Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Phật tánh là gì và phương pháp ngộ nhập

Featured video
You need to have the Flash Player installed and a browser with JavaScript support.

Thanks! Share it with your friends!

URL

You disliked this video. Thanks for the feedback!

Sorry, only registred users can create playlists.
URL


Added by Admin in video-all - Tất Cả
367 Views

Description

Phật tánh là gì và phương pháp ngộ nhập (chứng nhập). Phần đầu video này là lời khai thị của Đức Thế Tôn về kiến tinh trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm (http://bit.ly/KinhLangNghiemPDF). Phần sau là khai thị của ngài Lai Quả thiền sư qua bản ghi chép thiền thất khai thị lục.

Phật tánh là trung tâm tư tưởng của Phật Giáo, đặc biệt được đề cập rất nhiều trong Thiền Tông. Phật tánh không đơn giản là một khái niệm lý thuyết trừu tượng như trong triết học mà thực chất nó bất khả tư nghì (tức là không thể biết được bằng bộ não tìm hiểu, nghiên cứu). Nó cần phải được thực chứng, thực ngộ như người uống nước, nóng lạnh tự biết. Gọi là "nó" cũng là bất đắc dĩ vì thực tế bất nhị, chẳng phải năng sở đối đãi, nhưng nếu không giả lập thì chẳng thể nói được. Cho nên phàm là lời nói thì chẳng có nghĩa thật. Nhưng làm thế nào để chứng ngộ hay còn gọi là kiến tánh?

Thiền Tông là con đường ngắn nhất, trực tiếp nhất, không cần trải qua nhiều thứ lớp tuần tự như giáo môn (kinh điển Phật thuyết). Con đường của Thiền Tông từ nghi đến ngộ, nghi nhỏ ngộ nhỏ, nghi lớn ngộ lớn, có nghi có ngộ, không nghi không ngộ. Vậy nghi là gì?

Thật ra, chẳng thể dùng lời nói văn tự để diễn đạt chữ NGHI này, nhưng phương tiện thì có thể giải thích như sau: Nghi là trạng thái không hiểu cũng không biết, được phát khởi và duy trì bởi một sự thắc mắc do muốn hiểu muốn biết mà không hiểu không biết được. Như vậy, muốn có nghi, phải có thắc mắc. Khi lòng ham hiểu biết đụng chạm với sự không hiểu không biết thì sinh ra thắc mắc. Nếu chỉ không hiểu mà không muốn hiểu hoặc không biết mà không muốn biết thì không thể có nghi được. Ví dụ, khi hỏi một trong số những câu sau, ta sẽ thấy có thắc mắc: "Muôn pháp quy về một, một quy về chỗ nào?"; "Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải vật, là cái gì?"; "Trước khi cha mẹ chưa sinh, mặt mũi bổn lai của ta ra sao?"; "Sinh từ đâu đến, chết đi về đâu?"; "Khi chưa có trời đất, ta là cái gì?"; "Niệm Phật là ai?" v.v... Theo ngài Lai Quả thiền sư, trích trong cuốn Tham Thiền Phổ Thuyết (quyển thượng): "Cũng như tham câu: Khi chưa có trời đất ta là cái gì, chẳng biết mình là cái gì, muốn rõ bổn lai diện mục của mình mà không hiểu được thì phải sanh khởi thắc mắc tại sao muốn hiểu mà hiểu không được. Lúc ấy trong tâm tự nhiên móng khởi nghi tình. Có nghi tình tức là tham thiền vậy". Thiền tông rất coi trọng cái nghi này, cũng gọi là Nghi Tình (tình trạng nghi). Nghi có chánh nghi và hồ nghi. Chánh nghi là chỉ cho thuần túy không hiểu không biết mà không cho suy nghĩ phân biệt, giải thích, tìm hiểu, nghiên cứu. Muốn vậy, hãy đề lên câu thoại đầu như "Khi chưa có trời đất, ta là cái gì?" cảm thấy không hiểu không biết thì cứ ở trong tình trạng đó mà hỏi mãi, hỏi hoài. Hồ nghi là suy nghĩ phân biệt, rồi đi tìm hiểu, giải thích, nghiên cứu theo kiểu khoa học, triết học để cho ra đáp án. Nếu được giải thích cho hiểu thì sẽ hết nghi. Hồ nghi chỉ phát minh ra định luật, định lý, vật dụng thế gian, không giúp cho ngộ đạo.

Thời xưa, căn khí con người lanh lẹ (căn cơ cao) nên mối nghi đã tự sẵn trong lòng về thế giới vũ trụ vạn vật. Bởi vậy, chỉ cần chạm nhằm cơ duyên là có thể ngộ đạo, ví như chỉ cần nghe qua một câu khai thị của chư tổ hoặc thậm chí nhìn mây bay, nước chảy v.v... là ngộ liền. Nhưng thời nay, muốn có nghi tình, thường phải dựa vào câu thoại đầu. Câu thoại đầu là một câu hỏi mà không ai có thể biết đáp án, trừ người đã ngộ.

Khi tham thiền chỉ được phép chọn một câu cảm thấy không hiểu nhất, thắc mắc nhất, rồi cứ thế mà tham khán cho đến kiến tánh. Tuyệt đối không được đi tìm hiểu, giải thích kể cả giải thích từng chữ trong câu thoại đầu. Càng không hiểu không biết thì càng tốt. Thoại là lời nói, đầu là đầu tiên lời nói. Nghĩa là chưa khởi ý niệm muốn nói, mới được gọi là thoại đầu. Hễ khởi niệm muốn nói là thoại đuôi rồi (chẳng phải đầu). Tham là hỏi câu thoại để kích thích phát khởi nghi tình. Để kéo dài nghi tình thì hành giả tham thiền cần phải "khán".

Khán là nhìn chỗ không hiểu không biết, muốn xem chỗ không hiểu không biết đó là gì? Chỗ không hiểu không biết thì không có chỗ, chẳng phải là chỗ (không - thời gian), không có chỗ thì không có mục tiêu để nhìn, nên nhìn mãi không thấy gì, vẫn còn không hiểu không biết. Hành giả tham thiền, cứ hỏi và nhìn đồng thời đi song song để giữ cái nghi tình. Nghi tình này sẽ đưa hành giả đến thoại đầu. Thoại đầu cũng gọi là vô thủy vô minh (tên gọi nhiều lắm: đầu sào trăm thước; hầm sâu vô minh; đáy thùng sơn đen; hang quỷ núi đen; vô thủy huyễn vô minh; căn bản vô minh; bạch tịnh thức; vô cấu thức; ...) là nguồn gốc của ý thức. Từ đầu sào trăm thước tiến lên một bước ngay đó liền lìa ý thức, cái sát na lìa ý thức đó gọi là kiến tánh thành Phật - bỗng dứt hết nghi. Tức là trí Bát Nhã được hiện hành khắp không gian thời gian, sự hiểu biết chẳng có gì thiếu sót. Giáo môn gọi là "Chánh Biến Tri". Quý vị nên tham khảo cuốn "Đường lối thực hành tham tổ sư thiền" của H.T Duy Lực sẽ rõ hơn.
#PhậtTánhLàGì #ThiềnTông #TổSưThiền #LaiQuảThiềnSư #HòaThượngDuyLực

Show more

Commenting disabled.
RSS