Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Latest Articles


  • 9 điều nên nhớ khi làm người

     

    Khi giàu sang phú quý, chúng ta hãy nhớ nghĩ tới những người nghèo khó vì họ góp một phần tạo nên sự giàu có của chúng ta.
    Khi chúng ta có được sự hiểu biết chân chính, tin sâu nhân quả, biết làm lành lánh dữ, chúng ta hãy nhớ nghĩ tới những người không có điều kiện để được học hỏi Phật pháp.
    1- Khi no, chúng ta hãy nhớ nghĩ tới những người đang đói khát, thiếu thốn khó khăn.
    2- Khi được mặc quần lành áo đẹp, chúng ta hãy nhớ nghĩ tới những người không có những bộ quần áo lành lặn.
    3- Khi sống trong mái nhà yên ấm, chúng ta hãy nhớ nghĩ tới những người đang lang thang giá lạnh trong cảnh màn trời chiếu đất.
    4- Khi giàu sang phú quý, chúng ta hãy nhớ nghĩ tới những người nghèo khó vì họ góp một phần tạo nên sự giàu có của chúng ta.
    5- Khi đang sống trong hòa bình, chúng ta hãy nhớ ơn tới các chiến sĩ đang xả thân, gìn giữ biên cương bờ cõi và bảo vệ an toàn cho sự sống của chúng ta.
    6- Khi có quyền cao chức trọng trong xã hội, chúng ta hãy nhớ nghĩ tới tất cả chúng sinh, nhờ có sự hổ trợ liên quan mật thiết của họ mà ta mới có được địa vị ngày hôm nay.
    7- Khi được học hành tới nơi đến chốn, chúng ta hãy nhớ nghĩ tới những người không có đủ điều kiện để cắp sách đến trường.
    8- Khi sống hạnh phúc bên mái ấm gia đình, con đông cháu đầy, chúng ta hãy nhớ nghĩ tới những trẻ em mồ côi không nơi nương tựa.
    9- Khi chúng ta có được sự hiểu biết chân chính, tin sâu nhân quả, biết làm lành lánh dữ, chúng ta hãy nhớ nghĩ tới những người không có điều kiện để được học hỏi Phật pháp.
     
    Read more »
  • Phật Niết-bàn nằm nghiêng bên nào?

    Nằm nghiêng bên phải là một trong những đặc điểm quan trọng của tướng Niết-bàn.
    HỎI: Tôi đọc trong kinh sách được biết khi Đức Phật nhập Niết-bàn, nằm nghiêng bên phải. Nhưng gần đây, tôi thấy ở một ngôi chùa lớn có tượng Phật Niết-bàn năm nghiêng về bên trái? Không biết người tạo tượng có sư nhâm lẫn gi không?
     
    ĐÁP:
    Bạn Hoa Thiên thân mến!
    Theo kinh Trường bộ I, ghi nhận hình ảnh Thế Tôn khi chuẩn bị nhập Niết-bàn nằm nghiêng bên phải: “Rồi Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỳ-kheo đi đến bên kia sông Hirannavati, tại Kusinàrà Upavattana, rừng Sàlà của dòng họ Mallà, khi đi đến nơi liền nói với Tôn giả Ananda:
    - Này Ananda, hãy trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ. Này Ananda, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
    - Xin vâng, bạch Thế Tôn!
    Tôn giả Ananda vâng lời Thế Tôn, trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ. Và Thế Tôn nằm xuống, về phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, hai chân để lên nhau (Kinh Đại bát Niết-bàn, số 16).
    Kinh Trường A-hàm cũng ghi nhận tương tự như vậy: “Bấy giờ Phật vào thành Câu-thi, Ngài đến nơi sinh quán đời trước, giữa cây song thọ, thuộc bộ tộc Mạt-la, và bảo A-nan:
    - Ông hãy sửa chỗ cho Ta nằm, giữa cây song thọ, đầu quay về hướng Bắc, mặt quay về hướng Tây.
    Sau khi sửa soạn xong, Đức Thế Tôn nằm nghỉ, và tự lấy y Tăng-già-lê xếp thành bốn lớp đắp lên mình. Ngài nằm nghiêng về bên phải, như sư tử chúa, hai chân chồng lên nhau” (Kinh Du hành, số 2).
    Kinh điển Đại thừa, thuộc hệ Phật giáo phát triển cũng ghi nhận Đức Phật nhập Niết-bàn nằm nghiêng bên phải: “Sau khi ba lần thuận nghịch nhập các thiền định cùng phổ cáo đại chúng, Đức Thế Tôn nằm nghiêng bên hữu (phải) trên giường thất bảo: Gối đầu phương Bắc, chân chỉ thẳng phương Nam, mặt hướng về phương Tây, lưng day qua phương Đông (Kinh Đại Bát Niết-bàn, phẩm 27).
    Như vậy, nằm nghiêng bên phải là một trong những đặc điểm quan trọng của tướng Niết-bàn. Do đó, tạc tượng Phật Niết-bàn nằm nghiêng về bên trái, thiết nghĩ không phù hợp với “Niết-bàn tướng” mà kinh luận Phật giáo đã đặc tả.
     
    Source: Kienthuc
     

    Read more »
  • Tượng Phật bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á

    Sáng 31/8, tại Nam Định diễn ra Lễ khánh thành Đại Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni và Đại hùng Bảo điện Trúc Lâm Thiên Trường.

    Đại Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni được đánh giá là pho tượng đồng nguyên khối lớn nhất Đông Nam Á hiện nay và có giá trị văn hóa, tâm linh lớn.

    Công trình Đại Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni có chiều cao tổng thể là 20,28m với trọng lượng 150 tấn.

     

     

     

    Read more »
  • NGƯỜI KHÉO BẮT CHUỘT SẼ

    NGƯỜI KHÉO BẮT CHUỘT SẼ

    KHÔNG LÀM VỞ CÁC CHÉN KIỂU QUÝ GIÁ TRONG NHÀ

    Nhân vụ mua bán trẻ em xảy ra ở Chùa Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội

    TT. Thích Nhật Từ

    Hỏi: Bạch Thày, thời gian gần đây có quá nhiều câu chuyện phiền não liên quan đến các nhà chùa, làm ảnh hưởng không tốt đến lòng tin của người dân nói chung và những Phật tử nói riêng với cửa chùa và các công việc thiện nguyện. Hơn lúc nào hết, con thấy những năm trở lại đây công tác từ thiện được mọi tầng lớp trong xã hội đặc biệt quan tâm và nhiệt huyết. Đáng lẽ ra những việc làm tốt đẹp này sẽ phải được “chắp cánh” để thêm nhân rộng, nhân sâu hơn trong cuộc sống nhưng những thông tin về nơi này nơi kia người ta mượn danh nhà chùa hoặc chính những cơ sở tôn giáo do quản lí lỏng lẻo, vô trách nhiệm (thậm chí có những nơi dung túng cho những hành động sai trái) đã làm cho niềm tin vào Phật giáo và công tác thiện nguyện bị thui chột. Con và bạn bè con – những người luôn mong muốn chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh, kém may mắn – những ngày qua vô cùng phiền não và thất vọng. Chúng con thực sự hoang mang và không biết có nên tiếp tục làm từ thiện nữa hay không? Hay chỉ đơn giản nhất, lành nhất là về giúp đỡ chính những người họ hàng ruột thịt hay những người bà con làng xóm của mình – nơi mình biết rõ thực hư ra sao? Chúng con rất mong sớm nhận được lời khuyên của Thày! Con xin cảm ơn Thày!

    (Hoàng Như Mai, Hà Nội)

     

    TT. THÍCH NHẬT TỪ TRẢ LỜI:

     

    Đọc những dòng tâm sự của chị về “Câu chuyện phiền não liên quan đến các nhà chùa”, dù chị không nói rõ chùa nào, tôi đoán là chị ám chỉ vụ “bảo mẫu Nguyễn Thị Thanh Trang (viết tắt là bảo mẫu Trang) lợi dụng quản lý lỏng lẻo của chùa Bồ Đề đã buôn bán trẻ em.” Thông cảm với các mối quan tâm của chị cũng như nhiều độc giả khác, tôi mong chị và quý độc giả nên lưu ý những vấn đề sau đây:

     

    1. Nhà dột có nơi

     

    Vụ bảo mẫu Trang lợi dụng lỏng lẻo về phương diện quản lý của chùa Bồ Đề đã buôn bán trẻ em, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh Phật giáo nói chung và hoạt động từ thiện Phật giáo nói riêng, thực chất chỉ là trường hợp cá biệt.

     

    Khái niệm “nhà dột có nơi” là hình ảnh chuẩn xác có thể sử dụng để mô tả về tình trạng buôn bán trẻ em tại một trung tâm từ thiện (dù là của nhà chùa hay nhà nước). “Cơn bảo tố” truyền thông, theo hướng tả thực có, theo cách lợi dụng câu view cũng có, đã lạc dẫn độc giả đến độ, nhiều độc giả, trong đó có chị và nhiều Phật tử lầm nhận rằng đây là hiện tượng phổ quát. Từ sự ngộ nhận ngữ cảnh do tác động lạc dẫn của giới truyền thông, nhiều người “thực sự hoang mang” rồi trở nên hoài nghi khi tự vấn “không biết có nên tiếp tục làm từ thiện nữa hay không?”

     

    Thái độ hoài nghi về các hoạt động từ bi, nhân ái và thiện nguyện… có khuynh hướng làm “thui chột” niềm tin cao cả của con người vào việc từ thiện là điều nên tránh. Dầu không thể phủ định trách nhiệm của người đứng đầu chùa Bồ Đề trong việc quản lý lỏng lẻo, dẫn đến sự việc đáng tiếc, các nhà báo và độc giả không nên lầm nhận khi cố tình viết rằng “Chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em”! Thực ra trong vụ việc này, bảo mẫu Trang buôn bán trẻ em ở trong Chùa Bồ Đề, chứ Chùa Bồ Đề không làm việc thất đức đó.

     

    “Cửa chùa” trong văn hóa Phật giáo Việt Nam còn được gọi là “cửa từ bi và trí tuệ.” Thực hiện mở cửa từ bi, Tăng Ni thường làm các công tác từ thiện, trong đó, cô nhi viện là một hoạt động thiện nguyện, nhằm giúp các mầm non bất hạnh nương cửa Phật từ bi để có một tương lai tươi sáng.

     

    Bổ sung cho “cửa từ bi,” chùa còn có “cửa trí tuệ” tượng trưng cho sự dẫn đường soi lối đúng đắn mà trong ứng dụng bao gồm tầm nhìn đúng, nhận thức đúng, phương pháp đúng, quản trị đúng, giáo dục đúng và định hướng nghề nghiệp đúng cho các thành phần bất hạnh. Đừng vì một hiện tượng cá biệt, do ảnh hưởng lây lan của giới truyền thông theo hướng thiên cực, lạc dẫn mà ta trở nên chai sạn trước nỗi khổ niềm đau của các thành phần cơ nhở và bất hạnh.

     

    Một người lái xe bị tai nạn giao thông làm cho thương tật, do không tuân thủ luật giao thông, không thể bị cường điệu thành tình trạng “hễ ai tham gia giao thông đều gây tai nạn hay đều trở thành nạn nhân giao thông”. Hàng ngày, do bất cẩn hoặc phạm luật giao thông, nhiều người chết hoặc bị thương vì tai nạn giao thông; không vì thế mà các con đường đều bị đóng, người tham gia giao thông đều bị cấm, hoặc các phương tiện giao thông không được tiếp tục lưu chuyển.

     

    Tương tự, sự cố bảo mẫu Trang bán trẻ em xảy ra ở chùa Bồ Đề là một sự cố, phạm tội hình sự, mà Luật pháp nghiêm minh cần nghiêm trị đúng người, đúng tội. Bảo mẫu Trang bị cáo buộc phạm tội bán trẻ em không nên hiểu đồng nghĩa rằng “chùa Bồ Đề bán trẻ em,” hay ngộ nhận tai hại hơn “các tu sĩ Phật giáo trong Chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em.”

     

    Dù sao, sự việc đau lòng nêu trên là bài học “kiếp nạn cho nhà chùa và ni sư Đàm Lan, trụ trì chùa Bồ Đề”. Người có lòng từ bi chẳng những không làm thui chột lòng nhân ái, mà còn tin tưởng sâu sắc vào các hoạt động từ thiện xã hội nói chung, từ thiện Phật giáo nói riêng, nhất là khi các công tác thiện nguyện này được làm với tâm từ bi và trí tuệ.

     

    Đừng bỏ lở cơ hội và hãy tiếp tục làm việc thiện, góp phần làm vơi đi nỗi khổ niềm đau của những người kém may mắn. Nhịp cầu nhân ái này làm cho tình người được tỏa sáng, cuộc sống này trở nên hiền thiện và yêu thương nhau.

     

    2. Chùa Bồ Đề “không buôn bán” trẻ em

     

    Bên cạnh những nhà sư và sư cô thực hành lòng từ bi và nhân ái qua các hoạt động từ thiện như thành lập Tuệ Tĩnh đường, dưỡng lão viện, cô nhi viện… trong xã hội Việt Nam, có hàng triệu tấm lòng sẵn sàng góp bàn tay tình thương nhằm “chắp cánh” các hoạt động thiện nguyện chứa đựng các giá trị nhân văn cao quý.

     

    Theo Phật giáo, việc làm thiện cho đời cần được nhân rộng bằng thái độ vô ngã và tâm vị tha, thông cảm nỗi khổ niềm đau của tha nhân như chính vấn nạn bản thân. Các hoạt động từ thiện và nghĩa cử cao thượng đó ít được giới truyền thông giới thiệu, quảng bá. Ngược lại, các thông tin xấu lại được chắp cánh bay xa. Mặt trái của truyền thông theo hướng này là điều thật đáng buồn. Cũng có một số nhà báo lợi dụng vào quyền lực của truyền thông đưa một vài “cái xấu cá biệt” lên ngôi “thượng đế”. Thay vì tán dương cái thiện để cái thiện được xã hội hóa, kẻ làm truyền thông thiếu đạo đức nghề nghiệp thường đánh tráo các khái niệm, chủ ngữ và vị ngữ dẫn đến các ngộ nhận và lạc dẫn một cách đáng tiếc.

     

    Trong trường hợp mua bán trẻ em xảy ra ở Chùa Bồ Đề, thay vì thông tin rằng “bảo mẫu Trang bán trẻ em ở chùa Bồ Đề” (bảo mẫu Trang là thủ phạm tội ác), thì một số nhà báo và trang mạng cố tình ghi sai chủ ngữ “chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em” (ngụ ý thủ phạm là Chùa Bồ Đề, tức Phật giáo) là một hành động ác ý, có sức mạnh “châm dầu vào lửa” lên chùa Bồ Đề nói riêng và Phật giáo nói chung.

     

    Tiêu biểu cho nhóm truyền thông lạc dẫn nêu trên có thể kể bao gồm tinmoi.vn (vụ chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em), kenh14.vn (buôn bán trẻ em chùa Bồ Đề), vietnamnet.vn (đường dây mua bán trẻ em qua chùa Bồ Đề), vietbao.vn (sự thật khủng khiếp về chùa Bồ Đề: “kênh” trung gian mua bán con nuôi), dantri.com.vn (Chùa Bồ Đề sau vụ bán trẻ sơ sinh), doisongphapluat.com (vụ mua bán trẻ chùa Bồ Đề), megafun.vn (thực hư tin đồn chùa Bồ Đề mua bán trẻ em bị bỏ rơi), hoặc facebook của cộng đồng nuôi con (thông tin chùa Bồ Đề buôn bán, bỏ rơi trẻ em), và kienthuc.net.vn (tóm gọn bằng chứng sống chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em), v.v… Quý độc giả đừng để mình bị lạc dẫn bởi cách tráo đổi chủ ngữ lắt léo của các nhà báo và các trang mạng xã hội, mà kết tội oan trái cho Chùa Bồ Đề ở ngữ cảnh cụ thể và từ thiện Phật giáo ở ngữ cảnh lớn hơn.

     

    Các trang mạng xã hội nêu trên đã lắt léo thay đổi chủ ngữ “bảo mẫu Trang” thành “chùa Bồ Đề” buôn bán trẻ em. Xin lưu ý, chùa Bồ Đề không buôn bán trẻ. Ni sư Đàm Lan không buôn bán trẻ em. Ni sư Đàm Lan được giới chức hữu quan và nhóm thanh tra kết luận không liên quan gì đến vụ mua bán trẻ em. Ni sư Đàm Lan và chùa Bồ Đề cũng như các cháu thiếu nhi là nạn nhân của vụ múa trẻ em của bảo mẫu Trang. Xin các anh chị nhà báo của các trang mạng nêu trên đừng giả vờ lẫn lộn chủ ngữ, vì sự lẫn lộn của các quý vị có thể dẫn đến hậu quả “phá nát” hoạt động thiện nguyện chùa Bồ Đề, vốn tồi tệ không thua kém gì việc mua bán trẻ em ở chùa Bồ Đề. “Phá nát” ở đây được hiểu theo nghĩa nhiều nhà thiện nguyện đánh mất niềm tin vĩnh viễn vào Chùa Bồ Đề nói riêng và vào từ thiện Phật giáo nói chung.

     

    Tôi không tin rằng các nhà báo thuộc các trang mạng nêu trên thiếu kiến thức về ngôi thứ nhất làm chủ ngữ cho hành động “buôn bán trẻ em” ở ngữ cảnh này là bảo mẫu Trang. Cố tình đánh tráo chủ ngữ trong ngữ cảnh này, từ “bảo mẫu Trang” thành “Chùa Bồ Đề” đã làm làm cho quần chúng đánh mất niềm tin vào việc từ thiện của Phật giáo. Dù là vô tình viết sai chủ ngữ hay cố tình ác ý thì hậu quả nghiêm trọng là các nhà báo này đã làm cho cái thiện tại chùa Bồ Đề nói riêng và từ thiện Phật giáo nói chung bị “đứt cánh”, ít nhất không thể bay được trong một vài năm tới, do sự ngộ nhận và làm mất niềm tin của quần chúng.

     

    Thế mới biết, đạo đức trong truyền thông nên trở thành “cán cân lương tâm” của những người tham gia vào lĩnh vực thuộc “quyền lực thứ ba” này. Như người xưa từng nói “nhất ngôn khả dĩ hưng bang, nhất ngôn khả dĩ táng bang”, một ngộ nhận trong truyền thông, dù do sơ suất hay cố tình, có thể tạo ra các bất ổn xã hội lâu dài và rộng lớn. Đây là điều người làm truyền thông không nên quên.

     

    3. Trách nhiệm thuộc về ai?

     

    Câu hỏi “trách nhiệm thuộc về ai?” không chỉ có chức năng truy tìm nguyên nhân, mà còn có tác dụng tìm kiếm giải pháp. Đỗ lỗi cho nhau không phải là giải pháp. Do đó, tìm nguyên nhân và giải pháp cho câu chuyện buồn ở Chùa Bồ Đề góp phần chấn chỉnh hoạt động của các trung tâm mồ côi của nhà nước và thiện nguyện trên toàn quốc. Về vấn đề này, ta thấy trách nhiệm của Phật giáo được thể hiện như sau.

     

    Vào ngày 7/8 TT. Thích Đức Thiện, Phó tổng thư ký GHPGVN cho biết Văn phòng 1 GHPGVN đã cử đoàn công tác đến Chùa Bồ Đề làm việc với Ni sư Trụ trì Thích Đàm Lam, đồng thời yêu cầu Ni sư Trụ trì cần tuân thủ quy định của pháp luật về việc nhận nuôi và quản lý trẻ em mồ côi, để hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo không bị ảnh hưởng tiêu cực, tiếp tục tỏa sáng như nó đã từng trong thời gian qua.

     

    Cùng ngày, TT. Thích Tiến Đạt, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Pháp chế GHPGVN khẳng định với báo giới rằng “quan điểm của GHPGVN là đề nghị các cơ quan chức năng sớm điều tra, làm rõ và có kết luận rõ ràng về việc này, trên cơ sở đó, ai sai đến đâu thì xử lý đến đó.” Nói cách khác, lãnh đạo Phật giáo không bao che, đồng thời thể hiện tinh thần trách nhiệm và sự tôn trọng luật pháp.

     

    Theo BBC Việt ngữ, Ni sư Đàm Lan chính là người đệ đơn yêu cầu các cơ quan chức năng nhập cuộc điều tra, làm rõ trắng đen các cáo buộc “Chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em” của một số nhà báo thiếu thiện chí. Điều này cho thấy Ni sư Đàm Lan sẵn sàng chịu trách nhiệm pháp lý về sự quản lý lỏng lẻo của mình.

     

    Trong quan hệ tương quan, vụ mua bán trẻ em xảy ra ở Chùa Bồ Đề không thể quy toàn bộ trách nhiệm vào Ni sư Đàm Lan, Trụ trì Chùa Bồ Đề, mặc dù Ni sư Đàm Lan là người phải chịu trách nhiệm chính và trực tiếp. Ở đây, phải nói rằng cũng có sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan nhà nước về các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em một cách thiện nguyện. Đây là bài học quản lý nhà nước về công tác quản lý các cô nhi viện. Đề cập đến trách nhiệm liên quan, chúng ta không thể đổ lỗi toàn bộ vụ việc lên Chùa Bồ Đề, mà không làm rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương và các ban ngành liên quan khác.

     

    Các cấp chính quyền cần quan tâm, giám sát và hỗ trợ tốt hơn cho các trung tâm thiện nguyện làm tốt lòng từ bi của mình. Bất cứ trung tâm từ thiện nào (chứ không nhất thiết ở chùa Bồ Đề), khi công tác quản lý, kiểm tra, giám sát không đến nơi đến chốn, đều có thể xảy ra những vụ việc buôn bán trẻ em như nhau.

     

    Về phía các Trung tâm từ thiện, khi nhận trẻ mồ côi vào Trung tâm, ban giám đốc Trung tâm phải trình báo chính quyền địa phương. Trung tâm nuôi trẻ mồ côi có trách nhiệm lập hồ sơ, đăng ký khai sinh cho các cháu với chính quyền, giám sát các bảo mẫu, đảm bảo chế độ dinh dưỡng, quyền được chăm sóc, được đến trường học, không bị ngược đãi, không bị xâm hại, không bị lợi dụng mua bán trục lợi... Khi cho ai làm con nuôi phải làm các thủ tục theo quy định của luật pháp, để tránh các đối tượng xấu lợi dụng sơ hở trong quản lý, buôn bán trẻ em. Do kém quản lý của nhà chùa, bảo mẫu Trang và một số nhà báo đánh lận con đen đã tạo ra biết bao nỗi hàm oan cho Ni sư Đàm Lan, Chùa Bồ Đề và Phật giáo.

     

    Một trách nhiệm đạo đức và xã hội khác cũng cần nêu ra ở đây. Khi ca tụng các nhà báo và phóng viên chân chính biết soi sáng ngòi bút và ý tưởng của mình bằng đạo đức nghề nghiệp, truyền thông cái đúng và có giá trị, chúng ta không nên dung túng những kẻ lợi dụng sức mạnh truyền thông, lắt léo bẻ cong ngòi bút, cố tình tráo đổi chủ ngữ (theo kiểu “Chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em,” mà thực chất là “chỉ có bảo mẫu Trang buôn bán trẻ em” xảy ở Chùa Bồ Đề) dẫn đến nhiều nỗi hàm oan và thiệt hại cho các nạn nhân mà trong câu chuyện “bảo mẫu Trang bán trẻ em ở chùa Bồ Đề”, nạn nhân của truyền thông ở đây chính là Chùa Bồ Đề và đạo Phật.

     

    Khi lên án cái xấu và sự phạm pháp, đòi hỏi xử lý nghiêm minh những người vi phạm đúng người đúng tội, giới truyền thông cũng không nên thiếu trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp, để tuyệt đối không làm ảnh hưởng tiêu cực đến truyền thống từ bi và nhân văn tốt đẹp của các cơ sở từ thiện nói chung và của từ thiện Phật giáo nói riêng, chỉ vì một vài cá nhân xấu trục lợi, đánh mất lương tâm.

     

    “Người khéo bắt chuột sẽ không làm vở các chén kiểu quý giá trong nhà” là điều mà người làm công tác truyền thông nên lưu tâm!

    Source: TVNHS/USA

     


     

    Read more »
  • Thần Chú Mật Tông.

    THẦN CHÚ HOÀ BÌNH

    Nam mô Tam Mãn Đa, Một Đà Nẩm, A Bát Ra Đế, Yết Đa Chiết, Chiết Nại Di, Án Kê Di, kế Di, dát tháp các tháp Nẩm, Mạt ngoã sơn đính, Bát ra đế, Ô Đát Ma Đát ma dát tháp, cát tháp nẩm mạt ngoã hồng phấn toá ha ( 21 lần).

    *Niệm nhiều phúc báu nhiều thì mau được thanh bình
    *Bài chú này có oai lực hàng ma, trừ tai nạn.
    *Nếu ta chú tâm tụng chú này ma quân khi nghe được rất kinh sợ, sẽ mất lòng chiến đấu giáo gươm rơi rớt.
    *Nếu đi sông biển tụng chú này được chư thần ủng hộ, đi đến nơi về đến chốn.
    *Binh sĩ tụng chú này, lúc lâm trận sẽ không bao giờ chết oan.
    *Nếu con nít khóc lóc cả đêm, tụng chú này trong nước thuốc, cho uống thì hết khóc.

    CHÚ HÀNG MA

    Ma Lệ, tỳ ma lệ, niết Ma Lệ, mông già lệ, hê ma la nhả kiệp bệ, tam mạn na, Bạt đề lệ, ta bà la dà, ta đàn ni Ba la ma tha ta đàn ni, ma na tư, a chuyết đề, tỳ la kỳ, am ma lại, đàn bà táp ma, tá lệ phú la nê, phú la na, ma nô lại đệ.
    *Đà La Ni này có thể chuyển thân nữ.

    *Tự biết túc mạng đời trước của mình.

    *Nếu thọ trì 5 điều: Phạm hạnh, không ăn cá thịt, không uống rượu, không ác tâm, thích ở vắng lặng. Rồi chí tâm tín thọ, đọc tụng, biên chép Đà La Ni này người ấy sẽ thoát khỏi 77 ức thân tệ ác
    Hàng phục các chúng ma quân

    BÀI CHÚ MA VƯƠNG CÚNG PHẬT

    Sá chỉ, trá trá la. Sá chỉ lô ha lệ, ma ha, lô Ha lệ, a lá, giá ra đa la toá ha. Bài Chú này có thể làm cho người điên cuồng, người kinh sợ, người thuyết pháp, người chẳng dứt Chánh Pháp điều được yên ổn.

    Nếu người nào thọ trì chú này mỗi ngày 100 biến, thì không còn sợ voi dữ làm hại; hoặc đi đến rừng hoang, đầm trống, những nơi nguy hiểm chẳng kinh sợ. Cũng không gập những sự tai hại nạn nước, lửa, đao binh, cọp, sói quân ác

    Thần chú của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (SAKYAMUNI Buddha):

    TAYATA: OM MUNI MUNI MAHA MUNIYE SOAHA.

    Câu chú này có khả năng tiêu diệt tội chướng.

    Hành giả khi trì tụng thì nếu có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong lúc trì tụng nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng.

    2.Thần chú của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na (MAHAVAIROCANA Buddha):

    OM AVIRA HUM KHAM VAJRA DHATU VAM

    OM NAMO BHAGAVATE SARVA DURGATE VAR SUDHANA ADZAYA TATHAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA TADYATHA OM SHUDHANE SHUDHANA SARVA PAPAM BOUSHUDHANE SHOUDE BOUSHUDE SARVA GHARMAVARANA BASHUDHANAYE SVAHA

    Câu chú của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na có khả năng giúp khiến các hương linh, súc sanh, ngã quỷ, chúng sanh trong địa ngục để giúp các chúng sanh đó được thoát kiếp và được i sanh trong các cảnh giới lành.

    Khi trì tụng thì hành giả phải phát tâm từ bi nhất tâm cầu nguyện cho các lchu1ng sanh đó được thoát khỏi kiếp khổ để đợc tái sanh trong các cảnh giới lành.

    1) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí chó các loài súc sanh và ngã quỷ.

    2) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất v.v để rải trên hòm hay mồ mả của người chết.

    3) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chổ có nước như là ao hồ để giúp đỡ cho loài chúng sanh ở trong nước khi chết rồi được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.

    3.Thần chú của Đức Phật A DI ĐÀ (AMITABHA Buddha):

    OM AMITABHA HRI

    Câu chú này có khả năng tiêu tội chướng, trì tụng câu chú này cũng giống như là niệm Nam Mô A Di Đà Phật.

    Hành giả khi trì tụng thì nếu có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật A Di Đà trong lúc trì tụng nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng và hành giả phải phát nguện cầu vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.

    Hành giả phải luôn luôn trì tụng nếu muốn được vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.

    Hành giả có thể tụng chú này để cầu siêu cho người chết được vãng sanh về cõi Tịnh Độ của Đức Phật A Di Đà.

    4.Thần chú của Đức Phật Vô Lượng Thọ (AMITAYUS Buddha);

    OM NAMO BHAGAVATE APARIMITA AYUR JNYANA SUVINI CITTA TETSO RADZAYA TATHAGATAYA ARAHATE SAMYAK SAMBUDDHAYA TADHYATA OM PUNYE PUNYE MAHAPUNYE APARAMITA PUNNYE APARAMITA JNANA SOMBHARO PATSITE OM SARVA SAMSKARA PARISHUDDHA DHARMATE GAGANA SAMUDGATE SVABHAVA VISHUDDHE MAHANAYA PARIVARE SOHA.

    OM AMARANI JIWANTIYE SVAHA

    Hai câu chú trên dùng để cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.
    Khi trì tụng thì hành giả phải nhất tâm. Hành giả phải tụng càng nhiều càng tốt.

    5.Thần chú của Đức Phật Bất Động (ASHOBYA Buddha);

    NAMO RATNA TRAYAYA OM KHAM KHANI KHAM KANI ROTSANI ROTSANI TOTANI TOTANI TRASANI TRASANI PRATIHANA PRATIHANA SARWA KARMA PARAMPARA MINAY SARWA SATO NAYTSA SOHA

    Câu chú này dùng để bố thí cho nước và thức ăn cho súc sanh và chúng ngã quỷ. Các loại súc sanh và chúng ngã quỷ sau khi thọ nhận thức ăn và nước uống thì sau khi chết sẽ được tái sanh trong các cảnh giới lành.

    Hành giả phải nhất tâm trì tụng ít nhất là 7 lần rồi thổi vào trong nước và thức ăn để bố thí cho súc sanh và chúng ngã quỷ.

    6.Thần chú của Đức Phật Dược Sư Lưu Ly Quang (BHAISAJYAGURU VAIDURYAPRABHARAJA Buddha):

    TAYATA: OM BEKANDZE BEKANDZE MAHABEKANDZE RANDZA SAMUDGATE SOHA

    Câu chú này có nhiều công năng:

    1) Sám hối tội chướng và giải nghiệp.

    2) Cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.

    3) Dùng để bố thí cho nước và thức ăn cho súc sanh và chúng ngã quỷ. Các loại súc sanh và chúng ngã quỷ sau khi thọ nhận thức ăn và nước uống thì sau khi chết sẽ được tái sanh trong các cảnh giới lành.

    4) Cầu giải oan kết đời trước, phá các thứ tà ma, bùa chú trấn yểm của các loài quỷ thần, tinh mỵ.

    Khi trì tụng thì hành giả phải nhất tâm. Hành giả phải tụng càng nhiều càng tốt.

    7.Thần chú của Đức Phật Kim Cang (VAJRASATTVA Buddha):

    OM VAJRASATTVA SAMAYA MANUPALAYA VAJRASATTVA DENOPA TITHA DIDO ME BHAVA SUTO KAYO ME BHAVA SUPO KAYO ME BHAVA ANURAKTO ME BHAVA SARVA SIDDHI ME PRAYATSA SARVA KARMA SU ZAME CHITTAM SHRIYAM KURU HUM HA HA HA HA HO BHAGAVAN SARVA TATHAGATA VAJRA MAME MUNZA VAJRA BHAVA MAHA SAMAYA SATTVA AH HUM PHET

    *Câu chú này có nhiều công năng:

    1) Sám hối tội chướng và giải nghiệp.

    2) Cầu giả oan kết đời trước.

    Hành giả khi trì tụng thì nếu ở có thể thì nên nhất tâm quán tưởng Đức Phật Kim Cang trong lúc trì tụng nếu không thể quán tưởng thì phải nhất tâm trì tụng. Hành giả phải nhất tâm trì tụng càng nhiều càng tốt.

    8.Thần chú của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (MANJUSHRI Bodhisattva):

    OM AH RA PA TSA NA DHIH

    Câu chú này dùng để phát sanh trí tuệ.

    9.Thần chú của Bồ Tát Đại Thế Chí (MAHASTHAMAPRAPTA Bodhisattva):

    ( VAJRAPANI Bodhisattva tên của Ngài Đại Thế Chí theo Mật Tông)

    OM VAJRAPANI HUM.

    Câu chú này dùng để hàng phục các thứ tà ma, quỷ quái.

    10.Thần chú của Bồ Tát Quán Thế Âm Chuẩn Đề (AVAKOKITESVARA CUNDI Bodhisattva):

    NAMO SAPTANAM SAMYAKSAMBUDDHA KOTINAM, TADYATHA: OM CALE CULE CUNDI SOHA

    Câu chú này dùng để hàng phục các thứ tà ma, quỷ quái, và mãn các sở nguyện

    11.Thần chú của Bồ Tát Hư Không Tạng (AKASAGARBHA Bodhisattva):

    AKASAGARBHAYA OM ARYA KAMARI MAULI SOHA.

    12.Thần chú của Bồ Tát Di Lặc (MAITREYA Bodhisattva):

    NAMO RATNA TRAYAYA NAMO BHAGAVATE SHAKYAMUNIYE TATHAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA. TADYATHA : OM AJITE AJITE APARAJITE AJITAÑCHAYA HA RA HA RA MAITRI AVALOKITE KARA KARA MAHA SAMAYA SIDDHI BHARA BHARA MAHA BODHI MANDA BIJA SMARA SMARA AHSMA KAM SAMAYA BODHI BODHI MAHA BODHI SOHA.

    Câu chú này có công năng giúp hành giả được tái sanh về cõi trời Đâu Xuất để gặp Đức Bồ Tát Di Lặc.

    13.Thần chú của Bồ Tát Phổ Hiền (SAMANTABHADRA Bodhisattva):

    ADANDE DANDA PATI DANDA VARTE DANDA KUSHALE DANDA SUDHARE SUDHARE SUDHA RAPATI BUDDHA PASHYANE SARVA DHARANI AVARTANI SARVAN DHASHYA VARTANI SU AVARTANI SAMGHA PARIKSHANI SAMGHA NARGHATANI ASAMGE SAMGA PAGATE TRI ADHVASAMGATULYA ARATE PRAPTY SAVA SAMGASAMA TIKRANTE SARVADHARMA SUPARIKE SARVASATTVA RUTA KAUSHALY ANUGATE SIMHAVIKRIDITE

    Câu chú này để giúp hành giả không bị các thứ chướng ngại trên sự tu tập. Hành giả phải nhất tâm trì tụng càng nhiều càng tốt.

    14.Thần chú của Bồ Tát Dược Vương (BHAISAJYA RADJA Bodisattva):

    ANYE MANYE MANE MAMANE CHITTE HARITE SHAME SHAMITAVI SHANTE MUKTE MUKTATAME SAME AVASHAME SAMA SAME KSHAYE AKSHAYE AKSHINE SHANTE SHAME DHARANI ALOKABHASHE PRATYAVEKSHANI NIVSHTE ABHYANTARANI VISHTE ATYANTAPARI SHUDDHI UKKULE MUKKULE ARADE PARADE SHUKAKASHI ASAMASAME BUDDHAVILOKITE DHARMAPARIKE SAMGHANIR GHOSHANI BHAYABHAYA SHODHANI MANTRE MANTRAK SHAYATE RUTE RUTA KAUSHALYE AKSHAYE AKSHAYAVA NATAYA ABALO AMANYA NATAYA.

    Câu chú trên dùng để cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.
    Hành giả phải nhất tâm trì tụng. Hành giả phải tụng càng nhiều càng tốt.

    15.Thần chú của Bồ Tát Địa Tạng (KSITIGARBHA Bodhisattva):

    NAMO RATNA TRAYAYA NAMO ARYA KSITIGARBHA BODHISATTVAYA MAHASATTVAYA TADYATH KSAM BHU KSAM BHU KSUD KSAM BHU AKASA KSAM BHU VAKRA KSAM BHU AMBARA KSAM BHU VIRA KSAM BHU VAJRA KSAM BHU ALOKA KSAM BHU DAMA KSAM BHU SATYAMA KSAM BHU SATYA NIRHARA KSAM BHU VYAVALOKA KSAN VA KSAM BHU UPASAMA KSAM BHU NAYANA KSAM BHU PRAJNA SAMBHUTI RANA KSAM BHU KSANA KSAM BHU VISILYA KSAM BHU SASTRAVAT KSAM BHU VYADA SU TAL MAHILE DAHILE DAME SAME CAKRASE CAKRA MASILE KSILE BHIRE HIRE GRAH SAMVARA VRATE HIRE PRABHE PRACALA VARTANE RATNA PALE CHA CHA CHA CHA HIRE MILE EKARTHA THA KHE THAKKURO THALE THALE MILE MATHE TADE KULE KU MILE SAMIRE ANGO CITTAVI ARI GIRI PRA-GIRI KUTTA SAMALE TUNGE TUNGE TUNGOLLE HURU HURU HURU KURU STU MILE MILITE SAM-M1LITALE BHANDANA HARA H1RE HURU HU RU RU BHAVA RAJA

    Câu chú này dùng để giúp cho các vong linh, chúng sanh trong súc sanh, ngã quỷ, địa ngục được siêu thoát và tái sanh trong các cảnh lành.

    16.Thần chú của Bồ Tát Quán Thế Âm (AVALOKITESVARA BODISATTVA):

    A) NAMO RATNA TRAYATA NAMO ARYA JANA SAGARA BEROTSANA BUHA RADZAYA TATAGATAYA ARHATE SAMYAKSAM BUDDHAYA NAMO SARWA TATAGATEBHYE ARHATEBYE SAMYAKSAM BUDDHEBHYE NAMO ARYA AWALOKITE SHORAYA / BODHI SATOYA MAHA SATOYA MAHA ARUNIKAYA TAYATA/OM DARA DARA DIRI DIRI DURU DURU ITTE WATE TSALE TSALE PARTSALE PARTSALE KUSUME KUSUME WARE IHLI MILI TSITI DZOLA AHPANAYE SOHA.

    B) OM MANI PADME HUM.

    C) Thần chú của Bồ Tát Quán Thế Âm dùng để thí nước cho ngã quỉ:

    OM JNANA AVALOKITE SAMANTA PARANA RAMI BAWA SAMAYA MAHA MANI DURU DURU HRIH DAYA JALANI SOHA.

    *Các câu chú này có nhiều công năng:

    1) Sám hối tội chướng và giải nghiệp.

    2) Cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.

    3) Dùng để bố thí cho nước và thức ăn cho súc sanh và chúng ngã quỷ. Các loại súc sanh và chúng ngã quỷ sau khi thọ nhận thức ăn và nước uống thì sau khi chết sẽ được tái sanh trong các cảnh giới lành.

    4) Cầu giải oan kết đời trước, phá các thứ tà ma, bùa chú trấn yểm của các loài quỷ thần, tinh mỵ.

    5) Cầu cho các vong linh, chúng sanh trong súc sanh, ngã quỷ, địa ngục được siêu thoát và tái sanh trong các cảnh lành.

    *Cách thức thực hiện:

    1) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí cho các loài súc sanh và ngã quỷ.

    2) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất, bông hoa v.v để rải trên hòm hay trên mồ mả của người chết.

    3) Hành giả phải tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chổ có nước như là ao hồ, sông suối v.v để giúp đỡ cho loài chúng sanh ở trong nước khi chết rồi được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.

    17.Thần Chú Phật Đảnh Tôn Thắng (USHNISHAVIJAYA Buddha);

    OM NAMO BHAGAWATE / SARWA TAYLOKYA PARTI BISHIK TAYA/ BUDDHA YATAY NAMA / TAYATHA OM DRUM DRUM DRUM SHODAYA SHODAYA BISHODAYA BISHODAYA AHSAMA SAMENTA / AWABHASA PRANAGATI GAGANA SABAWA BISHUDAY / ABIKINTSEN TUMAM / SARWA TATHAGATA SUGATA BARABATSANA AMRITA AHBIKAYKARA MAHAMUDRA MENTRA PADAY / AHARA AHARA MAMA AHYU SAM DARANI / SHODAYA SHODAYA BISHODAYA BISHODAYA GAGANA SOBAWA BISHUDAY / UNIKA VIJAYA PARISHUDAY SAHASA / REMI SENTSO DITAY / SARWA TATHAGATA AHWALOKINI KATHA PARAMITA PARIPURANI / SARWA TATHAGATA MATAY DASHA BUMI PARTI TITAY / SARWA TATHAGATA HRIDAYA AHDITANA AHDITITAY / MUDRAY MUDRAY MAHA MUDRAY BENDZA KAYA SAMHATANA PARISHUDAY / SARWA KARMA AHWARANA BISHUDAY PARTINIWARTAYA MAMA AHYUR BISHUDAY / SARWA TATHAGATA SAMAYA AHDITANA AHDITITAY / OM MUNI MUNI MAHA MUNI / BIMUNI BIMUNI MAHA BIMUNI/ MATI MATI MAHA MATI / MAMATI SUMATI TATATA / BATAKOTI PARISHUDAY / BIPUTA BUDI SHUDAY / HAY HAY DZAYA DZAYA BIDZAYA BIDZAYA / MARA MARA PARA PARA PARAYA PARAYA SARWA BUDDHA AHDITANA AHDITITAY / SHUDAY SHUDAY BUDDAY BUDDAY BENDZAY BENDZAY MAHA BENDZAY / SUBENDZAY BENDZA GARBA DZAYA GARBAY BIDZAYA GARBAY / BENDZA DZOLA GARBAY / BENDZOEBAWAY BENDZA SAMBHAWAY / BENDZA BENDZERNI / BENDZA MABAWATU MAMA SHARIRAM / SARWA SATO NENTSA KAYA PARI SHUDIR BAWATU / ME SADA SARWA GATI PARISHUDI TSA / SARWA TATHAGATA TSA / MAM SAMA SHASAYENTU / BUDDHAYA BUDDHAYA SIDDHAYA SIDDHAYA BODAYA BODAYA BIBODAYA BIBODAYA / MOTSAYA MOTSAYA BIMOTSAYA BIMOTSAYA / SHODAYA SHODAYA BISHODAYA BISHODAYA / SAMENTANA MOTSAYA MOTSAYA / SAMENTA RAMIPARI SHUDAY / SARWA TATHAGATA HRIDAYA AHDITANA AHDITITAY / MUDAY MUDAY MAHA MUDAY / MAHAMUDRA MENTA PADAY SOHA.

    1) Câu chú này có khả năng giúp các hương linh, súc sanh, ngã quỷ, chúng sanh trong địa ngục được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.

    2) Câu chú này còn có công năng sám hối và dứt trừ nghiệp chướng.

    1) Hành giả tụng chú ít nhất là 7 lần vào trong thức ăn, nước uống để cúng thí cho các loài súc sanh và ngã quỷ.

    2) Hành giả tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào cát, đất v.v để rải trên hòm hay mồ mả của người chết.

    3) Hành giả tụng chú ít nhất là 7 lần rồi thổi vào những chổ có nước như là ao hồ để giúp đỡ cho loài chúng sanh ở trong nước khi chết rồi được thoát kiếp và tái sanh trong các cảnh giới lành.

    18.Thần chú trong Bát Nhã Tâm Kinh (Maha Prajna Paramita Hridaya);

    TAYATA: OM GATE GATE PARAGATE PARASAMGATE BODHI SOHA.

    Công năng của câu chú này giúp phát triển trí tuệ, Hành giả trì tụng càng nhiều càng tốt.

    CỬU HUYỀN TINH TẤN BỐ THÍ CÔNG LỰC

    OM RA RÍT MA NÁ CHẮC CA RA CHẮC CA RA HÙM ( 3 lần ).

    ĐUỔI MA NGỦ

    Phù lụ tu, a tra ni tri phù lu tu, hầu hầu hầu hầu nã phù lu tu, tô ma tê phù lu tu, hô hô hô hô tra, phù lu tu soá ha ( 108 lần )

    ( Đây là bài Chú Đuổi Ma Ngủ, chúng nó không cho bạn tu tập, bất kì khi bạn cầm đến quyển kinh hay đọc chú, chúng ám làm cho chúng ta không tỉnh táo chỉ có ngủ thôi, chúng muốn nhập tâm thể và chiếm lấy thân xác không cho chúng ta tu tập gì hết. Lúc này, bạn cần nên trì bài chú này thì sẽ giải quyết vấn đề mà bạn đang gặp phải. Nguyên do bài chú này, là do Thượng Toạ trụ trì Linh Quang Tịnh Xá, Q4, TP. HCM truyền lại cho chúng đệ tử thân cận để dễ bề tu tập .)

    6.THẦN CHÚ CHENREZIG ( QUÁN TỰ TẠI )

    OM MANI PADME HUM

    Thần Chú này dùng để phát triển lòng Từ và Bi.

    7.LỤC ĐỘ MẪU TARA CĂN BẢN CHÚ

    *Phạn Ngữ: OM TARE TUTTARE TURE SVAHA.

    *Phạn âm: Om Ta Rê Tút Ta Rê Tô Rê Soa Ha.

    *Hán Việt: Úm Đá Lị Đốt Đa Lị Đô Lị Sa Ha.

    Thần Chú này ngăn ngừa sự sợ hãi và nguy hiểm, được xem là một chơn ngôn thành tựu nhiều thần thông và là một chơn ngôn thành công chắc chắn.

    8.THẦN CHÚ VAJRASATTVA ( Kim Cang Tát Đoả ):

    OM VAJRASATTVA HUM.

    Thần Chú này dùng để tịnh hoá.

    9.THẦN CHÚ TRƯỜNG THỌ

    OM AMARANI JIWENTIYE SVAHA.

    Thần Chú này trì niệm để cầu mong sự trường thọ.

    10.THẦN CHÚ SANGYE MENLA ( Dược Sư ):

    TEYATA OM BENKANZE BEKANZE MAHA BAKANZE RAJA SAMUNGATE SVAHA.

    Thần Chú này dùng để ngăn ngừa bệnh tật.

    11.THẦN CHÚ MANJUSHRI ( Văn Thù )

    OM ARA PA CHA NA DHI DHI DHI DHI DHI.

    Thần Chú này dùng để phát triền sự thấu hiểu thông thường và tâm linh.
    Read more »
RSS