởi từ nhiều kiếp đến nay, chúng ta bị luân hồi, quanh quẩn trong phàm vi, lầm tạo những nghiệp chẳng trung, chẳng hiếu, chẳng nhân, chẳng nghĩa. Sát, đạo, dâm, vọng, tham, sân, si, ái. Kết chặt những oan gia đời nay gặp gỡ. Trong khi chúng ta muốn học đại đạo, nó lại quấy nhiễu chẳng an, làm chướng ngăn việc tu hành khiến chẳng thành tựu được. Chúng ta phải hổ thẹn khẩn thiết cầu sám hối. Trông mong uy lực Tam Bảo gia hộ khiến những oan nghiệt nhiều đời đó tự sẽ tiêu diệt, tự nó thối tan.

    Lại, chúng ta phải phát nguyện lớn làm lợi ích tất cả chúng sanh, để mau được quả vô lậu, chứng Ðạo Bồ Ðề.

    Là kẻ mới học tu Thiền phải tự sám hối và mãnh tỉnh lấy.

    Chú
    Luân hồi tiếp nối, biển khổ mênh mang chúng sanh trôi giạt, hạt bụi trời kẻ chưa tỉnh không làm thế nào nhận ra sự kiện này! Ai là kẻ biết được ngày mai của mình ra sao? Và thấy được oan khiên túc trái của mình thế nào? Có kẻ nghe nói: ” Tuổi thọ của ta sánh bằng trời đất”, liền bảo: “Gớm thế! Ta là quái gì mà tuổi thọ thênh thang và mênh mang đến thế!”. Người xưa nói: “Sanh như đắp chăn bông. Tử như cởi áo hạ” là đạo lý gì? Thử nói xem! Chỉ thêm một trường huyễn mộng. Tuy nhiên, chỗ thênh thang mênh mang này ít người vào, không ai chịu nhận. Thì thôi, cứ rong chơi cho hết cuộc phong trần. Một lúc nào đó, quày đầu nhìn lại đoạn nhân duyên phù trầm này, chắc y không khỏi một phen tan thân mất mạng. Thế nhưng, nếu chưa phải là hạng đại lực lượng thì phải ai khẩn sám hối, nương uy lực vô song của Tam Bảo, mọi mộng mơ phía trước tiêu tan. Ðã thế, lại cần phát đại nguyện như hư không, vào cõi huyễn, độ chúng sanh huyễn, để hoàn thành Phật đạo như huyễn.

    2. Ma bên ngoài đến làm mê hoặc

    Loại ma này còn gọi là người làm chướng, kẻ bất tín hay nhỏ mọn. Sang hèn chẳng đồng bực. Họ não loạn định tâm khiến người tu chẳng được yên ổn. Nói chung là do hành giả tự thiếu quyền chước, hoặc thiếu lễ nghĩa, hoặc tự cao, hoặc ngã mạn, hoặc hay nói thẳng, hoặc hành động thô, hoặc dựa thế lực, hoặc ỷ tài hơn, hoặc nói ác, hoặc cho mình giỏi, hoặc nói điều dở của người, hoặc thiếu dáng vẻ hòa dịu, hoặc không cung kính, hoặc lượng hẹp hòi, hoặc thiếu nhẫn nại nên người chẳng tin. Họ làm hoặc loạn việc tu hành khiến tâm động niệm, che chướng bản minh. Kẻ mộ đạo lớn, phải tự hạ mình, nuôi dưỡng đạo đức, mới khỏi người ngoài làm chướng. Người trong Tông môn đời sau nên học đức khoan dung nhẫn nại cố gắng hành Ðạo.

    Chú
    Luận về tánh giác thì vật vật như nhau, người người bình đẳng, nhưng căn trung hạ cần đức hàm đạo dưỡng mới xong. Nếu kém đạo kém đức, thêm nỗi mê mờ dầy cộm thì đường tiến thiên nan vạn nan. Lối sống người đời còn dạy: “Với mình thật nghiêm cẩn, xử thiên hạ thì hạ mà khoan”, huống là đạo lớn giải thoát, lấy trí tuệ làm gốc, tiêu diệt bản ngã là chỗ đắc lực, mà còn u mê ôm ấp những tình chấp ngô ngã hẹp hòi đó được ư?

    Phật dạy: “Các hành vô thường là pháp sanh diệt”. Tổ khuyên: “Nên tiêu chảy đầy đất mới có chỗ an thân lập mạng”. Trên chiều dọc mà nhìn, chúng ta nhiều kiếp trôi lăn trong sáu nẻo, bởi đeo mang cái thấy hai: “ta người, kia đây, có không, xấu tốt” . Do đó và từ đấy mà xuống lên trong ba cõi, xoay quanh trong bốn loài. Chần chờ gì? Ðợi kiếp nào? Sao chưa một phen lay mình chuyển hóa, tạo một niềm vui, thắp sáng một niềm tin cho mai sau … Kìa nhìn xem!

    Trời đất liếc trông chừ sao thênh thang
    Chống gậy rong chơi chừ phương ngoại phương
    Hoặc cao cao chừ mây đỉnh núi
    Hoặc sâu sâu chừ nước trùng dương.

    3. Ma phiền não

    Ma phiền não cũng gọi là sự chướng. Người tu hành mà chẳng trừ được sự chướng thì rối rắm thánh đạo. Thế nào là phiền? Sao gọi là não? Phiền là chạy theo ngoại cảnh, não ấy là tự sanh trong tâm, người tu Thiền quyết phải dứt hẳn. Nếu chẳng dứt sớm thì tánh định khó hiện. Như thấy sắc tâm sanh là tâm dâm phiền não. Khi thấy giết tâm sanh là tâm ác phiền não. Thấy của tâm sanh là tâm trộm phiền não. Thấy vật tâm sanh là tâm tham phiền não. Với người sanh mạn là ngã tướng phiền não. Ðối kẻ thấp kiêu ngạo là phiền não tự đại. Gặp cảnh nghịch sanh sân là tâm khuể phiền não. Gặp cảnh thuận vui mừng là phiền não thích ý. Gặp oan gia sanh ghét là tâm hận phiền não. Cùng thân thích sinh ưa là tâm tư phiền não. Nói tóm lại: Với tất cả cái thấy bên ngoài mà trong sanh tâm thủ xả, đều là phiền não khó nói cho cùng. Thế nên những người tham thiền phải quyết dứt sự chướng. Sự chướng nếu chẳng không, chánh định bị não loạn. Người tu đời sau, đâu nên xem thường nó ư!

    Chú
    Còn lầm ngoại cảnh nên còn phiền não. Bởi chưa thấy thật tánh giả cảnh rối rắm, lăng xăng mờ ảo, tháo gỡ cách nào cho xong! Người xưa nói: “Vật từ cửa đem vào, không phải là của báu trong nhà”. Của báu trong nhà là gì? Mọi người sẵn có, luôn luôn đầy đủ, tánh tự bản nhiên, vào phàm vào thánh không đổi, không xanh không diệt, xưa nay bình đẳng, một đạo sáng suốt. Như đã nói, bởi thật giả chưa phân nên bao nhiêu điều vụn vặt trước mắt “Nắm đông bắt tây” luống sanh phiền bực. Ðáng thương! Cũng bậc vương giả, gặp loạn trầm luân, uổng đời trôi giạt, vùi thân trong chỗ bùn lầy, nát phận cùng loài man mọi. Mặt mũi thật xưa nay khó nhìn. Ðường về quê cũ vẫn còn diệu vợi, chưa dễ một sớm một chiều mà biết được.

    Khổ thay! Khổ thay!!

    4. Ma sở tri

    Ma nầy tức lý chướng. Người tu thiền mà lý chướng chẳng trừ, thì chánh định bị nhiễu loạn, không thể nào yên ổn được. Vì sao sở tri có lỗi như thế?

    Chính vì biết ta đắc ngộ, biết ta thông Tông, biết ta minh giáo, biết ta hội lý, văn ta lỗi lạc, ta thấy sâu rộng, ta giữ giới nghiêm, ta được chánh định, ta có trí tuệ, ta đã chứng không, ta được tự tại, ta không còn ngại, biết ta được thông, biết ta được diệu, ta đã chứng đạo, ta được thành Phật … Tất cả cái biết đó đều là lý chướng. Lý chướng này chẳng trừ, thì chấp pháp khó quên, chấp pháp chưa quên thì chân tâm chẳng hiện. Người trong Tông môn, nên phải tự xét. Sớm dứt chướng này.

    Chú
    Vừa quay lưng với giả cảnh lại nắm bắt nội tâm, cứ như thế mà chạy mà tìm, thật là một trường ảo mộng! Si mê lui, phiền não dứt, ma sở tri này thuộc pháp chấp nên khó đoạn. Hàng Bồ Tát đến Ðệ thập nhất địa vẫn còn chút sở tri ngu. Với loại ma này hành giả đã dầy công, chân trí đã phát triển, lại luôn luôn nhắm thẳng Phật đạo mà tiến, dần dần hàng phục nó.

    Tóm lại biên cương ma Phật không thật có. Còn thấy có hai, còn chấp là thế này, thế nọ, là ma. Phá vỡ các cái thấy biết hai bên thiên lệch “có không” đó, tiến thẳng vào vực Ðệ Nhất Nghĩa không, tức là Như Lai địa bất sanh, bất diệt. Khi này, cả hai danh từ Phật ma không chỗ lập cước, không còn bóng dáng pháp hay phi pháp, tất cả quét sạch là chỗ “không pháp có thể tu, không Phật có thể thành”. Chỗ này tối kỵ lý thuyết suông, phải buông thân mạng, nỗ lực hành trì mới có chút phần tương ưng. Cố gắng! Cố gắng!!

    Hình ảnh và lời quả quyết của bậc Ðại Sĩ dưới cội Bồ Ðề năm xưa như còn đồng vọng: “Nếu không đạt Ðạo dù thân này tan nát thành tro bụi, ta quyết chẳng rời chỗ ngồi này”.

    Dũng mãnh tinh tấn vô biên! Lời cả quyết của đấng cha lành ba cõi. Từ bi tri tuệ vô tận! Lời quả quyết của bậc Ðạo Sư muôn loài! Lời quả quyết cuả Người, gông cùm ba cõi tiêu tan. Ánh huệ nhật chiếu rạng, quét sạch mọi mê mờ của chúng sanh.

    Chúng con, những chúng sanh bất hạnh! Chỉ nương chút âm vang diệu vợi của người. Ðau đớn, cố gắng, nguyền xếp mình làm tròn di huấn muôn thuở.

    5. Ma tà kiến

    Ma này thường gọi là chấp chướng. Người tu thiền định muốn khỏi rơi vào định tà, thì phải dứt tà kiến. Vì sao tà kiến làm mất chánh định như thế?

    Bởi các cố chấp như: Chấp tánh chẳng hoại gọi là chấp có, chấp tánh vốn không gọi là chấp không. Chấp vốn bất tử gọi là chấp thường. Chấp theo hơi hám diệt gọi là chấp đoạn. Chấp không sanh ra có là kiến chấp thuộc tự nhiên. Chấp khí hóa ra hình là thuộc chấp tà nhân… Như thế gồm các loại cố chấp chẳng có, chẳng không, tức có, tức không và tất cả tà chấp, tà kiến, nhân duyên tự nhiên, đều chẳng rời hai đầu có không, đoạn thường, tự chướng bản lý, dần dần xa vào các ngõ tẻ.

    Chú
    Còn thấy hai, còn vọng tưởng; muốn dứt vọng tưởng, chớ thấy hai. Muốn đến chỗ chẳng thấy hai, chỉ một phen “biết vọng liền buông”. Buông hết, bố thí sạch, tự nhiên yên ổn. Người xưa nói: “Tìm tâm chẳng được”. Chỉ câu “tìm chẳng được” này là chỗ dứt bạch sạch hết, chẳng còn gì để mò bắt. Thế nên, liền khi đó được xác minh một cách tỏ rằng: “Ta đã an tâm cho ông rồi”. Thật là một thủ thuật giản dị lạ thường, chưa từng có, là phương pháp không phương pháp, không để dấu vết,là không tam muội. Chỗ độc đáo này chỉ thầy trò tương đắc, người ngoài không chỗ dùi mài. Tuy nhiên cửa cam lồ đã mở, lòng từ bi của Phật Tổ tràn khắp nơi nơi. Chúng ta phải tự nỗ lực, không việc gì ngoài mình, đừng chạy lăng xăng vô ích. Người tu hành nào không điều được tâm, cứ để buông lung, ruổi theo cảnh ngoài, sẽ vướng các chấp, hoặc có, hoặc không, hoặc đoạn, hoặc thường…

    Xa dần chánh đạo, bản lý bị chướng. Bản lý tức là pháp môn không hai, cũng chính là Trung Ðạo Ðệ Nhất Nghĩa không. Bản lý này đã không sáng, tức nhiên các lối tẻ hiện bày và như thế hành giả này lạc vào đường tà bị tà ma ốp. Thân tu Ðạo chánh, tâm đã theo tà, miệng nói việc tà, dự trước đoán sau, lấy làm kế sống. Lâu dần tà lực cũng mất. Hành giả tự mất thăng bằng, hiện thân mang họa. Cuối cùng bị đọa đường ác.

    Thế nên các thiền giả thận trọng từng bước, chớ vọng cầu, phải triệt để hoàn toàn cơ sở chấp ngã. Ðồng thời mạnh mẽ siêng năng áp dụng công phu quyết một đời xô ngã núi sê mi, phá tan hành trì ngã chấp. Nên nhớ! “Nam nhi tự hữu xung thiên chí …” Vừa nói gì ??

    6. Ma vọng tưởng

    Ma vọng tưởng này là tự chướng. Tự chướng chẳng không thì dòng sanh diệt tiếp nối, điên đảo tán loạn che chướng bản tâm, do đó người tham Thiền cần phải lưu tâm nhiều ở điểm này. Nay xin đưa ra một vài vọng chướng tiêu biểu để trình bày như:

    1.      Vọng tưởng ta ngộ đạo

    2.      Vọng tưởng ta tu chứng

    3.      Vọng tưởng ta được định

    4.      Vọng tưởng ta phát Huệ

    5.      Vọng tưởng ta biết nhiều

    6.      Vọng tưởng ta giỏi văn

    7.      Vọng tưởng ta có danh hiển đạt

    8.      Vọng tưởng nhiều người cung phụng ta

    9.      Vọng tưởng ta làm thầy thiên hạ

    10.  Vọng tưởng nhiều người qui hướng ta

    11.  Vọng tưởng ta nối tiếp Tổ đăng

    12.  Vọng tưởng ta sẽ làm trụ trì

    13.  Vọng tưởng ta hoá Ðạo

    14.  Vọng tưởng ta truyền lục

    15.  Vọng tưởng nhiều người nối dõi ta

    16.  Vọng tưởng ta sẽ được nhập tạng

    17.  Vọng tưởng ta có thần thông

    18.  Vọng tưởng ta được huyền diệu

    19.  Vọng tưởng ta rất kỳ đặc

    và có nhiều quái lạ như: ta sẽ sống lâu, ta sẽ cải lão hoàn đồng, ta sẽ bay cao, ta sẽ thành Phật… Các cuồng vọng như thế làm rối rắm động niệm, trái với chân thể thanh tịnh của mình. Vì thế, người sơ cơ học Ðạo phải biết mà dứt nó.

    Chú
    Mê mờ bản lý, nên điên đảo vọng tưởng. Vọng tưởng sinh động thì bản tâm bị che chướng. Loanh quanh mãi trong mê mờ cuồng vọng, tức chân thể thanh tịnh chìm lặng. Khác gì kẻ đi trong đêm đen không đèn đuốc. Người xưa nói: “Ðất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự chiếu”. Nơi đây chúng ta có thể nói cách khác rằng nếu chúng ta chịu dừng thì chuyện gì điên đảo? Vọng tưởng là gì? Thử nhìn lại xem! Vốn dĩ là ảo mộng mà! Lỗi chúng ta cứ chấp rồi lao theo. Lao theo nên điên đảo. Ðã điên đảo thì vọng càng thêm vọng. Ngay đây nếu chúng ta biết dừng, còn gì lăng xăng nắm bắt! Còn chăng hư không thênh thang rỗng suốt, cái gì mê mờ chướng ngại cái gì? Thử nói xem!

    Tóm lại là chúng ta có chịu dừng hay không? Dừng thì trời “Không” sáng suốt, đất tâm yên ổn, huệ nhật hằng soi, thiếu sót chỗ nào?
    Trái lại rong rêu mải miết, nên hóa điên cuồng. Khổ thay! Khổ thay!

    Có thi rằng:

    Lớn thay! người sức mạnh
    Biết vọng liền khôngtheo
    Quê xưa trăng tỏ rạng
    Tùng xanh tiếng suối reo
    Khoái thay! người biết vọng
    Miền “chân không” mở ra
    Ðường xưa tự bày hiện
    Quê nhà thật không xa
    Hương quê thoảng trăng sao
    Tình quê miền bất nhị
    Hư không trải gấm hoa
    Người quê một mình đi
    Gió ngát hương giải thoát
    Hoa đơm đóa từ bi
    Tuyết tuôn thành định lực
    Trăng soi bất tư nghì

    Một tiếng quát!

    7. Ma khẩu nghiệp

    Ma này là cuồng chướng. Người tu mà chẳng kiểm điểm ngôn ngữ của mình mặc ý cao đàm hùng biện, làm tổn thần lao niệm, sẽ mất Thiền định chân chánh. Nhân sao mà khẩu nghiệp có lỗi lớn như thế? Bởi hay: Ðàm huyền thuyết diệu, giảng giáo nói tông. Khoe mình đắc ngộ, chê người ngu mê. Luận chỗ hay dở. Nói điều phải quấy của người. Ngâm ca thi phú, nói bừa những việc không đâu. Bình nghị những việc hưng phế xưa nay của quốc gia, xưa thì cho người hiền mà ngu, nay thì bảo người hung mà giỏi. Toàn những việc chẳng dính líu về mình mà cứ gân cổ tranh luận. Lại vô cớ khen chê việc hơn thua của người. Phô diễn các cảnh dục lạc, khiến người sanh đắm trước. Bàn cãi những chuyện bất bình làm cho kẻ nghe phát phẫn. Trước mắt thì công kênh đề cao. Sau lưng thì lại chê bai biếm nhẽ. Ðó là những lời nói lợi hại làm mất chánh định của người. Người tu Thiền đời sau phải thận trọng nghiêm ngặt. Bởi loại cuồng chướng này, chẳng những làm cho chúng ta chẳng kiệm ngôn, dưỡng đức mà còn khiến cho tâm chúng ta tán động.

    Thế nên những kẻ sơ cơ, phải ngừa phòng khẩu nghiệp cẩn thận!

    Chú
    Ba nghiệp thân miệng ý. Miệng có bốn lỗi là: nói lời dữ, nói dối vọng, nói thêu dệt, nói hai chiều. Công phu đến đây, hành giả không khéo điều phục khẩu nghiệp có thể sanh ra đại ngôn cuồng vọng, buông lời bừa bãi làm chướng ngăn con đường vào thánh. Vì lẽ đã có chút công phu, lại nếm trải và thu hoạch phần nào kết quả trong sự tu tập, luôn luôn hành giả tự thấy mình được chút gì gì đó gọi là “sở đắc”. Từ căn cứ này, nếu tâm chưa thật an thì chính “chút sở đắc” đó làm hại hành giả. Ngay đây, người có mắt sáng liền khám phá kịp thời những cuồng vọng, tạo thế an bình cho chánh định. Trái lại, với người biện biệt chưa rành, thủ thuật chưa khéo thì ngô ngã phân ranh, si mê chồm dậy. Cứ thế buông xuôi lao theo, chẳng khác nào thùng rỗng khua vang. Thực tế mà nhận sở đắc gì? Mình được cái gì? Tương lai mù mịt, đường trước lờ mờ. Dự phóng gì? Nhìn trước ngó sau, khối si mê nhiều kiếp chưa chuyển nổi, núi nhân ngã lâu đời chưa đập tan. Khổ thay! Ngồi đó mà khua động môi lưỡi. Chính mình chưa yên, thì nói gì đến việc hay dở của người, sự hưng phế của nước. Thì thôi! Ðã biết nói nhiều loạn tâm tổn thần, thì sao ngang đây chưa chịu dứt bặt, sống lại cho chính mình để tâm mình được an ổn, định lực của mình được kiên cố. Tóm lại:

    Người hay nói – Loạn
    Người nói nhiều – Tổn

    Người xưa bảo: “Hãy bịt lỗ đít lại mới có chút phần tương ưng” . Lời này của người xưa, bọn ta hết chỗ cắm mỏ. Khoái thay!

    8. Ma bệnh khổ

    Ðây là khổ chướng. Thân có nhiều bệnh tật là do nghiệp nặng. Hoặc tự mình làm mất sự điều hòa, biến sanh các thứ bệnh, làm cho người học đạo tu hành chẳng an, chẳng thọ dụng được pháp lạc thù thắng. Nay xin nêu dẫn một vài điều thiết yếu để người tu hành đề phòng.

    Trước hết phải điều hòa tì vị, chỉ nên dùng những thức ăn thích hợp với cơ thể. Bớt ăn những vị quá đậm đà. Chớ ăn đồ sống và lạnh, khi đói chớ tụng đọc, khi no chớ làm việc nặng, sau khi ăn không nên ngủ liền. Về đêm chớ ăn no quá.

    Tóm lại người ưa ăn những thứ nhừ nát, hoặc thích những thứ rang nấu. Khoái ăn đồ ướp ngũ vị, dùng nhiều những thứ không hợp với thân. Lại, ngồi thiền chỗ đất thấp, ngủ nghỉ chỗ gió nhiều. Lúc ra mồ hôi mà xuống nước. Ðang dang nắng mà dùng đồ lạnh mát. Tắm rửa ngoài trời trống gió, ngủ nghỉ dưới chỗ nhiều sương. Cùng các trường hợp: no quá, đói quá, mừng quá, giận quá, nóng quá, lạnh quá. Chỗ mưa nhiều, sương nhiều, trong thương ngoài cảm tất cả tại lỗi không biết điều hòa, nên hay sinh các chứng thương nhọt, thân không làm sao an được. Kẻ tu học đời sau phải biết để phòng bị đó.

    Chú
    Người tu hành trước nhất phải thấy thân này và ngoại cảnh đều không thật, là báo nghiệp không tự tại của mình. Nó hư giả, mỏng manh, bại hoại, là pháp sinh diệt vô thường. Tuy nhiên chúng ta cần nó, đang dùng nó trong việc tu hành thì phải điều chỉnh thế nào cho nó được yên ổn,để Ðạo nghiệp của ta được viên mãn. Kinh nghiệm sống ở đời. Việc ăn uống ngủ nghỉ, chúng ta phải luôn luôn điều hợp thích đáng. cái gì thái quá hay sanh bất cập. Ðã vậy việc áp dụng thân tâm tu hành hàng ngày chúng ta cũng phải tiết chế, không nên cố chấp. Như ta đã biết, thân này tạm bợ như rắn độc chung lồng, việc kích động chống trái nhau không lúc nào vắng thiếu. lại thêm cảnh nóng lạnh bức ngặt bên ngoài phụ họa, làm cho đã khổ lại càng khổ, nên nói: “khổ, khổ”. Chúng ta là người đã thấy được phần nào nguyên nhân các khổ. Chúng ta cũng có sẵn phương pháp dứt trừ nguyên nhân các khổ đó. Nắm chắc bảo đảm và rõ ràng. Như vậy chúng ta còn ngần ngại gì? Chần chờ lúc nào nữa? Chưa chịu hạ thủ cho rồi? Người xưa nói: “Nay đây quyết một đời này cho xong”.

    Chúng ta cũng thấy rằng: “Muốn dứt tai ương về sau, ngay đây phải quyết định. Trong lúc chúng ta còn đủ sáng suốt, đủ điều kiện, nắm sẵn cơ hội trong tay, mà chúng ta chưa chịu dứt khoát còn đợi gì nữa?”

    Chớ để ngày qua, già suy bệnh hoạn thân thể suy hao, tinh thần mờ tối, chẳng đủ sức dụng công đắc lực, không còn hạ thủ một cách quyết liệt nổi. Gắng lên!

    Cảnh huyễn, người huyễn, ta mượn tạm các cái huyễn để làm việc huyễn, mọi việc xong rồi huyễn pháp đều buông. Tổ sư nói: “Thân huyễn nhà mộng, vật sắc hư không đời trước không định, kiếp sau đâu thông. Xuống lên xuôi ngược, thay đổi mất công, ba cõi ràng buộc biết thuở nào xong…”

    Ngay đây quyết định là xong, một buông tất cả đều buông, không thì nhiều kiếp mang tai họa! Cố gắng! Quỉ dữ vô thường không phân biệt thân sơ, chẳng nhận đồ đút lót. Chúng ta tự liệu trước, việc đến trở tay không kịp, khi đó kêu khổ ai cứu cho? Chi bằng ngay bây giờ tự xoay lại mình hỏi thử: Ta là gì? Ôi chao!

    9. Ma Hôn Trầm

    Tức là chướng ngại của ngủ nghỉ quá nhiều. Nếu người tu hành không tự rèn luyện để thời gian ngủ nghỉ quá nhiều thì chân tâm chẳng sáng, tánh huệ lặng chìm, sẽ rơi vào chỗ mờ tối, núi đen hang quỷ. Nguyên nhân nào mà ngủ nghỉ nhiều sanh chướng như thế.

    Ðấy cũng bởi do ăn nhiều, dùng toàn chất vị đậm đà. Nói nhiều tổn hơi, thân nhọc, tỳ khốn tinh thần không minh mẫn, hơi trược hỗn loạn. Kẻ ngu si nhiều bực tức, lại lười nhác buông lung, chẳng nhớ việc sanh tử, chỉ thích vui giả tạm. Người dụng công tu hành phải khắc tỉnh tinh tiến, noi gương người xưa dùng đùi đâm bắp thịt, đụng đầu vào gốc cột, lạy Phật và đốt đèn, đi kinh hành chỗ hiểm, thân chịu khó mài luyện, ma ngủ mới nhẹ dần. Kẻ thiếu khổ luyện hay mặc tình rong rêu, chân tâm bị mờ tối, những người tu thiền, dũng mãnh hàng phục chướng nàỵ

    Chú
    Các chướng kể trên trừ oan chướng nhiều đời và cách đề phòng những lỗi thái quá trong lúc dụng công. Ngoài ra đều do hành giả chưa nhận được bản tâm, chưa thấy thật tánh, rong ruổi bên ngoài, cuồng loạn vọng tưởng mà gây nên. Nay xét về những chướng ngại của ma ngủ như đã nói: “Cái gì thái quá thì sanh bất cập”. Cũng vậy để cho ma ngủ tự do quá, thì việc dụng công cuả chúng ta không tiến. Tâm huệ không phát là ngủ ngà ngủ gật, thiếu sự sáng suốt là cảnh giới núi đen hang quỉ. Người tu hành lọt vào đó, họa tan thân mất mạng không thể tránh khỏi, nói gì là tiến đạo nghiêm thân? Hơn nữa ma ngủ cùng loạn tưởng là hai ác chướng khó trị nhất của các thiền giả. Có thể nói rằng hai chướng này là hai gọng kìm luôn luôn kẹp chặt hai đầu, bao vây hành giả, lẩn quẩn trong đó. Với hai chướng này, hành giả phải siêng năng, mạnh mẽ lập thệ quyết định buông bỏ thân mạng khắc trị bọn chúng đạt Ðạo mới thôi. Mặt khác hành giả phải khẩn cầu sám hối những chi tập đời trước, đồng thời phòng bị nghiêm nhặt không để cho chúng có cơ hội nhỏ nào hẻo lánh được. Hội đủ những điều trên rồi, hành giả còn phải khéo léo điều thích thân tâm đối với ngoại cảnh, chớ nên để lệch ngã mà lý sự phải viên dung. Ngừời xưa bảo: Khắc chữ Tử trên trán.
    Hoặc phải nhớ khẩu hiệu: Sinh tử việc lớn vô thường nhanh chóng.

    Trong lúc dụng công, hành giả chỉ một bề ngó thẳng tới trước mà tiến. Quăng ném tất cả sở hữu, dẹp bỏ liên hệ chung quanh, ngay khi nhào nặn công phu không để việc ngoài dính mắc. Giả sử ốm đau cũng được, đói khổ cũng xong, lành lặn cũng được, rách rưới cũng chả sao, sống đến 120 tuổi cũng được, ngã chết tại chỗ cũng thế thôi. Tóm lại, đối với cảnh ngoài thế nào cũng được, hành giả chớ nên bận tâm, chỉ dồn mọi nỗ lực, áp dụng công phu sao cho đắc lực, được như thế mới có ngày xong. Người xưa dùng dùi đâm vào bắp thịt, đụng đầu vào gốc cột…Gương sáng còn đó, chúng ta phải lấy đó noi theo, chớ cho dễ dàng, để một đời trôi suông vô ích.

    Trong phần nói về ma oan nghiệt nhiều đời ở trước và phần nói về ma mê ngủ này, ngoài cách tự tỉnh, tự tiến, còn dặn hành giả phải khẩn thiết sám hối. Ở đây, theo thiển ý của bút giả, xin nêu ra phương pháp sám hối có hai:

    1.      Tác pháp sám hối – Cách này như trong các kinh Ðại Thừa dạy: Sám hối bằng cách thống trách tự mình, ai khẩn trông cầu mười phương Tam Bảo xót thương chứng biết. Lại phát chí kiên quyết dứt bỏ những lỗi lầm đã gây. Ðồng thời nương vào bi trí vô biên của mười phương Tam Bảo, nguyện giữ vững tâm niệm, sống theo lời dạy của các Hiền Thánh.

    2.      Tâm niệm sám hối – Sám hối tự tâm, tức là trong sinh hoạt hàng ngày. Vừa có một niệm khởi lên liền buông không theo. Luôn tự khám phá, khéo làm việc này cho được liên tục. Càng buông định lực càng mạnh. Huệ giác càng sáng, được thế oan nghiệp nhiều đời sẽ chuyển. Vọng nhiễm chấp trước truyền kiếp tiêu tan. Huệ-không bày hiện. Khi này, gì là tội? Sám hối cái gì?

    10. Thiên ma

    Loại ma này chẳng giống các ma kể trên. Ðây là người tu hành chân chánh sắp được chứng Ðạo. Tâm tình đã thông hợp trạm nhiên chẳng động, khiến bọn thiên ma và các quỉ thần thảy đều kinh hoảng, cung điện của chúng sụp đổ, cõi đại địa chấn động. Ma chúa mất hồn, ma dân té hoảng. Các loại ma mị, phần nhiều có ngũ thông, bọn chúng kéo đến não loạn hành nhân làm cho chẳng vào được vị thánh. Chúng biến các cảnh quái dị, và các cảnh dục làm rối loạn tâm định của hành giả. Nếu trong tâm hành giả vừa có mảy may niệm thủ xả, thì bọn kia nắm được tiện lợi. Hành giả sẽ bị hại, tự phát điên cuồng cho rằng mình thành Phật. Hiện đời không thoát khỏi vương pháp. Khi chết sa vào ngục vô gián.

    Vì thế những kẻ tham thiền, phải chánh niệm phân minh, trí huệ luôn sáng suốt, một lòng thường chẳng động. Mặc cho bọn ma kia tác uy, tác quái, ta như chẳng thấy, chẳng nghe. Dùng chánh định hàng ma như thế, tự nhiên loài ma mị tiêu diệt. Các hành giả đời sau dè dặt biện rành đó.

    Chú
    Ma cũng tự tâm, không ma cũng tự tâm; ma, không ma gì cũng tự tâm; còn mống tâm dấy niệm là còn tâm ma. Từ trên mười thứ ma chướng, chẳng ngoài tâm ta mà có ra. Tâm ta nếu lặng yên chẳng động, ngàn thánh còn chẳng biết, huống loài ma mị làm gì biết được.

    Tuy nhiên các hành giả trong Tông môn là người tu hành chân chánh phải luôn luôn phòng bị tâm mình cho cẩn mật, chớ để cho bọn ma mị bên ngoài có cơ hội thuận tiện. Công phu càng đắc lực, hành giả càng cẩn mật hơn, bởi tâm càng tịnh, ma lực càng mãnh liệt. Giai đoạn này chánh niệm phải tỏ rõ, trí huệ luôn chiếu suốt, tâm an trụ chẳng động. Ðã vậy, thì mặc cho loài ma quái kia quấy phá, khác nào bọn chúng nắm bắt hư không.

    Ðể đúc kết những điều trình bày trên, các hành giả sơ cơ nên nhận rằng: “Tâm là gốc, ma không ma gì cũng tự tâm ta. Tâm động ma loạn, tâm bất động là chỗ không thể nghĩ bàn, cảnh giới này ngàn thánh xuất thế cũng chẳng biết huống nữa là ma”. Như vậy:

    Muốn ngồi yên trị ma thì phải thế nào?

    Chỉ có bất động. Tâm bất động thì đất nước yên lành, các bóng dáng ma mị dứt bặt. Người xưa nói: Một tâm chẳng sanh, muôn pháp đều bặt”. Hoặc nói: Mê ngủ nếu không, các mộng tự trừ . Còn nói mớ, nói mộng làm gì?

    Source Quangduc

    Read more »