Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

Latest Articles


  • Phát Bồ Đề Tâm

    LÒNG VỊ THA CỦA BỒ TÁT
    Chân Hiền Tâm

    Tôi có chồng và con, nhưng không hề biết gì về thế giới của trẻ thơ cho đến khi tôi có đứa cháu đầu lòng. Tôi mặc con vì phải cùng chồng bươn chải kiếm tiền và mọi thứ đều giao cho mẹ. Giờ tôi là mẹ, con gái cũng phải bươn chải kiếm tiền, vết xe cũ lần nữa lại tiếp diễn.

    Con nít vô tư và rất hồn nhiên. Sống trong thế giới của chúng, tôi không phải suy nghĩ nhiều về cách phải hành xử sao cho phù hợp với phong tục tập quán của từng người hay từng tập thể để tạo nên sự hòa hợp. Chúng không hề đòi hỏi tôi điều đó. Cũng không có thái độ khó chịu khi tôi sống theo cách của tôi. Trong thế giới của chúng, tôi có thế sống theo cách mà tôi muốn nhưng không hề làm chúng bận lòng hay khó chịu. 

    Đương nhiên, tôi cũng phải bỏ ra một chút gì đó của mình để chúng vui. Dù vậy, chúng cũng chỉ là chúng sinh. Chưa bị ngã kiến phân biệt hiện tại chi phối nhưng phần câu sanh tập khí thì không tránh khỏi. Câu sanh tập khí, là những gì đã huân tập thành nếp, được lưu giữ trong tạng thức, giờ sinh ra không cần ai dạy cũng đầy đủ.

    Đa phần trẻ hiện nay đều vướng vào cái gọi là vị kỷ. Nó được thể hiện đơn giản qua mấy từ “của tôi”. Chúng có thể giành giựt những gì trẻ khác đang có, nhưng những gì mà chúng đã quan tâm thì vật đó trở thành sở hữu của chúng. Không ai có thể đụng đến những thứ mà chúng đã nghĩ là của chúng. Có những tật thuộc câu sanh tập khí, cha mẹ hiện đời đang tìm cách dạy bảo. Có những tật do chính cha mẹ hiện đời tạo điều kiện để tật ấy được phát triển mạnh hơn. Đó không phải là việc tốt cho tương lai của một đất nước.

    Tính vị kỷ chỉ biến chủ nhân của nó trở thành những kẻ bị cô lập và đau khổ trong tương lai, còn xã hội thì trở nên đình trệ vì những con người chỉ biết đến riêng mình. Có lẽ vì thế, không phải chỉ có đạo Phật mới nói đến lòng vị tha mà ngay cả sách báo mang tính giáo dục, đắc nhân tâm v.v… cũng đề cập đến lòng vị tha. 

    Với cái thấy của nhiều người, vị tha của Phật giáo không mang tính thiết thực như các hội từ thiện, bảo trợ v.v… (Đó là cái khoản mà Tăng Ni chưa tham gia các hoạt động xã hội như cứu trợ v.v… chỉ tập trung cho vấn đề công phu tu hành và giảng thuyết giáo hóa chúng sinh), cũng không thiết thực bằng các nhà khoa học hay Billgate v.v… đã cung cấp cho xã hội những lợi ích rõ ràng. Thấy như thế vì chúng ta không nắm được mặt duyên khởi của pháp. Thứ mà chúng ta cho là thiết thực đó, với cái nhìn của Phật giáo, chỉ mới là mặt nổi của những vấn đề còn ẩn mặt. Có thể nó cũng có ít nhiều thiết thực trong hiện tại, nhưng nói thiết thực dài lâu thì nó chỉ có khi những người sử dụng nó được trang bị bởi những kiến thức mà Như Lai đã nói, dù là vô tình hay hữu ý. Còn không, thứ gì cũng có hai mặt, không đơn giản chỉ là mặt lợi ích không thôi.

    Thời vua Quán Đảnh Sát-đế-lị,1 quốc gia không được hưng thịnh như các đời vua trước. Hỏi các cận thần thì được biết vì vua không cai trị nước theo Chánh pháp của Thánh vương mà theo ý mình. Từ đó vua bắt đầu cai trị quốc gia theo chánh pháp nhưng riêng mục bố thí thì không. Nghèo đói lan rộng và trộm cắp nảy sinh.

    Khi kẻ trộm bị bắt, vua hỏi vì sao đi trộm cắp? Được trả lời “Vì không có gì sống”. Vua nghe vậy, liền cho hắn tiền và dặn hãy dùng tiền đó nuôi dưỡng gia đình, bản thân cũng như bố thí, cúng dường v.v... Bất cứ ăn trộm nào được dẫn tới, nhà vua đều làm như thế. Dân quân đồn nhau: “Kẻ nào ăn trộm tiền bạc của người khác, đều được vua cho tiền bạc”. Thế là nghề ăn trộm tăng thạnh. Vua biết tin mới suy nghĩ: “Trộm cắp mà được ta cho tiền thì trộm cắp sẽ tăng trưởng. Nay phải ngăn chặn triệt để”. Nhà vua ra lệnh, ai trộm cắp sẽ bị chặt đầu. 

    Khi lệnh được ban hành thì xã hội lại nẩy sinh vấn đề mới. Đó là hình thành nên những tên ăn trộm được trang bị bằng đao, gươm. Chúng giết sạch những người bị chúng ăn trộm để không còn ai nhận diện. Từ đó, kéo theo những việc phi pháp khác. Do những việc như thế mà tuổi thọ loài người ngày càng giảm mạnh, người sống trái đạo được tán dương, người người sát hại lẫn nhau, ác ý lẫn nhau, sát tâm mãnh liệt, người trong gia đình thông dâm với nhau v.v...

    Hết thảy đều do thiếu cái nhìn mà Như Lai đã nói trong kinh điển.

    Những việc tương tự như thế hiện nay không phải không có. Những thứ chúng ta cho là thiết thực có khi chính là đầu mối giúp nẩy sinh những ác pháp mới. Khi tôi nghe một phụ nữ trẻ bị bức tường đổ sập, chắn ngay vào cột sống, phải nằm một chỗ, chỉ biết nương vào lòng tốt của những người nghèo khổ chung quanh, tôi nẩy sinh việc chu cấp hàng tháng cho cô bé. Và những người có lòng đồng nẩy sinh ý niệm đó. Thế là… cô bé trở thành vật phẩm nhử tiền của thiên hạ. Những người hàng xóm tốt bụng bỗng trở thành những kẻ chăn người. Những giọt lệ không thành thật bắt đầu xuất hiện v.v… Lợi ích gắn liền với tai họa. Chỉ vì người nhận và người cho không được trang bị bởi những kiến thức cần thiết trong cuộc sống. Quy luật Nhân quả bị bỏ mặc. Những hành vi vị kỷ xuất hiện.

    Chúng ta nói nhiều về tính tương trợ, về lòng nhân ái đối với muôn người, về cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư nhưng ác pháp vẫn xảy ra, vì chúng ta coi thường phần giáo lý Nhân quả mà Phật đã dạy trong các kinh điển, vì cách giáo dục và xử lý của chúng ta tạo điều kiện cho tham - sân - si trong mỗi người phát triển mạnh. Chính vì thế, việc tốt có khi là nhân để các ác pháp xuất hiện. Chúng ta vá chỗ này, rách chỗ kia. Những việc làm mang tính vị tha có khi chỉ là trá hình của những vụ lợi riêng tư. Thiện pháp trở thành nhân của ác pháp. Nhân quả xoay vần, thời vận càng thêm xấu, vì nhân quả trả vay không sai lệch. Cho nên, thứ mà chúng ta gọi là thiết thực chưa hẳn đã là thiết thực dù nó có thể thiết thực trong một phạm vi nào đó, trong một giai đoạn nào đó. 

    Pháp cúng dường của Bồ-tát

    Hai từ Bồ-tát và chúng sinh nói đây, xin hiểu theo nghĩa “hữu tình giác” và “hữu tình chưa giác”. Bồ-tát và chúng sinh nói đây cũng được tính trên từng niệm. Vì thế, không hẳn trong một người chúng ta cho là chúng sinh không có các niệm Bồ-tát. Trong một người chúng ta cho là Bồ-tát không hẳn không có những niệm chúng sinh. Phân, chỉ để dễ phân biệt vấn đề, không có ý đề cao hay chê bai.    

    Trong kinh Hoa nghiêm, phẩm Nhập bất tư nghị giải thoát cảnh giới Phổ Hiền hạnh nguyện, Bồ-tát Phổ Hiền nói với Thiện Tài cùng đại chúng rằng: “Thiện nam tử! Trong các thứ cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết. Pháp cúng dường là: Tu hành đúng theo lời Phật dạy để cúng dường, làm lợi ích cho chúng sinh để cúng dường, chịu khổ thế cho chúng sinh để cúng dường, nhiếp thọ chúng sinh để cúng dường, siêng năng tu tập căn lành để cúng dường, không bỏ hạnh Bồ-tát để cúng dường, chẳng rời tâm Bồ-đề mà cúng dường…”. Trong 10 pháp này, “Tu hành đúng theo lời Phật dạy” và “siêng năng tu tập căn lành” mang tính tự lợi. “Làm lợi ích cho chúng sinh”, “Chịu khổ thế cho chúng sinh” và “Nhiếp thọ chúng sinh” thuộc lợi tha. Phân vậy nhưng lợi tha không lìa tự lợi.

    Có lẽ, ít có đạo giáo nào dạy môn đồ của mình chịu khổ thế cho chúng sinh v.v… lấy đó làm pháp cúng dường, nhưng Phổ Hiền đã nói về hạnh nguyện của mình cũng như của tất cả các Bồ-tát là như vậy. Thì biết, tâm vị tha mà đạo Phật nói đến không chỉ dừng lại ở mặt thiết thực trong hiện tại, có những thứ thiết thực sâu xa và dài lâu hơn nhiều mà với cái nhìn của phàm phu, chúng ta không thể hiểu thấu.

    Tu hành theo đúng lời Phật dạy

    Hiện nay, thiện nghiệp trở thành cái nhân của ác nghiệp hay trở thành sự trá hình của những vụ lợi riêng tư, đều bắt nguồn từ ba thứ tham - sân - si. Vì bị vô minh chi phối, không hiểu về thực lý Duyên khởi đang chi phối thế giới này thế nào, nên chúng ta mới coi các việc thiện như một phương tiện để thực thi những tham muốn vị kỷ của mình. Chính vì thế, nguyện đầu tiên mà một vị Bồ-tát phải làm, đó là tu hành theo đúng lời Phật dạy. Chỉ khi tu hành theo đúng lời Phật dạy thì chúng ta mới không vướng vào những điều mà người thế gian hay vướng trong việc làm lợi ích cho người. Việc lợi tha mới được viên mãn.

    Muốn tu hành theo đúng lời Phật dạy thì trước hết phải học, phải suy ngẫm những gì mà Như Lai đã nói trong kinh luận. Chắc không có tôn giáo nào có phần kinh luận nhiều như Phật giáo. Bởi giáo pháp của Như Lai do ứng cơ mà thành tựu. Chúng sinh có bao nhiêu bệnh thì có bấy nhiêu pháp. Vì thế, kinh luận nhiều vô kể. Nhiều như thế, nhưng mục đích cũng chỉ là giúp chúng sinh nhận ra thực lý đang chi phối thế giới này, giúp chúng sinh tiêu trừ tận gốc ba thứ tham - sân - si đã huân tập từ thời vô thủy và cuối cùng là nhận ra được bản chất thật của vạn pháp, trong đó có thân tâm mình.

    Vì sao phải tiêu trừ tham - sân - si? 

    Vì tham thì thiện nghiệp trở thành cái nhân của ác nghiệp. Vì tham thì thiện nghiệp chỉ là trá hình của những vụ lợi riêng tư v.v… Với một tâm dễ sân hận, chúng ta khó mà tiếp cận được với người, để việc lợi ích cho tha nhân được tốt đẹp, cũng không đủ tâm mềm mỏng để làm lợi ích cho hàng hạ căn. Nghĩa là, khi tham sân còn nhiều, chúng ta không thể thực hiện nổi lời nguyện mà Bồ-tát Phổ Hiền đã nói: “Chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường. Vì thế cần phải tiêu trừ tham - sân - si.

    Thứ hai, với giáo pháp của Như Lai, không tiêu trừ tham dục và sân hận, chúng ta không thể tiếp cận được với phần thâm pháp mà Như Lai đã nói. Có thể với phần thô của Duyên khởi, là phần dạy về nhân quả ở thế gian, tham sân còn chúng ta vẫn có thể tiếp thu được nó, nhưng muốn tiếp cận được với phần giáo Duyên khởi thâm sâu, tham sân phải nhạt mỏng thì thực tánh của Duyên khởi mới được hiển bày. Và chỉ khi nhận ra được thực tánh của vạn pháp, chúng ta mới có thể sử dụng được phần “ý sinh thân” mà kinh Lăng-già đã nói. Tự lợi mới tròn đầy. Lợi tha mới viên mãn. Vì thế, cần phải bào mòn tham - sân - si. Nói chính xác là cần phải nhận ra thực tánh của tham - sân - si.

    Cho nên, học hạnh Bồ-tát mà không học để hiểu những gì Như Lai đã nói, là một thiếu sót rất lớn của kẻ tu đạo. Học mà không hành thì có khi trên sự, mình lại đi ngược với những gì Như Lai đã nói cũng nên.

    Có người nói với tôi, tham dục hay sân hận là chủ động ở mỗi người. Chỉ cần ngay lúc đó không tham hay sân thì mọi thứ khác đi, việc gì mà phải học. Dù học cho nhiều mà ngay lúc đó không chịu làm chủ hành vi của mình thì cũng như không. Nói rất đúng nhưng chưa phải là tất cả. Vì nếu không học thì không thể biết tham sân là xấu để mà từ bỏ. Không học thì không biết tai hại của tham sân. Và nếu không học thì chúng ta không thể biết thân tâm mình bị chi phối bởi một thứ mà chúng ta chưa ý thức hết về nó, đó là nghiệp hay tập.

    Chúng ta không phải chỉ sống ở một kiếp này. Đã từ vô lượng kiếp về trước. Tham và sân được huân tập và tích tụ rất nhiều trong tạng thức. Chính vì sự tích tụ đó mà đụng duyên, mình không thể làm chủ hành vi của mình. Vì tham sân một khi tích tụ nhiều thì nó sẽ tạo ra một lực, khiến khi đủ duyên, mình không còn làm chủ được bản thân. Không còn nhớ hay nghĩ gì đến thiện pháp khi duyên đã đầy đủ trước mắt. Chính vì tham sân có lực mà mọi suy nghĩ của mình trở thành lệch lạc (sao cho phù hợp với những hành vi mà mình đã làm). Suy nghĩ đã lệch lạc thì tham sân càng tăng thạnh. Huân vào tạng thức càng nhiều thì tham sân càng có lực hơn vào những kiếp sau, tà kiến càng tăng thạnh.

    Giờ học pháp của Như Lai, chính là để biết vì sao không nên tham hay sân. Là lúc chúng ta bắt đầu ý thức về thiện nghiệp, lấy ý thiện làm chủ lực trong mọi hành động của mình. Nó góp phần khá lớn trong việc giúp chúng ta làm chủ bản thân. 

    Giáo pháp của Như Lai nói đến nhân quả thế gian và xuất thế gian. Như dạy, sung túc là quả của bố thí cúng dường, là cái quả của những gì mà bạn cho đi, không phải là cái quả của những gì bạn tham lam của người khác. Sát sinh sẽ mang đến tai ương, hoạn nạn và giảm thọ v.v… không phải là nhân của mạnh khỏe để sát hại sinh mạng bồi bổ cho thân mình. 

    Khi bạn có thể ghi nhận những tư tưởng đó trong đầu, thì dù muốn dù không, nó cũng chi phối hành động của bạn ít nhiều. Thường thì chúng ta không thể làm chủ liền mọi hành vi của mình dù đã được học những gì mà Như Lai đã nói, nhưng rồi mọi thứ cũng xong khi chúng ta có niềm tin đối với Tam bảo.

    Nếu nhân quả được mang ra dạy cho con trẻ, ngay từ khi chúng ý thức được ít nhiều về một sự trao đổi hai chiều, thì đó chính là chìa khóa giúp dừng bớt tham sân trong chúng, các bất thiện nghiệp cũng sẽ giảm trong tương lai. 

    Đó là lý do chúng ta phải học để hiểu về những gì Như Lai đã nói, phải thực hiện cho được về những gì mình đã học. Trong việc học pháp và hành pháp Như Lai đã nói, có một phần chúng ta không thể bỏ qua, đó là lời nguyện. Lời nguyện giúp chúng ta dễ dàng thực hiện hơn những gì mình đã được học. “Nguyện cho chúng con ngày càng tin sâu vào giáo pháp của Như Lai. Nguyện cho chúng con được cơ hội thực nghiệm giáo pháp của Như Lai trong đời sống thường nhật của mình, để hiểu hơn về những gì mà Như Lai đã nói với niềm tin sâu sắc nhất”. Hãy nguyện như thế khi tiếp cận giáo pháp của Như Lai.

    Khi đã biết nhân quả chi phối thế gian này thế nào, tham sân cũng nhạt mỏng rồi, thì nhất định chúng ta không còn bị vật chất thế gian làm mờ mắt đến nỗi biến các thiện nghiệp thành cái nhân của ác nghiệp, cũng như lợi dụng thiện nghiệp để vơ vét tài sản cho riêng mình.

    Làm lợi ích cho chúng sinh

    Tự lợi rồi, không thể thiếu phần lợi tha. Vì không có lợi tha thì tự lợi không thể viên mãn. Nó là nhân duyên giúp một người phát tâm tu đại đạo thành tựu quả vị Phật của mình.

    Nếu chỉ tập trung tự lợi mà không có lợi tha thì không thể tiêu trừ ngã chấp. Lợi tha, biểu hiện cho mức độ phá ngã mà hành giả vừa đạt được. Đỉnh cao của nó là “chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường mười phương chư Phật. Nếu đã có thể chịu khổ thế cho chúng sinh thì khả năng nhiếp thọ đối với chúng sinh đó là rất lớn. Đây là quy luật tự nhiên ở thế gian này. Mọi thứ đều không ra ngoài nhân quả. Nếu có thể thí xả thân mạng vì lợi ích của một ai đó, chúng ta sẽ nhận lại được những phần tương tợ nhờ nguyện lực đã phát.

    Ngoài ra, khi tự lợi được hoàn chỉnh ở mức độ nào đó, lợi tha trở thành việc tự nhiên của một vị Bồ-tát. Đó là việc không thể thiếu trong quá trình tu hành của chư vị. Nó tự nhiên như việc ăn cơm uống nước hàng ngày.     

    Chịu khổ thế cho chúng sinh…

    Suốt một thời gian dài, tôi đã rất cực vì cậu con trai của mình. Vì sinh con ra nhưng phần giáo dục con trẻ tôi đã không thể tự mình hoàn tất. Nhân cách và thành công của nó đa phần là do thiện nghiệp quá khứ cộng với tự lực của bản thân trong hiện tại. Phải nói không gần gũi được con là một thất bại rất lớn đối với các bậc cha mẹ. Việc giáo dục Phật pháp cho con trẻ càng trở nên khó khăn khi chúng đã lớn, khi giới luật (dù chỉ là giới luật của người tại gia) đi ngược với những ham muốn đang thịnh hành của giới trẻ.

    Con trai tôi đã tự lực phấn đấu và tự nó thành công với sự nghiệp của nó. Vì thế, lời nói của bố mẹ trở thành không giá trị đối với những gì mang tính tham dục của nó. Rượu bia là món nó không thể thiếu trong các cuộc vui. Khi tôi nhắc đến vấn đề bia rượu, nó chỉ nói đơn giản rằng, nó không có ý định tu như tôi để phải hạn chế đi những thứ đó. Khi tôi bảo đó là việc mang lại lợi ích cho con trong hiện tại và mai sau, không phải chỉ tu hành mới nói đến việc giữ gìn. Tôi nhận được câu trả lời: “Không có bia rượu thì chỉ còn nước vào rừng ở với khỉ. Khỉ thì không biết uống bia rượu và chỉ ăn toàn trái cây”.

    Bia rượu, vênh váo, vung vãi, xáo tung mọi thứ v.v… trở thành tính cách của thằng bé. Tôi không thể dùng lời nói để dạy con. Chỉ còn cách thí thân làm mọi việc cho nó rồi dùng phước ấy mà hồi hướng, mong một sự chuyển tâm trong tương lai. Đương nhiên, không chỉ nương vào phần phước đức đó mà còn phải nương vào công đức tu hành, công đức lợi tha, công đức hồi hướng và nhất là công đức phát tâm Bồ-đề mà tôi đã phát khi quyết định chọn cho mình con đường này. Cộng tất cả những thứ đó lại mà hồi hướng, mong thằng bé chuyển tâm.

    Công việc của thằng bé đang trên đà tiến triển bỗng gặp trục trặc và thất bại kéo dài sau đó. Lên voi thì đắc chí, nhưng xuống chó dài lâu thì nhụt chí cũng hiện ra. Người ta không thể không cầu cứu đến Phật Tổ khi mà sự mất mát và đình trệ kéo dài quá lâu. Không tiền thì cũng không thể nhậu nhẹt. Bia rượu uống vào sinh bệnh thì cũng có lúc phải ngừng. Kêu Phật hoài không tới thì phải cầu đến mẹ. Bởi mẹ là người âm thầm chính thức gieo duyên với con trai.

    Thằng bé thay đổi…

    Không ai ngờ nó chuyển tâm một cách mau lẹ như vậy. Không phải chỉ nói không với bia rượu, nó còn phát tâm ăn chay trường, tham gia đạo tràng và thay đổi hoàn toàn phong cách xử thế của mình. Ngạo mạn, thách thức nhường chỗ cho thí xả và lắng nghe. Một con người hoàn toàn khác trước. Tâm chuyển thì cảnh ngoài cũng chuyển. Mọi đình trệ chấm dứt.

    Không phải chỉ một chuyện của con trai, nhiều chuyện khác tôi cũng cứ cách ấy mà xử lý. Chuyển người không được thì chuyển mình rồi dùng công đức ấy hồi hướng cho người. 

    Những việc làm đó, cũng có thể được coi là một dạng rất nhẹ của cái gọi là “chịu khổ thế cho chúng sinh”. Tôi từng chứng kiến những tai nạn, những đau đớn mà một vị Bồ-tát phải chịu, để người thân của mình thay đổi. Không có những đau đớn khổ nhọc đó, không đủ lực để làm thay đổi một con người. Luận Đại thừa khởi tín nói: “Trong đó hoặc thấy, hoặc niệm, hoặc làm quyến thuộc, hoặc làm cha mẹ, hoặc làm tôi tớ, hoặc làm oan gia, hoặc khởi Tứ nhiếp… cho đến tất cả việc làm với vô lượng duyên hạnh. Bởi do lực huân tập đại bi phát khởi, nên hay khiến chúng sinh tăng trưởng thiện căn, nếu thấy nếu nghe đều được lợi ích”. 

    Hiện oan gia v.v…. là nhân của khổ nạn và ba đường dữ. Nhân như thế, duyên như thế thì quả như thế. Không ai không bị quy luật nhân quả chi phối khi bước chân vào thế giới chúng sinh dù đó là Phật. Chỉ là vì pháp đó mới có thể khiến người chuyển ác nghiệp thành thiện nghiệp, nên Bồ-tát phải dùng pháp đó và sẵn sàng chịu cái quả của ba đường dữ. Trong Tứ nhiếp pháp, Lợi hành và Đồng sự đối với hàng hạ căn chuyên gây tạo ác nghiệp, cũng khó tránh khỏi cái quả tương tự. Nhưng vì lợi ích chúng sinh nên Bồ-tát vẫn có thể “chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường.

    La-hán bỏ cảnh giới an vui của mình phát đại nguyện vào lại thế gian độ sinh, ba mươi hai ứng hóa thân của Quán Thế Âm, cảnh giới “lưu hoặc độ sinh” của hàng đại Bồ-tát, bỏ sự an vui riêng mình mà gánh vác đại chúng v.v… đều là những dạng của cái gọi là “chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường, mà đỉnh cao là hình tượng Đức Phật, do thấy một kẻ vì tội bất hiếu mà đội vòng lửa đỏ, đã phát nguyện chịu thay thế khổ nạn đó để không còn những kẻ bất hiếu trên đời2.

    Có nghịch lý không?

    Nhân quả không sai lệch. Nghiệp của chúng sinh một khi đã đủ duyên, ngay cả Phật cũng không thể cứu, vậy có nghịch lý không khi đặt ra vấn đề “chịu khổ thế cho chúng sinh” lấy đó làm pháp cúng dường?

    Nhân quả không sai lệnh. Nhân người nào gieo, người đó gặt v.v… nhưng vì quá trình từ nhân đến quả còn bị chi phối bởi duyên. Quả có thể thay đổi nhờ duyên. Nên Bồ-tát có thể nương duyên ấy, dùng nguyện lực mà chịu khổ thế cho chúng sinh, khiến chúng sinh chuyển dần các bất thiện nghiệp của mình. Việc này đòi hỏi chúng sinh phải từng có duyên với Bồ-tát. Không cần phải nhiều, chỉ cần một lần gieo duyên là Bồ-tát đã có thể dùng duyên ấy, nương nguyện lực mà “đồng sự” hay “lợi hành” để làm lợi ích cho mình. Trong kinh Địa Tạng Vương Bồ-tát bổn nguyện, Đức Phật nói với Bồ-tát Địa Tạng rằng: “Trong đời sau, như có hàng trời người trồng chút ít căn lành trong Phật pháp chừng bằng sợi lông, mảy trần, hột cát… thời ông nên dùng đạo lực của ông ủng hộ người đó, khiến cho người đó tu tập lần lần đạo hạnh Vô thượng, chớ để họ thối thất” thì biết nguyện lực độ sinh của chư vị rất là lớn.  

    Lợi tha muốn càng lớn càng rộng, đòi hỏi “tự lợi” phải có năng lực khá mạnh. Năng lực nói đây bao gồm các việc như phát tâm Bồ-đề, thiết tha với các đại nguyện mà mình đã thọ, tu tập căn lành không mệt mỏi  v.v...

    Tu tập các căn lành      

    Căn lành nói đây bao gồm cả trí và bi, cả tự lợi và lợi tha, cả tu huệ lẫn tu phước.

    Thiện và bất thiện không có tướng cố định, chỉ tùy duyên mà hiển tướng. Vì thế nếu không đủ trí, thì có khi bất thiện mà tưởng là thiện, thiện lại tưởng là bất thiện. Việc lợi tha trở thành hạn chế.

    Chúng sinh tâm địa cang cường, nuôi lớn ngã tướng từ vô lượng kiếp, tham sân tích kết trong tạng thức sâu dày… không phải nói lời chánh là đã chịu nghe. Không phải nghe lời chánh rồi, chịu từ bỏ ác nghiệp rồi, là có thể bỏ liền được. Nếu không đủ trí tuệ để hiểu, không đủ nhẫn lực để kiên trì thì việc lợi tha khó mà hoàn mãn.

    Trí tuệ không đủ thì bi nguyện không lớn. Căn lành dù có cũng chỉ hạn cuộc trong mức độ nho nhỏ. Làm sao có đủ lực công đức để hồi hướng mà thành tựu được sở nguyện cho mình và người?

    Cho nên căn lành muốn đủ, thì tự lợi và lợi tha đều phải đầy đủ. Giới, định, tuệ phải có. Thiện nghiệp dù là việc rất nhỏ, có khả năng làm được đều phải làm. Vì không giới thì thân mình còn khó bảo toàn, nói là lợi ích cho tha nhân. Không định, không tuệ thì không có tình thương đối với tha nhân, cũng không biết thông cảm và kiên trì với các ác pháp của tha nhân. Các pháp như bố thí, phóng sinh v.v… tạo ra phương tiện giúp việc lợi tha được hoàn mãn hơn. Bởi dụng pháp muốn có tác dụng thì pháp được dùng phải ứng đúng với căn dục của chúng sinh. Người đang đói không thể cho pháp mà phải giúp họ được no ấm rồi, mới có thể nghe pháp. Muốn cho thì phải có mới cho được. Đó là lý do tu tuệ phải kèm tu phước. Việc lợi ích tha nhân mới được rộng rãi. Tu phước, cũng là một cách gieo duyên với chúng sinh để họ có duyên nghe pháp sau này.         

    Phát tâm Bồ-đề

    Trong các công đức cúng dường, pháp cúng dường là hơn hết. Trong các pháp cúng dường, phát tâm Bồ-đề là pháp cúng dường hơn hết. Tổ Hiền Thủ nói: “Có thể một niệm phát tâm Bồ-đề, đó là pháp cúng dường tối thượng”3. Nói hơn hết, nói tối thượng là để biết công đức của các việc đó không có công đức nào có thể sánh kịp. Phát tâm Bồ-đề ngoài việc giúp hành giả không lạc vào tà ma ngoại đạo, nó còn là phương tiện để việc lợi tha dễ dàng được viên mãn. Hành Bồ-tát hạnh, nếu không đủ công đức hồi hướng cho chúng sinh thì việc lợi tha khó thành tựu. Lợi tha không thành tựu thì tự lợi cũng không thành tựu.

    Cùng một hình thức lợi ích như nhau, nhưng kết quả được hay không được, mau hay chậm không giống nhau, là do việc hồi hướng lệ thuộc vào công đức dùng hồi hướng. Đó là công đức phát Bồ-đề tâm, công đức tu hành, công đức hành thiện nghiệp, công đức hồi hướng không giống nhau. Thiện nghiệp của người đã phát Bồ-đề tâm không giống với thiện nghiệp của người chưa phát Bồ-đề tâm. Thiện nghiệp của người phát Bồ-đề tâm không giống với thiện nghiệp của người phát Bồ-đề tâm mà đã thấu được tánh của mình v.v... Vì thế, phát Bồ-đề tâm là việc tối cần thiết của người học đạo và hành đạo Bồ-tát. 

    Công đức hồi hướng

    Công đức hồi hướng là công đức có được sau khi chúng ta dùng thiện nghiệp hồi hướng cho tất cả. Do tấm lòng rộng mở đó mà thiện nghiệp thực hiện dù nhỏ cũng trở thành gấp bội. Vì thế kinh Hoa nghiêm dạy chư vị Bồ-tát mang công đức thiện nghiệp đã có hồi hướng cho chư Phật, chư vị Bồ-tát v.v… Vì nhờ đó, công đức thiện nghiệp càng tăng gấp bội. Nương công đức tăng gấp bội đó làm lợi ích chúng sinh thì dễ thành tựu hơn.

    Một việc tôi thường gặp trong thực tế là khá nhiều người, tu hành thấy cũng nhiệt tình, nhưng con cái cha mẹ v.v… nói chung là người thân gặp nhiều bất trắc. Việc đó không phải chỉ gây cản trở cho việc tu hành của đương sự mà còn khiến cho tinh thần của đương sự xuống dốc, mất tin tưởng đối với việc tu hành của mình (thối Bồ-đề tâm). 

    Tu không đúng, cảnh không thể chuyển là việc đương nhiên. Nhưng nhiều người tu thấy không sai nhưng bất trắc vẫn đầy dẫy, hỏi ra thì vấn đề hồi hướng cho người thân có thiếu sót. Chỉ vì cho rằng làm vậy sẽ ích kỷ nên không dám hồi hướng, chỉ hồi hướng chung chung cho chúng sinh. Đó là một suy nghĩ thiếu thực tế. 

    Muốn không ích kỷ thì trước hãy hồi hướng cho tất cả chúng sinh, sau hồi hướng thẳng cho đương sự nào cần hồi hướng. Chúng ta tu hành cần thực tế một chút. Chuyện nhỏ trước mắt nếu không giải quyết được, sao có thể giải quyết chuyện lớn hơn? Vì thế, chỗ nào cần hồi hướng, bất kể là người thân hay không thân,  đều có thể phát tâm hồi hướng. Hồi hướng sao để Sở hồi hướng phát tâm hướng về Tam bảo, biết hành thiện nghiệp và cuối cùng là thành tựu Bồ-đề vô thượng. Hồi hướng vậy thì không rơi vào ích kỷ.

    Có người phóng sinh xong, nghĩ tưởng đến ân sư, nên tha thiết hồi hướng cho ân sư được mạnh khỏe. Liền bị người khác nạt: “Có một chút phóng sinh thôi cũng bày đặt hồi hướng cho ân sư”. Nói vậy, vì chúng ta không hiểu về công đức hồi hướng. Thiện nghiệp dù nhỏ, có lòng hồi hướng thì công đức cũng thành lớn. Quan trọng là tha thiết. Trong kinh cũng dạy hồi hướng cho chư Phật, chư Bồ-tát, lý gì không thể hồi hướng cho ân sư, lấy đó làm pháp cúng dường mười phương chư Phật? Mọi phước đức đều có thể hồi hướng, hồi hướng cho bất cứ ai và nó sẽ trở thành công đức nếu được có tâm Bồ-đề làm nền tảng.

    Kết luận

    Pháp giới này khó nghĩ bàn, Duyên khởi vận hành chi phối thế gian này khó nghĩ bàn, công hạnh của Bồ-tát khó nghĩ bàn… nhưng dù là gì thì “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Thế giới bên ngoài chỉ là phán ánh của tự tâm. Vì thế cái quyết định hạnh phúc của mỗi người vẫn là thiện nghiệp của chính người ấy.

    Do lầm tưởng thế giới này là thực có nên thấy có ta và những thứ của ta, thấy ta và người khác nhau. Cũng do chấp ngã mà thấy ta và người là những thực thể trong thế giới này. Song thế giới này là ảnh tượng do tâm thức của “ta” tạo ra, nên không thể tách rời khỏi “ta” được. Mọi tạo tác, mọi tác động của “ta” vào thế giới đều phản hồi trở lại vào chính “ta” một kết quả nào đó. Giống như ngôi nhà của mình, nếu thường được tu bổ chăm sóc, làm những việc tốt đẹp cho nó thì chúng ta sẽ có được một ngôi nhà đẹp mà mình là kẻ thừa hưởng những tiện nghi do nó mang lại (làm lành gặp lành). 

    Nếu xem thế giới chung quanh là đối kháng, và chỉ lo cấu xé gom góp về mình, thì vô tình chúng ta đang phá hoại thế giới của ta và tất yếu sẽ gặp các cảnh giới dữ (làm ác gặp ác). Chính vì thế mà kinh luận khuyên chúng ta bỏ ác làm lành (vì tâm lý chúng ta ai cũng thích sống trong những cảnh giới tốt đẹp). Và cuộc sống của chúng ta chỉ được hạnh phúc thực sự, khi chúng ta biết phát tâm Bồ-đề, học hạnh Bồ-tát, tiêu trừ dần ngã chấp của mình, tâm vị tha rộng mở không còn bờ mé. 

    Source TVHS

    Read more »
  • Thế Nào Là Mật Tông

    Thế Nào Là Mật Tông

     

    Đây là một pháp tu bí mật của Phật giáo, dạy về cách “bắt ấn”, “trì chú” v.v... Pháp tu nầy có tính chất liễu nghĩa (trọn đủ), căn cứ vào nơi tâm pháp bí truyền.

     

    Trong các pháp môn mà Phật đã chỉ dạy cho chúng sanh nương theo tu tập trong thời buổi “Mạt Pháp” sau nầy, hành môn nào cũng đều có một tôn chỉ thù thắng vi diệu.

    Ví dụ như :

    ·                                 Bên Tịnh Độ lấy tôn chỉ :

    “Một đời vãng sanh, được bất thối chuyển” làm tông.

    ·                                 Bên Thiền Tông lấy tôn chỉ :

    “Chỉ thẳng lòng người, thấy tánh thành Phật” làm tông.

    ·                                 Bên Hoa Nghiêm lấy tôn chỉ :

    “Lìa thế gian, nhập pháp giới” làm tông.

    ·                                 Bên Pháp Hoa lấy tôn chỉ :

    “Phế  huyền, hiển thật” làm tông.

    Và riêng :

    ·                                 Bên Mật Tông  lấy tôn chỉ:

    “Tam mật tương ưng, tức thân thành Phật” làm tông v.v...

    Tam mật là:  Thân mật - Khẩu mật  - Ý mật

     

    Tóm lại, pháp môn tuy nhiều và tôn chỉ khác nhau, nhưng tựu trung rồi cũng quy về một mục đích duy nhất là giải thoát khỏi sanh tử luân hồi mà thôi.

     

    Nay xin nói sơ qua về “Mật Tông”. Gọi là “Mật”, vì đây là một hành môn thuộc về “Bí-Mật Pháp-Môn”, chuyên dạy về cách trì Chú, bắt Ấn, nên phải có Sư thừa (tức người truyền dạy).

     

    1.              Sao gọi là Trì ?

    TRÌ có nghĩa là giữ hoài (trì giữ) không cho mất, không cho quên.

    2.              Sao gọi là Chú ?

    CHÚ nói cho đủ thì là Thần Chú, là lời bí mật. Nay để cho tiện, nên gọi tắt là “Chú”,

    Có người không hiểu, nói rằng :

    Thần Chú là của Thần đạo thuyết ra. Đó là trật, là sai lầm.

    ·                                 Chữ THẦN nơi đây có nghĩa là “thần thông, linh thông, biến hoá”.

    ·                                 Chữ CHÚ thì còn được gọi là CHÂN NGÔN.    

    Những câu Thần Chú của chư Phật và Bồ Tát thuyết ra có oai lực và công đức không thể nghĩ bàn. Ta phải nên phân biệt giữa TRÌ Chú và NIỆM Chú.

    ·                                 TRÌ Chú :

    Tức là 1 câu Chú phải được lập đi lập lại liên tục từ vài trăm biến (trăm lần) trở lên, thì mới được gọi là trì. Còn chỉ đọc 3 câu, 7 câu, thì là niệm, chứ không được gọi là trì.

    ·                                 TỤNG Chú hoặc NIỆM Chú :

    Tức là chỉ lướt qua có một lần mà thôi. Chẳng hạn như “Thập Chú Lăng Nghiêm” sáng được tụng lướt qua có 1 lần thôi, chứ không có tụng lần thứ 2, thứ 3.

    Thần Chú tiếng Phạn gọi là Dhàrani (Đà ra ni), tiếng Hán dịch là Tổng Trì, tiếng Anh gọi là Mantra.Vì bao gồm vô lượng pháp, nên gọi là “Tổng”, vì giữ chứa vô lượng nghĩa, nên gọi là “Trì”. Thần Chú mang ý nghĩa bao trùm (tổng) tất cả Pháp, gìn giữ (trì) tư tưởng cao thượng từ vô lượng diệu nghĩa của nội tâm. Câu "Thần Chú" là cả một “Tâm Ý” của chư Phật, Bồ Tát đối với chúng sanh.

     

    Ý nghĩa của Thần Chú thì cực kỳ bí mật, không ai hiểu được, ngoại trừ bổn tôn (vị chủ) của Thần Chú đó và chư Phật mới biết được mà thôi.

     

    Có ba loại Ðà ra ni, đó là : Một chữ, nhiều chữ, và không chữ (vô tự).

     

    Thần Chú của Phật khác với của Tà đạo. Chú của Phật có công năng phá tà lập chánh, tiêu diệt nghiệp ác, phá được vọng tưởng tà quấy, phát sanh trí huệ, tăng trưởng phước đức căn lành, ngăn trừ tội lỗi, cứu mình độ người thoát khỏi ma nạn, nhất là cứu độ cho vong linh được siêu thoát một cách tuyệt diệu và hy hữu, đưa người từ cõi Phàm đến cõi Thánh nhanh chóng, gần gũi cùng cảm ứng đạo giao với Phật, Bồ Tát, Thánh Thần và thành tựu được đạo quả.

     

    Còn Thần Chú của Tà đạo chỉ làm hại người, hại vật, gieo tai họa cho người, chết phải đọa vào 3 ác đạo.

    Thần Chú tuy không có thể giải nghĩa ra được, nhưng nếu chí tâm, thành kính thọ trì, thì sẽ được công hiệu kỳ diệu khó thể nghĩ bàn. Cũng giống như người uống nước, cảm giác ấm hay lạnh thì chỉ người đó tự biết – còn người khác thì không cách chi biết được, cũng không hiểu hoặc không tin được. Phần công hiệu của việc trì Chú cũng vậy, chỉ riêng người chuyên trì Chú mới biết rõ nó hiệu nghiệm như thế nào mà thôi !

    Thường thì một câu Thần Chú hay thâu gồm hết một bộ Kinh. Vậy cũng đủ hiểu hiệu lực, công đức của câu Thần Chú mà Phật nói ra không thể nghĩ bàn.

    Thí dụ như :

     

    1.              Bộ Kinh ĐẠI BÁT NHÃ gồm có 600 quyển, mà chỉ có một câu Thần Chú gom hết 600 cuốn Đại Bát Nhã. Đó là câu :

    Yết đế, yết đế ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha.

    2.              Kinh ĐẠI BI TÂM ĐÀ RA NI kết lại hết 85 câu Chú :

    Án, tất điện đô mạn đa ra, bạt đà dạ, ta bà ha.

    3.              Nguyên cuốn Kinh CHUẨN ĐỀ kết lại câu :

    Án chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha.

    4.              Kinh LĂNG NGHIÊM gồm có 9 cuốn, kết lại trong câu :

    Án, a na lệ tỳ xá đề, bệ ra bạt xà ra đà rị, bàn đà bàn đà nể, bạt xà ra bàn ni phấn hổ hồng đô lô ung phấn, ta bà ha.

    5.              Kinh PHẬT ĐẢNH TÔN THẮNG ĐÀ RA NI v.v… thì cũng y như vậy.

    Lại nữa, phải nên biết :

    Câu CHÂN NGÔN (Thần Chú) đây thuộc về “bất tư nghì thần lực”.

    Còn :

     

    Câu NIỆM PHẬT thì thuộc về “bất tư nghì công đức”.

    Cả hai, một MẬT, một TỊNH đồng chung nguồn gốc mà sanh ra, đều có năng lực đưa hành giả về nơi Tịnh Độ (nói chung) và vãng sanh về cõi CỰC LẠC (nói riêng), chứ không phải :

    Trì Chú thì không được vãng sanh. Chỉ chuyên Niệm Phật mới được vãng sanh !

     

    Nay Tổ Sư Thích Thiền Tâm đã phối hợp cả hai phần (MẬT và TỊNH) lại thì sự kiến hiệu càng tăng thêm gấp bội. Cái tâm “lực” đưa tới Cực Lạc sẽ nhanh chóng, an lành không bị trắc trở.

    Như VÔ LƯỢNG THỌ NHƯ LAI Ðà ra ni,

    ·                                 Tụng một biến thì tất cả các tội tứ trọng, ngũ nghịch, thập ác thảy đều tiêu diệt.

    ·                                 Tụng 3 biến, tất cả tội chướng đều được tiêu trừ.

    ·                                 Tụng 7 biến thì dù cho hàng thiện nam, tín nữ tại gia phạm giới căn bản, hàng Tăng Ni phạm tội tứ khí, bát khí và các trọng giới khác, đều trở lại được giới phẩm thanh tịnh.

    Hành giả khi kết Ấn tụng trì Thần Chú nầy liền được chư PHẬT phóng quang tụ nơi đỉnh đầu và được các Ngài nhiếp thọ.

     

    Tụng đến 1 vạn biến (10.000 lần), tâm Bồ Đề (tâm Phật) hiển hiện trong thân không quên mất.

    Người trì niệm dần dần thể nhập vào tịnh tâm tròn sáng, trong sạch, mát mẻ như trăng thu, tiêu tan hết tất cả phiền não. Khi lâm chung sẽ thấy đức A DI ĐÀ Như Lai, cùng với vô lượng trăm ngàn ức chúng BỒ TÁT đến vây quanh, an ủi, bao che và tiếp dẫn. Ðương nhân liền được sanh về một trong 9 phẩm sen ở cõi Cực Lạc. (Xin xem Kinh Niệm Phật Ba La Mật).

     

    Nói về LỤC TỰ ĐẠI MINH CHƠN NGÔN:

    Um, Mani Padmé Hùm

     

    (Hán dịch theo Phạm-âm là : “Án ma ni bát di hồng ) tuy chỉ có sáu chữ ngắn ngủi thôi, nhưng oai lực lớn không thể nghĩ bàn (tương đương với oai lực của chú Đại Bi), vì cả 2 chú  (Đại Bi và Lục Tự Đại Minh) nầy là một sự “tổng hợp” của đức Quán Thế Âm Bồ tát cùng của rất nhiều chư Phật, đã mang hết cả “tâm ý” của Bồ Tát và của chư Phật, giúp cho chúng sanh giải tất cả nạn, tiêu ác nghiệp, dứt trừ bệnh nghiệp, được sự vô úy (không còn sợ sệt trước mọi hoàn cảnh) và được tất cả sự mong cầu (tương đương với “phước, đức” của mình, nhưng phải chánh đáng).

     

    Oai lực của chú ĐẠI BI và chú LỤC TỰ có thể dời non, lấp biển, chuyển nắng hạn thành mưa, chuyển gió bão thành nắng ấm, có khả năng đưa người ra khỏi địa ngục, và đưa người lên cõi Trời, cõi Phật, thoát khỏi 3 ác đạo.

     

    Thì ngoài “Bổn Tôn” (tức là vị chủ) của câu Thần Chú, Đức Quán Thế Âm Bồ Tátchư Phật ra, không ai hiểu được công năng và nghĩa lý ảo bí của nó (kể luôn tất cả các đại Bồ Tát khác ở 10 phương cũng không hiểu thấu được)...

     

    Có số người không hiểu rõ điều trên, nên đã phí công dịch giải ra nghĩa ý, vô tình làm mất đi phần công lực của Chú. Nhất là lại dùng tâm “phân biệt” (chú nầy đúng, chú kia sai, chú nầy mạnh, chú kia yếu, chú nầy dài chú kia ít. v.v…) mà trì Chú, thành ra trì Chú hoài mà vẫn không có kết quả gì mấy.

     

    Từ trước đến nay, các hàng Phật Tử Trung Hoa, Việt Nam, v.v... khi đọc tụng Thần Chú đều có chút phần hơi trại, so với Phạn Âm (tức âm của chữ Sanskrit, Bắc Ấn Độ), nhưng việc ấy không quan ngại gì, miễn là dùng “tâm chí thành, tin tưởng” khi trì niệm, thì cũng vẫn được hiệu nghiệm như thường.  

             

    Trong Kinh “Ðại Bi”, Đức Quán Thế Âm Bồ Tát có dạy :

    “Người nào đối với Ðà-Ra-Ni nầy sanh lòng nghi không tin, phải biết kẻ ấy sẽ vĩnh viễn mất sự lợi ích...”

    Cho nên, muốn được hiệu nghiệm trên đường tu mật tông thì điều bí quyết là chớ nên khởi lòng nghi ngờ, phân biệt đúng sai, hoặc hiểu nghĩa hay không hiểu nghĩa, khinh báng chi cả. Dù cho lòng “nghi” ấy nhỏ như hạt bụi đi chăng nữa, quyết cũng “chẳng nên có”. Cứ một lòng chặt dạ y theo đó mà hành trì thì được gọi là trì Chú “đúng như pháp” vậy, vì chư Phật, Bồ Tát vốn không bao giờ vọng ngữ (nói lời dối gạt).  

     

    May mắn cho chúng ta trong kiếp này còn gặp được chánh pháp, còn học được chánh pháp, được minh sư thiện hữu chỉ dạy cho phương cách trì Chú để giải nghiệp tội. Nếu vẫn còn cố chấp không chịu tu, thì thử hỏi kiếp sau cái chấp sẽ còn nặng như thế nào ? Mà đã cố chấp thì khó mà có được trí huệ để làm được những điều tốt lành. Kiếp nầy đã có tâm bỏn xẻn, nghi kỵ rồi, kiếp sau hết phước, sẽ ra sao ?

     

    Cho nên, rất mong quý bạn đồng tu phải cố gắng lên, tinh tấn trì Chú, niệm Phật, và phải “tận tâm, tận lực, tận cường”, tu hành để chắc thêm phần vãng sanh cho mình, thì mới mong thoát ly sanh tử luân hồi, thành tựu được đạo quả. Làm được như vậy mới không phụ lấy chính mình, và trả được ơn sinh thành, dưỡng dục của Cha Mẹ nhiều đời nhiều kiếp, đúng với câu :

     

    Nhất nhân hành đạo cửu huyền thăng. Trước độ mình, sau độ người, và độ khắp thế nhân.”

     

    Chúng ta ai cũng muốn lo lắng cho cha mẹ mình luôn được đầy đủ phần vật chất. Nhưng, dù làm được trọn vẹn mấy đi nữa, cũng chỉ là trả “Tiểu Hiếu” mà thôi, vì đó chỉ là giúp cho Cha Mẹ tạm thời bớt khổ, chứ không cách chi giúp cho Cha Mẹ thoát khỏi sự khổ của sanh tử luân hồi. Chi bằng, nếu ta nỗ lực tinh tấn tu hành theo pháp môn Mật Tịnh nầy, lại biết khuyên Cha Mẹ, gia đình, bạn bè v.v… tu hành như mình, thì sẽ được vãng sanh về Cực Lạc trở thành bậc Bồ Tát sau khi mạng chung. Chừng đó thì quay lại cõi này để độ hết Cha Mẹ nhiều đời nhiều kiếp v.v… trả “Đại Hiếu” !

     

    Chúng ta đang trong thời kỳ Tháp Tự Kiên Cố bước qua thời kỳ Đấu Tranh Kiên Cố; Pháp diệt, Ma cường (thịnh). Tâm chúng sanh ngày càng thêm xấu ác. Phật đã huyền ký rằng :

     

    Trong thời kỳ Mạt Pháp nầy, tà sư “phá pháp” nhiều như cát sông Hằng (Kinh Lăng Nghiêm), ngoài ra còn có 96 ngoại đạo, tà giáo tìm đủ mọi cách để tiêu diệt Phật Giáo nữa, không cho một ai tu thành đạo cả. Tương lai sẽ không còn in kinh, thuyết chánh Pháp nữa. Hiện nay chúng ta cũng đã nhận thấy biết rồi, Phật Pháp đang bị phá hoại (tiêu diệt) một cách tinh vi và khéo léo đến nổi ít có ai nhận diện ra được.

    Nó khảo đủ mọi cách hết :

     

    ·                                 Nội khảo, ngoại khảo, thuận khảo, nghịch khảo…

    ·                                 Nó làm cho tâm tánh con người không còn NHÂN TÌNH nữa (càng ngày càng ác hiểm).

     

    Chúng ta khó thể nào có được tâm lực, chánh tâm, chánh trí, và chánh kiến. Hiện nay, tâm của con người bị ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng. Nào là tham lam, cố chấp, tranh đua, sân hận, dâm dật, v.v… vì thế, cho nên dẫn đến cả thế giới đang lầm than trong đau khổ, tai nạn, binh đao khói lửa, chiến tranh sớm muộn sẽ bùng nổ trong nay mai.

     

    Muốn biết trong tâm của chúng sanh như thế nào, thì cứ nhìn ra ngoài thế giới hiện nay ra sao sẽ biết liền. Bên trong tâm con người thì đầy phiền não, bên ngoài thì quá nhiều cám dỗ. Xã hội sao không động loạn cho được?

     

    Ma quỷ dựa nhập đầy đường, không bỏ sót một ai, chúng vô từng nhà, từng quán chợ, đi vào tâm thức của từng người (trong khi thức, cũng như trong lúc ngủ, mà nó biết mặt, biết tên, biết nhà v.v…) quấy phá khắp nơi trên thế giới. Nhà nhà khói đen bao phủ. Người người khổ sầu, ai oán…nên chiêu cảm đến bão lụt, khói lửa cháy lớn, thất nghiệp, đói khổ lan tràn, nhà tan cửa nát, mất nhà mất việc làm, bệnh tật ngày càng nhiều khó chữa trị v.v…

     

    Cũng vì do từ nơi TÂM xấu ác của con người mà phát sanh ra hết cả. Nếu như mọi người đều có cái tâm tốt, tâm an, tâm đầy lòng bác ái, thì gia đình sẽ được vui vẻ, thuận hòa, thế giới sẽ an bình, phồn thịnh. Dù cho Ma quỷ dữ cách mấy cũng chẳng làm gì được, đôi khi họ còn kính phục mà chịu quy mạng lễ !

    ĐỨC TRỌNG QUỶ THẦN KINH.

     

    Mong sao chúng ta mau buông bỏ những thói hư tật xấu, cố chấp của mình đi, mà sám hối lo tu sửa (từ xấu ra tốt), buông bỏ những việc vừa ý hay không vừa ý, đúng với sai v.v… để chuyển hướng nạn tai sắp xảy ra, hầu được an lành sống đến ngày trăm tuổi.

     

    Sư Tổ (Đại Ninh) THÍCH THIỀN TÂM đã thấy biết trước là sau nầy đa phần các Phật tử nói riêng và mọi người nói chung, đều bị tà ma dựa, nhập và bị khống chế, ít có ai tu mà được đầu thai lại làm người, thì đừng nói chi đến việc giải thoát về cõi Trời, cõi Phật.

     

    Với lòng từ bi quảng đại, Ngài mới khai mở ra pháp tu MẬT TỊNH, soạn ra những Thần Chú từ trong MẬT TẠNG (của Đại Tạng Kinh), hầu cứu độ các Phật tử có thiện căn (và chân thật tu hành) thoát khỏi Ma nạn, để giữ vững được đường tu, mới bảo đảm được vãng sanh về nơi Cực Lạc Tịnh Độ.

    Ai thật tâm tu hành bắt buộc phải kiêm thêm TRÌ CHÚ để hộ thân và tâm không bị khảo đảo mà lạc vào lưới của Ma, lấp đi con đường vãng sanh vậy.

    Như đã nói ở trên,

     

    ·                                 NIỆM PHẬT được bất tư nghì CÔNG ĐỨC

    ·                                 TRÌ CHÚ được bất tư nghì THẦN LỰC (cái lực nầy sẽ giúp cho ta thoát nạn khổ)

    Nếu chỉ chuyên NIỆM PHẬT mà không có TRÌ CHÚ đi kèm, thì cũng giống như người đang bị đủ thứ bệnh tật, kẻ ác bao vây tứ phương, ngày đêm chẳng được yên, mò mẫm, lê lết mà đi, không may gặp phải giặc cướp (Ma) ồ ạt xông đến bắt, chừng đó thì :

     

    ·                                 Không có TÂM LỰC (không biết dụng tâm)

    ·                                 Không có SỨC LỰC (để chống trả)

    ·                                 Không cóTRÍ LỰC (để phân biệt chánh tà)

    ·                                 Không có chút THẦN LỰC(nào để đề kháng) cả

    Lúc đó sợ quá, không còn nhớ niệm Phật nữa, á khẩu đứng tim mà chết. Vậy thần thức có còn được yên để về Cực Lạc không ?

     

    Từ bi phải có trí huệ đi kèm. Niệm Phật phải có Thần Chú đi kèm (hai cái nầy không thể thiếu một).

    Những người không có chánh tâm, không chân thật tu hành cần cầu giải thoát, hoặc có cái TÂM NGHI NGỜ, PHÂN BIỆT, XẤU, ÁC v.v… thì khó thể trì Chú cho được, sẽ dễ bị “tẩu hỏa nhập ma” (bởi vì Thần Chú đó là tâm ý của Phật nên thuần “CHÁNH”, nếu như đem cái tâm “TÀ” mà trì Chú thì không thể nào cảm ứng hoặc thành tựu được là như vậy). Cho nên, trong thời kỳ pháp diệt tận này, rất ít có người “dám” trì Chú, hoặc biết về Ấn Chú của Phật gia một cách tỏ tường.

     

    Thậm chí có nhiều người sợ không dám trì Chú, lại còn phỉ báng và ngăn cấm người trì Chú nữa. Nhưng họ không hiểu rằng :

     

    Chính  Đức PHẬT xưa kia cũng đã dùng Thần Chú để hàng phục Ma quân, và cứu đệ tử của Ngài ra khỏi Ma nạn! 

     

    Ta hãy thử hỏi :

    Người TU (trụ trì ở trong chùa) đã dùng Thần Chú gì để sái tịnh Chùa, sái tịnh hằng ngày cho bản thân (mỗi khi ăn, uống, tắm gội), cúng vong linh, cầu siêu, phát tang, xả tang, triệu hồn, thí thực, phóng sanh, cho đến công phu mỗi sáng v.v... ? Hỡi ôi ! Có được mấy người chịu TIN, chịu trì Chú, và thi hành đúng theo như điều luật của nhà Phật?

     

    Hiện nay, đa phần Phật tử chỉ thích tụng Kinh, niệm Phật cầu PHƯỚC qua ngày, hoặc thích ngồi Thiền hơn là Trì Chú (tức là tu theo MẬT TÔNG chân chánh của PHẬT) vậy.

     

    Muốn biết thể giới Quy Y Tam Bảo của mình còn hay mất, hãy xem lại cái tâm của mình (có làm những điều xấu ác, có gần gũi, hoặc thân cận với kẻ ác không) thì sẽ biết ngay. 

    Như là :

    ·                                 Tham tiền, tham danh, tham lợi.

    ·                                 Việc xấu nào mà không làm.

    ·                                 Thị phi nào mà không nói.

    ·                                 Không nói “có”, có nói “không”.

    ·                                 Nói xấu Phật, nói xấu người tốt.

    ·                                 Thường hay sân giận, tâm tánh ích kỷ, bỏn xẻn.

    ·                                 Thường ganh tỵ, đố kỵ

    ·                                 Tranh chấp phải quấy, thấp cao.

    ·                                 Cố chấp, hận thù không xả.

    ·                                 Tranh đấu không biết mệt.

    ·                                 Giành giựt cái tốt về mình.

    ·                                 Không biết ơn nghĩa, liêm sỉ.

    ·                                 Nhục mạ người chân tu.

    ·                                 Khinh sư diệt tổ.

    ·                                 Giết Thầy, hại bạn.

    ·                                 Dẫn dắt Phật tử tu sai lầm (không giống đường lối của Phật, của Tổ sư muốn dạy).

    Đó chỉ là lược ra sơ sơ ở trên cũng đủ thấy Tam Quy, Ngũ Giới đã là khó giữ nổi, thì nói chi đến Bồ Tát giới, Tỳ Kheo giới !!!Thần Thánh nào tiếp tục gia hộ cho mình đây ?!

    Thân hôi thì người đời lánh xa.
    Tâm hôi thì thần thánh lánh xa.

    Nếu như đã mất hết thể giới Quy Y rồi, thì tự động 25 vị Thần theo hộ cho mình cũng sẽ bỏ đi luôn. Chừng đó, Ma quỷ sẽ dễ dàng nhào vô làm hại, bắt hồn, bắt xác mà thôi...

     

    Có rất nhiều Phật tử chưa hiểu thấu, nên nghĩ rằng :

    Tu Tịnh Độ (niệm Phật) rất dễ, người (chánh hoặc tà) nào cũng tu được. Còn tu theo Mật Tông thì rất khó (trì Chú hoài cũng không thấy có kết quả gì cả),và người mà trì Chú sẽ khó thành được đạo quả v.v… !

    Hoặc là :

    Muốn về Cực Lạc mau, thì phải “chuyên” niệm Phật, không nên trì Chú. Vì tu hai pháp môn (Mật Tịnh) một lượt sẽ bị chi phối, không được nhất tâm, không được vãng sanh!

     

    Cho nên, hiện nay hầu hết Phật tử đã từng tu theo pháp môn MẬT TỊNH đều từ từ bỏ trì Chú (như Chú Hộ Thân, Lăng Nghiêm, Đại Bi, Bát Nhã, Vãng Sanh v.v…), cho đến bỏ đắp mền Tỳ Lô luôn nữa.

    Phải biết rõ thêm rằng, ba môn vô lậu học: Giới, Định, Huệ tượng trưng cho Giác, Chánh, Tịnh, và lại cũng tượng trưng cho Tam Bảo : Phật, Pháp, Tăng.

     

    ·                                 Phật nghĩa là “Giác Ngộ”.

    ·                                 Pháp tức là “Chánh Pháp”.

    ·                                 Tăng mang ý nghĩa “Thanh Tịnh”.

    Tu học Phật Pháp không ngoài ba môn Giác, Chánh, Tịnh nầy. Đây cũng ví như ba cửa Tam Quan trước cổng chùa, vào được một cửa là vào được nhà của Như Lai.

     

    Như Thiền Tông thì chủ trương thấy tánh thành Phật.

    Đây là theo môn “Giác” mà tu hành.

    Giáo Tông thì chủ trương nghiên cứu Kinh Giáo.

    Đây là theo môn “Chánh” mà tu hành.

    Mật Tông và Tịnh Độ đều giống nhau, vì đòi hỏi phải có tâm “Thanh Tịnh”.

     

    Đây là theo môn “Tịnh”mà tu hành. Ngoài ra, Tịnh Độ và Mật Tông đều là pháp môn “Nhị Lực”. Nghĩa là ngoài sức mình tu ra (tự lực), còn được nhờ vào “Từ lực” (tha lực) bổn tôn của Thần Chú và “Tâm lực” của chư Phật gia trì.

     

    Vì thế :

    Hai môn “Mật” và “Tịnh” song tu thì rất là “hạp” căn.

    Còn ngược lại :

    Hai môn “Thiền” và “Tịnh” song tu, thì không hạp (căn) được, trừ khi là người Thượng Thượng căn, vì một bên theo Không môn (Thiền), còn một bên theo Hữu môn (Tịnh).

    Cho nên, Mật Tông và Tịnh Độ đều khó như nhau và cũng đều dễ như nhau.

     

    Tại sao dễ ?

    Dễ vì câu "A Di Đà Phật" hay Chú "Um Brum Hùm", thì ai cũng trì được.

    Nhưng tại sao khó ?

    Khó bởi vì cả hai đòi hỏi người Trì (Chú), hoặc Niệm (Phật) đều phải có được cái tâm trong sáng, thì mới có thể phát sinh ra được “tâm lực”, rồi từ tâm lực đó dần dần mới có được “thần lực.”

    Chính cái “tự lực” này mới phụ với “tha lực” của Đức Phật A Di Đà mà đưa mình về Cực Lạc được.

     

    Nhờ có Tâm lực trong sáng mới bắt được làn sóng của chư Phật, Bồ Tát, mới cảm ứng đạo giao, mới giải nạn Thiên tai, và được tiếp dẫn vãng sanh.

     

    Còn như, nếu dùng cái tâm phân biệt, tâm phan duyên, tâm cố chấp, tâm xấu ác mà niệm Phật thì sẽ bắt nhằm phải làn sóng của Ma, khiến cho Ma Quỷ kéo đến đầy nhà, bệnh tật kinh niên, khảo đảo không ngừng, gia đình bất an, sở cầu không được như ý v.v... Dù niệm Phật bể cổ cũng không được vãng sanh, trái lại còn làm “oan gia” trong cửa đạo (vì vô tình đã tiếp tay với kẻ ác tiêu diệt Phật Pháp mà ngay chính mình không hề hay biết, cứ tưởng rằng mình đang làm Phật sự!)

     

    Phải biết :

    Cả hai, một MẬT, một TỊNH đồng chung nguồn gốc mà sanh ra. Nay phối hợp cả hai phần (MẬT và TỊNH nầy) lại thì sự thành công càng tăng thêm gấp bội.

     

    Trong bộ Luận Đại Trí Độ, Ngài Cưu Ma La Thập có giảng rõ :

    ·                                 Trì Chú có nghĩa là gìn giữ và bảo vệ.

    ·                                 Gìn giữ là gom góp các pháp lành không cho tan mất.

    ·                                 Bảo vệ là ngăn ngừa tâm bất thiện không cho phát sanh.

    ·                                 Trì Chú là giúp tăng trưởng Huệ lực, Thần lực.

    ·                                 Duy trì tâm lực, bảo tồn chân khí

    (như người bị mất hết chân khí sẽ bị bệnh hoài, thân tâm thường mệt mỏi, ngày càng kiệt sức, trí huệ mê mờ, không còn tự chủ, dễ bị Ma quỷ dựa nhập).

    ·                                 Người trì Chú có được chánh tâm, chánh ý.

    ·                                 Thống nhiếp và duy trì vô lượng Phật Pháp, khiến không bao giờ hoại diệt.

    Khi trì Chú, tay nên kết Ấn, miệng trì Chú (trì cho ra tiếng), mắt nhìn tượng Phật, tâm quán (nhớ tưởng) chữ Rảm (chủng tử biểu tượng cho bản thể của chư Phật).

     

    Pháp môn Trì Chú giúp cho người tu “phát sanh trí huệ” để kiểm soát được hành động, lời nói, ý nghĩ và phân biệt được rõ ràng đâu tà, đâu chánh. Như vậy thì hành động, lời nói và ý nghĩ sẽ trở nên trong sáng, vọng niệm tự nhiên không khởi. Không khởi niệm phân biệt, giữ tâm trong sáng thì mới phát sinh ra được “đạo lực” (cái lực nầy mới có khả năng độ mình, độ người giúp giải được nạn Thiên tai và được giải thoát).

     

    Cách niệm Phật, trì Chú lớn tiếng nầy gọi là “Bố Ma” (làm cho ma khiếp sợ mà bỏ chạy), nhiếp được thân, khẩu, ý trong sáng và có được những lợi ích đặc biệt sau đây:

    1.  Diệt được sự buồn ngủ, hôn trầm

    2.  Tâm không tán loạn

    3.  Chuyện đời chẳng lọt vào tai

    4.  Có cặp mắt sáng

    5.   Tiếng nói rổn rảng, mạnh mẽ, cứng chắc, đầy thần lực

    6.  Có tướng đi mạnh mẽ, oai phong

    7.   Lời nói thẳng thắn, mạnh dạn

    8.   Tâm thần cương trực, không nhút nhát, không sợ sệt, xông pha vô trận hàng phục ma quân

    9.  Dõng mãnh, tinh tấn

    10. Tâm lực, thần lực phát sanh ra cực mạnh

    11. Bệnh nghiệp được tiêu trừ

    12.  Tứ Đại điều hoà

    13.  Tâm thể an nhiên

    14. Khi trì Chú phát ra vòng hào quang bao phủ quanh thân người trì Chú

    15. Bùa ngải, độc trùng, gió độc không xâm phạm đến thân mình được

    16. Thiên Ma phải nể sợ

    17. Vong linh vất vưởng chung quanh nghe được âm thanh của Thần Chú đều được siêu thoát

    18. Côn trùng, chuột, kiến, gián, nhện, bọ, tự động đi mất, hoặc được thoát kiếp hết

    19.  Những vong linh hữu duyên, và cửu huyền cũng được siêu thoát

    20.  Thiên Long Hộ Pháp luôn ở bên cạnh hộ trì, an ủi, nhắc nhở, chỉ dạy v.v...

    21. Tất cả sở cầu đều được như ý

    22.   Danh tiếng từ từ vang khắp mười phương

    23.  Tam Muội hiện ra trước mắt

    24. Mười phương chư Phật, chư đại Bồ Tát đều vui mừng thọ ký

    25.  Lâm chung chánh niệm, biết trước ngày giờ, vãng sanh Cực Lạc quốc.

    Tu tập theo pháp môn Mật Tịnh tức là “luyện” cho thân tâm được thuần thục, nó đòi hỏi người tu một sự tha thiết, quyết tâm xả bỏ những tâm xấu, luôn mong cầu được giải thoát, chứ không phải là "có căn" (Mật) mới tu được. Nếu căn cơ cao, tâm đã tịnh, thì cần chi phải tu (niệm Phật, hay Trì Chú) ?

    Ở phần trước đã có nói:

     

    Muốn đạt được kết quả tốt đẹp trên đường tu mật tông thì điều tiên quyết là chớ nên khởi lòng nghi ngờ, khinh báng chi cả. Dù cho lòng “nghi”, “chấp” ấy nhỏ như hạt bụi đi chăng nữa, quyết cũng chẳng nên có. Cứ một lòng chặc dạ y theo đó mà hành trì thì được gọi là “đúng như pháp” vậy! Vì chư Phật, Bồ Tát quyết không bao giờ vọng ngữ (nói lời dối gạt)!

     

    Cho nên, muốn bảo đảm được vãng sanh trong kiếp nầy, song song với niệm Phật ta cần phải kiêm thêm phần Trì Chú, mới giải được sự khảo đảo (khi oan gia) kéo đến, và chắc thêm phần vãng sanh cho chính mình.

    Hai chữ MẬT TỊNH nầy hàm ý là:

     

    Người tu phải TRÌ CHÚ (Mật) trước, rồi mới NIỆM PHẬT (Tịnh) sau. Tại sao ? Vì khi trì Chú sẽ tạo ra cái LỰC (để giúp cho thân nhẹ nhàng, Khẩu thanh tịnh, Ý trong sáng), như vậy khi NIỆM PHẬT mới được trọn vẹn công đức. Nếu luôn hành trì như vậy, giữ tâm trong sáng như vậy suốt đời thì chắc chắn sẽ được vãng sanh, vĩnh viễn thoát ly sanh tử luân hồi. 

     

    (Nên xem Kinh “Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương” để  biết rõ thêm về công năng của Thần Chú, sự lợi ích của Mền Tỳ Lô, mặc áo Chú, đeo Chú, vẽ Chú, và mật hạnh của người thọ Bồ Tát giới (để cứu độ chúng sanh) và công đức về việc “trích máu tả Kinh” v.v…)

     

    Tóm lại :

    Muốn HÓA GIẢI  ĐƯỢC THIÊN TAI  và THOÁT ĐƯỢC MA NẠN, bình yên tu hành cho đến ngày VÃNG SANH, bắt buộc phải hành trì Pháp môn Mật Tinh song tu.

     

    NIỆM PHẬT nhưng trong Tâm không rời tiếng Chú, lúc nào cũng vang rền bên tai (trong nhà nên mở máy trì Chú suốt ngày, đêm)          

    Câu thần Chú “thay cho tiếng lệnh của chư Phật và Bồ Tát”, nên có công năng giải nghiệp nạn không thể nghĩ bàn, giúp HỘ THÂN KHÔNG BỊ NẠN TAI (nước, lửa, bão lụt, kẻ ác làm hại, bùa ếm, ma quỷ, không làm hại được đến thân của người đang trì Chú nầy).

     

    Hễ “hóa giải” được cho mình bình an, thì sẽ giúp cho những người chung quanh cũng được bình an, thoát nạn. Tất cả Thiên Tai, chiến tranh, khói lửa đều do TÂM của chúng sanh chiêu cảm ra hết cả.

    Vì chúng sanh thường hay có :

    ·                                 TÂM SÂN dữ tợn, nên chiêu cảm ra LỬA dữ.

    ·                                 TÂM MONG CẦU, THAM LAM, nên chiêu cảm ra MƯA, BÃO LỤT, SÓNG THẦN

    ·                                 TÂM SÁT, ẾM HẠI NGƯỜI, nên chiêu cảm ra CHIẾN TRANH, KHÓI LỬA

    ·                                 TÂM SI MÊ, nên chiêu cảm ra GIÓ SOÁY, GIÓ  BÃO, và trùng trùng điệp điệp những cái khổ đến, sẽ không giản dị, không dễ dàng đối phó.

    Bởi vì tất cả Thiên Tai gây ra đều do nơi TÂM ÁC của chúng sanh. Bởi Tâm chúng sanh càng ác, càng dữ, càng có nhiều sáng kiến, nhiều thủ đoạn, càng phát minh, thì hậu quả sẽ càng “đập lại” chúng sanh không thương dị.

    "10 phương chư Phật và hằng hà sa số Bồ Tát đang hiện thân bao phủ cõi Ta bà (của chúng ta), nhưng không làm sao ngăn chận được làn sóng thần đen kịt đang ồ ạt kéo đến một cách dữ tợn…”

    Muốn HÓA GIẢI được Thiên tai, thì cũng phải từ nơi TÂM “thiện” của chúng sanh mà TU SỬA, SÁM HỐI, TRÌ CHÚ, và ngưng làm ác.

    Rồi :

    ·                                 Dùng “LỰC THIỆN” trong tâm mình “quán” vang xa ra để hóa giải những điều hung ác.

    ·                                 Dùng “LỰC THANH TỊNH” từ nơi tâm để hóa giải những sự biến động.

    Ngồi tại nhà TRÌ CHÚ vẫn giải được nạn tai cho chúng sanh.

    Nên hiểu rằng, Phật chỉ độ người hữu duyên. Chư Phật, Bồ Tát chỉ giúp cho những người có căn lành TU SỬA và HOÁN CHUYỂN TÂM TÁNH, thường xuyên kiểm tâm, hành trì điều thiện; như vậy các Ngài mới có thể giải nạn tai được.

     

    Cho nên Phật, Bồ Tát không thể nào CỨU ĐƯỢC NHỮNG CHÚNG SANH CÓ TÂM ÁC.

    Cũng như Ma Vương, không thể nào đứng giữa hư không để “tiêu diệt” được hết những chúng sanh có tâm chí thành, tu hành chân chánh !

    ·                                 Ma Vương không hại được người có tâm lành, tu hành chân chánh.

    ·                                 Phật, Bồ Tát không cứu được người có cái Ác Tâm.

    ·                                 Phật và Ma Vương cũng đều nương theo tâm thiện, tâm ác của chúng sanh mà thôi.

    BỒ TÁT cùng với chư PHẬT khắp 10 phương đều nghe, đều thấy hết những tiếng kêu cứu, những lời than khổ của chúng sanh, nhưng không cách nào cứu được họ, vì phải do TÂM CỦA CHÚNG SANH đó THA THIẾT, THẬT LÒNG MUỐN CỨU.

     

    Những người thật lòng kêu cứu, đều đã được Bồ Tát ra tay cứu độ cho họ được tai qua nạn khổ rồi (số chúng sanh được cứu thì rất là ít oi). Còn số người đang và sẽ bị nạn tai, khói lửa trong tương lai nhiều không kể xiết. Xác người chết như bèo trôi sông vậy.

    Chư Phật, Bồ Tát chỉ đành biết lấy mắt nhìn mà rơi lệ. Vì quý Ngài không thể cứu độ chúng sanh có những TÂM quá ác độc được.

     

    Chiếu đúng theo luật thì gieo NHÂN nào, hái QUẢ đó.

    Cho nên, mỗi khi Thiên Tai đến với mình, thì đừng nên trách Trời, Phật chi cả cho mang thêm tội,  mà hãy dùng 2 tay đập vào đầu mặt mà chửi mắng mình “sao mầy ác quá vậy, để bây giờ phải trả quả ác, không ai cứu được cả !”

     

    Lành, dữ, thiện, ác, siêu, đọa, họa, phước đều do nơi TÂM cả. Hễ giữ được cái Tâm vui vẻ, thì trong nhà ảnh hưởng sự mát mẻ, nhẹ nhàng, công ăn việc làm yên ổn. Còn như trong Tâm mang nhiều phiền não, chấp nhất, bực bội thì trong nhà bị khí đen bao phủ, nặng nề, bệnh hoạn, công ăn việc làm bị trắc trở, vợ chồng gây gổ v.v… TÂM của một người đã ảnh hưởng như vậy rồi, thì nói chi đến nhiều cái Tâm ÁC cộng lại, sẽ ảnh hưởng như thế nào?

     

    Hễ TÂM chúng sanh an bình, vui vẻ thì cả thế giới cũng sẽ an lành, bình yên, mưa hòa, gió thuận. Điều này được chứng minh qua một câu chuyện tại Hoa Thịnh Đốn có “4 ngàn cái TÂM an bình” :

     

    Cách đây 20 năm về trước, Tạp chí Khoa học của Mỹ đã tuyên bố một nghiên cứu thí nghiệm xã hội học lần đầu tiên được thực hiện tại Đại Học Maryland, thuộc vùng Washington DC. Mùa hè vào năm 1993, có 4 ngàn người từ khắp thế giới (81 quốc gia) ghi danh tham dự khóa TU “THIỀN MẬT” (Thiền định của sự TRÌ CHÚ) suốt 2 tháng. Họ dạy cho 4 ngàn người nầy phương cách TRÌ CHÚ để giúp cho ĐỊNH cái TÂM của họ, hầu có thể làm giảm “ẢNH HƯỞNG” và “NGUỘI” bớt đi những việc ác, hành hung, giết người, hãm hiếp, cướp giựt, bạo lực và kẻ tội phạm v.v… đã xảy ra cực mạnh tại Washington, DC trong thời điểm đó.

    Kết quả trong 2 tháng là: Họ đã phát hiện ra và cho thấy rằng: tỷ lệ tội phạm, bạo lực trong đó bao gồm luôn việc giết người và hãm hiếp – đã được giảm xuống 23% trong thời gian thử nghiệm cái ĐỊNH TÂM của 4000 người.

     

    Nhà Vật lý học Tiến Sĩ Hagelin đã từng nghiên cứu trước đây cho biết rằng :

    “Những kỹ thuật Thiền Định và Trì Chú giúp tạo ra một trạng thái “thư giãn” sâu sắc. TÂM LỰC của 4000 người tham gia tạo ra một làn sóng AN BÌNH, NHẸ NHÀNG và DỊU MÁT đã ảnh hưởng đến môi trường TRẬT TỰ chung quanh và ảnh hưởng luôn đến những người khác (mà không hề biết và không tham dự trong cuộc thử nghiệm này).Tâm Lực của 4000 người này hợp lại đã tạo ra động tác “HIỀN HÒA” chiêu cảm và ảnh hưởng đến “khí hậu” cho đến số “phạm nhân” trong xã hội cũng được “yên lành”.  Kết quả cho thấy sự cảm ứng của lãnh vực về “Tâm Thức” (Học) mạnh không thể nghĩ bàn.”

     

    Những sự chết chóc, khổ nạn, bạo lực gây ra bởi sự “căng thẳng” cực mạnh từ trong “Cộng TÂM” của chúng sanh mà ra.

     

    Người đã chết rồi, cũng còn mang nghiệp cũ, đầu thai lại tạo thêm nghiệp mới, và cộng thêm nghiệp chung của môi trường trong xã hội. 3 cái nghiệp cộng lại quá nặng, nên rất khó tìm cầu giải thoát cho được.

    Các nhà khoa học gia như Edison và Marconi cũng đã chứng minh cho ta thấy những làn sóng (của điện, radio) có khả năng chuyên chở ánh sáng và âm thanh, thì Tâm lực của chúng sanh cũng vậy. Mỗi khi phát lên tiếng trì Chú (với tâm trong sáng), lập tức hào quang của tâm Chú này phát sáng ra chuyên chở cái Tâm lực của người đang trì Chú, và người trì Chú đó cũng đang chuyên chở hết Tâm ý của BỒ TÁT, và luôn cả Tâm lực của PHẬT, lập tức vang ra xa, HÓA GIẢI hết tất cả biến động chung quanh, tai qua, nạn khỏi, mọi việc bình an.

     

    Tóm lại, Phật tử tu Mật tông  cần phải nên biết rằng :

    Đức QUÁN THẾ ÂM Bồ Tát cùng với chư Phật vì thương chúng sanh, nên đã ban cho chúng ta một kho tàng vô tận, mà chúng sanh không biết xử dụng đúng chỗ, đúng như pháp, nên không được lợi ích và cảm ứng chi cả.

     

    Người đời không hiểu rõ công năng biến hóa thù thắng và thần lực cao siêu vô cùng tận của Chú, nên đã khởi tâm tà, lạm dụng “Ấn, Chú” của Phật, của Bồ Tát (để khống chế người, hãm hại người lành, làm trái ngược với “Tâm từ bi” và khắc với “Tâm ý” của Phật, của Bồ Tát), thì nó sẽ phá tác rất nhiều, hậu quả (đọa đày) cũng sẽ vô cùng tận !

    Phải cẩn thận điều nầy.

     

    Người đời có quá nhiều thứác tâm, tham, sân lẫy lừng và thường mong cầu (toàn những sự việc mà không thể nào ban cho được), lại lười biếng không chịu tự bản thân tìm cầu học hỏi chi cả, không chịu tu tập, không chịu hành trì đúng theo chánh pháp (của Phật dạy), không chịu bố thí, không chịu làm những điều thiện, chỉ muốn tất cả tiền tài, danh lợi và mọi sự ham ưa phải rơi vào hết trong tay của họ mà thôi. Họ đã không sợ chết, không sợ tội, không sợ đọa đày, không sợ hậu quả nên thẳng tay giết hại người nhiều không kể xiết chỉ vì một chút hư danh!

     

    Nhiều người không biết rằng:

    Tất cả thần Chú của Phật của Bồ Tát rất là diệu dụng, xem như là một câu thần chú “như ý”, có công năng cứu người ra khỏi tất cả sự khổ nạn, đưa người thoát khỏi cảnh đọa đày, giải thoát ra khỏi 3 cõi, 6 đường, chứ không thể làm trái ngược lại theo những tâm ác của người đời được, sẽ bị quật ngược trở lại phá tác ngay; thì kết quả sẽ không tốt. Hễ khởi những tâm ý xấu, ác muốn hại người như thế nào, thì sẽ chuốc lấy hậu quả y như vậy.

     

    “Ngậm máu phun người dơ miệng mình,” cũng giống như ngước mặt lên trời mà phun nước bọt vậy.

    Vì thế, người trì chú Hộ thân, chú Đại Bi, chú Lục Tự Đại Minh và những chú khác (của chư Phật, chư Bồ Tát) bắt buộc phải có lòng thành kính, tâm ý phải thanh tịnh và trong sạch để trì Chú, chỉ được mong cầu những điều tốt đẹp cho người, ích lợi cho người, cứu độ cho người thoát khỏi cảnh khổ,  chướng nghiệp khảo đảo,  nạn tai đang xảy ra khắp nơi,  nếu có tâm ý tốt tạo phương tiện và dẫn dắt người tu tập theo chánh pháp v.v… thì mới xử dụng Ấn Chú được cho bất kỳ một trường hợp nào (không có mang lỗi).

     

    Tà nhơn thuyết chánh pháp, chánh pháp biến di tà,
    Chánh nhơn thuyết tà pháp, tà pháp xu bội chánh.

     

    Khi trì Chú, phải giữ lòng trong sạch, hạnh Bồ Tát, lòng Từ Bi phát khởi thì mới có thể phát huy được TÂM LỰC, THẦN LỰC sẽ bay xa ngàn dặm, tâm ý trong sáng của người đang trì chú đến tận 10 phương chư Phật, sẽ được hằng hà sa số chư Phật, chư đại Bồ Tát phóng quang chiếu sáng bao bọc cho người đó, thì đâu sợ gì không được cảm ứng đạo giao, đạo lực ngày càng thêm thăng tiến, sở cầu luôn được như ý. Mọi việc từ trong gia đình (thân tộc) cho đến việc ngoài đời cũng đều được tốt đẹp hết cả.

     

    Lòng “thương” của chư Phật, của đức QUÁN THẾ ÂM Bồ tát (nói riêng) và chư đại Bồ Tát ở khắp 10 phương (nói chung) đối với chúng sanh vô bờ bến.

     

    Quý Ngài luôn cảm nhận được tất cả tâm ý của chúng sanh, nhưng TÂM của chúng sanh không được trong sạch, Ý(tưởng) rất là không lành và luôn bị che lấp bởi những điều sái quấy, sân hận lẫy lừng, tham danh, đoạt lợi, hại người lành một cách dữ tợn, do đó mà không thể nào giao cảm được với chư Phật, chư Bồ Tát.

    Quý Ngài chỉ biết yên lặng đứng nhìn mà rơi lệ, Bồ Tát kề cận với một chúng sanh đang đau khổ, đang trong hoạn nạn, mà không thể nào giao cảm được cả, cũng không thể nào cứu độ được cho những chúng sanh đó.

    Bồ Tát rất đau lòng vì muốn giảng giải, muốn chỉ rõ cho chúng sanh hiểu cũng rất khó, vì lời dạy của Bồ Tát không thể nào lọt hết vào tai của chúng sanh, nên phải mượn tay người để cứu người là như vậy.

     

    Cho nên người mà chuyên tâm, nhất tâm trì Chú, xem như có Bồ Tát đang đứng trước mặt, mà chân thành sám hối và tu sửa thân tâm được trong sạch, thì sẽ đạt được cái “Tâm lực, Trí lực, Thần lực” cực mạnh, sẽ được cảm ứng đạo giao với PHẬT, với BỒ TÁT. Điều này không có gì là khó tin, khó hiểu cả.

    Mây tan vầng nguyệt rạng, nước cạn trái châu bày, Tâm trong sáng thì Phật hiện. Thiên tai cũng không nổi  lên được.

     

    Một khi tâm (căng thẳng) của chúng sanh lắng xuống, tâm được AN rồi, sẽ phát khởi được cái Tâm “từ bi hỷ xả” (không còn ác, tham lam, sân hận, đố kỵ, ganh tỵ và chấp nhứt nữa). Mọi người sẽ trở thành một cái máy phát trật tự và hòa bình trong xã hội, an vui mãi mãi.

     

    Nếu chúng sanh tập phát khởi “thiện tâm” nhiều hơn, nhất dạ hành trì pháp môn “Mật Tông Tịnh Độ”(song tu)do cố Hòa Thượng THÍCH THIỀN TÂM khai sáng, và thực hành y theo lời dạy của Quán Thế Âm Bồ Tát, thì sẽ giải được Thiên Tai, vàbảo đảm cho bước đường “giải thoát”cùng“vãng sanh”ngay trong đời này.

    Nam Mô A DI ĐÀ PHẬT tác đại chứng minh

    Read more »
  • Suy Gẩm Về Cuộc Sống.

    Đạo PHẬT vừa là triết học vừa là tôn giáo, đạo dạy ta sống hòa nhập với cuộc đời, mà cuộc sống là vô thường, sinh-lão-bệnh-tử không ai thoát khỏi. Sống tốt đẹp là  phải biết nhìn lại chính mình (Phản quang tự kỷ) xem mình có làm phiền ai không?, mình có phá vỡ mối liên hệ cộng đồng xã hội quanh ta hay không? Mình có làm điều gì ác hay không? Ta có vượt qua được chướng duyên và những nghiệp xấu hay không. Điều đầU tiên trong 14 LỜI đạo dạy "KẺ THÙ LỚN NHẤT CỦA ĐỜI NGƯỜI ĐÓ LÀ CHÍNH MÌNH"

    Đừng bao giờ trách móc bất kỳ ai trong cuộc sống của bạn.

    Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc…

    Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm…

    Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học…Và… người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm.

    Đừng hứa khi đang… vui!

    Đừng trả lời khi đang… nóng giận!

    Đừng quyết đinh khi đang… buồn!

    Đừng cười khi người khác… không vui!

    Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.

    Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe.

    Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi.

    Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta.

    Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người).

    Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức.

    (trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t… ngơ ngác một mình với giờ phút dài thăm thẳm!)

    Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu. Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám.

    Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu.

    Đừng lo lăng nhiều qúa về con cái vì con cái có phần số của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống riêng. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng.

    Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn.

    Các con vô tình thì có thể sẽ tranh giành của cải của bạn ngay khi bạn còn sống, và còn muốn bạn chóng chết để chúng có thể thừa hưởng các bất động sản của bạn.

    Các con của bạn cho rằng chuyện chúng thừa hưởng tài sản của bạn là chuyện dĩ nhiên nhưng bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng.

    Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ. Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)?

    Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.

    Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi.

    Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng.

    Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng bạn hãy so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ… Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn…

    Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.

    Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”.

    Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.

    Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thừơng xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.

    Và nhất là biết trân qúy những điều tốt đẹp quanh mình và còn Bạn bè nữa… họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình… Không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.

     

    Read more »
  • Hành Giả Tu Thiền cần biết - Ma Thế Gian.

    Người Dụng Công Tu Thiền
    Phải Biện Rành Mười Thứ Ma

    —o0o—

     Người ngộ Ðạo tu thiền, bởi chẳng phải là việc tầm thường, nên dễ bị các thứ ma trong ngoài não loạn chánh định. Nếu tự mình không làm chủ được, liền sinh ái trước các cảnh. Nhân cảnh tâm động, kẹt vào rọ ma. Thế thì, vốn là nhân lành, trái lại gặt quả chẳng lành. Kẻ sơ cơ đời sau nên thận trọng đề phòng đó.

    Ở đây, nêu ra 10 điều biện ma, tự phải gẫm xét. Gặp tâm ma và thiên ma nên dùng trí tuệ quán chiếu, ma nghiệt liền tiêu. Tâm nhơ nếu sạch thì các chướng tự bặt, cái gì lại sợ thiên ma? Nó làm gì mê hoặc được tâm người chơn chánh? Nay 10 thứ ma này sẽ thuật rõ sau đây:

    Bởi mười thứ ma này vừa nêu nó hay làm nhiễu loạn kẻ mộ Ðạo tu hành, nhất là người tu Thiền chơn chánh, nên các hành giả phải đề phòng cẩn mật.

    1. Ma Oan Nghiệt Nhiều Ðời

    Loại ma này chính là nghiệp chướng nhiều đời của ta. Bởi từ nhiều kiếp đến nay, chúng ta bị luân hồi, quanh quẩn trong phàm vi, lầm tạo những nghiệp chẳng trung, chẳng hiếu, chẳng nhân, chẳng nghĩa. Sát, đạo, dâm, vọng, tham, sân, si, ái. Kết chặt những oan gia đời nay gặp gỡ. Trong khi chúng ta muốn học đại đạo, nó lại quấy nhiễu chẳng an, làm chướng ngăn việc tu hành khiến chẳng thành tựu được. Chúng ta phải hổ thẹn khẩn thiết cầu sám hối. Trông mong uy lực Tam Bảo gia hộ khiến những oan nghiệt nhiều đời đó tự sẽ tiêu diệt, tự nó thối tan.

    Lại, chúng ta phải phát nguyện lớn làm lợi ích tất cả chúng sanh, để mau được quả vô lậu, chứng Ðạo Bồ Ðề.

    Là kẻ mới học tu Thiền phải tự sám hối và mãnh tỉnh lấy.

    Chú
    Luân hồi tiếp nối, biển khổ mênh mang chúng sanh trôi giạt, hạt bụi trời kẻ chưa tỉnh không làm thế nào nhận ra sự kiện này! Ai là kẻ biết được ngày mai của mình ra sao? Và thấy được oan khiên túc trái của mình thế nào? Có kẻ nghe nói: ” Tuổi thọ của ta sánh bằng trời đất”, liền bảo: “Gớm thế! Ta là quái gì mà tuổi thọ thênh thang và mênh mang đến thế!”. Người xưa nói: “Sanh như đắp chăn bông. Tử như cởi áo hạ” là đạo lý gì? Thử nói xem! Chỉ thêm một trường huyễn mộng. Tuy nhiên, chỗ thênh thang mênh mang này ít người vào, không ai chịu nhận. Thì thôi, cứ rong chơi cho hết cuộc phong trần. Một lúc nào đó, quày đầu nhìn lại đoạn nhân duyên phù trầm này, chắc y không khỏi một phen tan thân mất mạng. Thế nhưng, nếu chưa phải là hạng đại lực lượng thì phải ai khẩn sám hối, nương uy lực vô song của Tam Bảo, mọi mộng mơ phía trước tiêu tan. Ðã thế, lại cần phát đại nguyện như hư không, vào cõi huyễn, độ chúng sanh huyễn, để hoàn thành Phật đạo như huyễn.

    2. Ma bên ngoài đến làm mê hoặc

    Loại ma này còn gọi là người làm chướng, kẻ bất tín hay nhỏ mọn. Sang hèn chẳng đồng bực. Họ não loạn định tâm khiến người tu chẳng được yên ổn. Nói chung là do hành giả tự thiếu quyền chước, hoặc thiếu lễ nghĩa, hoặc tự cao, hoặc ngã mạn, hoặc hay nói thẳng, hoặc hành động thô, hoặc dựa thế lực, hoặc ỷ tài hơn, hoặc nói ác, hoặc cho mình giỏi, hoặc nói điều dở của người, hoặc thiếu dáng vẻ hòa dịu, hoặc không cung kính, hoặc lượng hẹp hòi, hoặc thiếu nhẫn nại nên người chẳng tin. Họ làm hoặc loạn việc tu hành khiến tâm động niệm, che chướng bản minh. Kẻ mộ đạo lớn, phải tự hạ mình, nuôi dưỡng đạo đức, mới khỏi người ngoài làm chướng. Người trong Tông môn đời sau nên học đức khoan dung nhẫn nại cố gắng hành Ðạo.

    Chú
    Luận về tánh giác thì vật vật như nhau, người người bình đẳng, nhưng căn trung hạ cần đức hàm đạo dưỡng mới xong. Nếu kém đạo kém đức, thêm nỗi mê mờ dầy cộm thì đường tiến thiên nan vạn nan. Lối sống người đời còn dạy: “Với mình thật nghiêm cẩn, xử thiên hạ thì hạ mà khoan”, huống là đạo lớn giải thoát, lấy trí tuệ làm gốc, tiêu diệt bản ngã là chỗ đắc lực, mà còn u mê ôm ấp những tình chấp ngô ngã hẹp hòi đó được ư?

    Phật dạy: “Các hành vô thường là pháp sanh diệt”. Tổ khuyên: “Nên tiêu chảy đầy đất mới có chỗ an thân lập mạng”. Trên chiều dọc mà nhìn, chúng ta nhiều kiếp trôi lăn trong sáu nẻo, bởi đeo mang cái thấy hai: “ta người, kia đây, có không, xấu tốt” . Do đó và từ đấy mà xuống lên trong ba cõi, xoay quanh trong bốn loài. Chần chờ gì? Ðợi kiếp nào? Sao chưa một phen lay mình chuyển hóa, tạo một niềm vui, thắp sáng một niềm tin cho mai sau … Kìa nhìn xem!

    Trời đất liếc trông chừ sao thênh thang
    Chống gậy rong chơi chừ phương ngoại phương
    Hoặc cao cao chừ mây đỉnh núi
    Hoặc sâu sâu chừ nước trùng dương.

    3. Ma phiền não

    Ma phiền não cũng gọi là sự chướng. Người tu hành mà chẳng trừ được sự chướng thì rối rắm thánh đạo. Thế nào là phiền? Sao gọi là não? Phiền là chạy theo ngoại cảnh, não ấy là tự sanh trong tâm, người tu Thiền quyết phải dứt hẳn. Nếu chẳng dứt sớm thì tánh định khó hiện. Như thấy sắc tâm sanh là tâm dâm phiền não. Khi thấy giết tâm sanh là tâm ác phiền não. Thấy của tâm sanh là tâm trộm phiền não. Thấy vật tâm sanh là tâm tham phiền não. Với người sanh mạn là ngã tướng phiền não. Ðối kẻ thấp kiêu ngạo là phiền não tự đại. Gặp cảnh nghịch sanh sân là tâm khuể phiền não. Gặp cảnh thuận vui mừng là phiền não thích ý. Gặp oan gia sanh ghét là tâm hận phiền não. Cùng thân thích sinh ưa là tâm tư phiền não. Nói tóm lại: Với tất cả cái thấy bên ngoài mà trong sanh tâm thủ xả, đều là phiền não khó nói cho cùng. Thế nên những người tham thiền phải quyết dứt sự chướng. Sự chướng nếu chẳng không, chánh định bị não loạn. Người tu đời sau, đâu nên xem thường nó ư!

    Chú
    Còn lầm ngoại cảnh nên còn phiền não. Bởi chưa thấy thật tánh giả cảnh rối rắm, lăng xăng mờ ảo, tháo gỡ cách nào cho xong! Người xưa nói: “Vật từ cửa đem vào, không phải là của báu trong nhà”. Của báu trong nhà là gì? Mọi người sẵn có, luôn luôn đầy đủ, tánh tự bản nhiên, vào phàm vào thánh không đổi, không xanh không diệt, xưa nay bình đẳng, một đạo sáng suốt. Như đã nói, bởi thật giả chưa phân nên bao nhiêu điều vụn vặt trước mắt “Nắm đông bắt tây” luống sanh phiền bực. Ðáng thương! Cũng bậc vương giả, gặp loạn trầm luân, uổng đời trôi giạt, vùi thân trong chỗ bùn lầy, nát phận cùng loài man mọi. Mặt mũi thật xưa nay khó nhìn. Ðường về quê cũ vẫn còn diệu vợi, chưa dễ một sớm một chiều mà biết được.

    Khổ thay! Khổ thay!!

    4. Ma sở tri

    Ma nầy tức lý chướng. Người tu thiền mà lý chướng chẳng trừ, thì chánh định bị nhiễu loạn, không thể nào yên ổn được. Vì sao sở tri có lỗi như thế?

    Chính vì biết ta đắc ngộ, biết ta thông Tông, biết ta minh giáo, biết ta hội lý, văn ta lỗi lạc, ta thấy sâu rộng, ta giữ giới nghiêm, ta được chánh định, ta có trí tuệ, ta đã chứng không, ta được tự tại, ta không còn ngại, biết ta được thông, biết ta được diệu, ta đã chứng đạo, ta được thành Phật … Tất cả cái biết đó đều là lý chướng. Lý chướng này chẳng trừ, thì chấp pháp khó quên, chấp pháp chưa quên thì chân tâm chẳng hiện. Người trong Tông môn, nên phải tự xét. Sớm dứt chướng này.

    Chú
    Vừa quay lưng với giả cảnh lại nắm bắt nội tâm, cứ như thế mà chạy mà tìm, thật là một trường ảo mộng! Si mê lui, phiền não dứt, ma sở tri này thuộc pháp chấp nên khó đoạn. Hàng Bồ Tát đến Ðệ thập nhất địa vẫn còn chút sở tri ngu. Với loại ma này hành giả đã dầy công, chân trí đã phát triển, lại luôn luôn nhắm thẳng Phật đạo mà tiến, dần dần hàng phục nó.

    Tóm lại biên cương ma Phật không thật có. Còn thấy có hai, còn chấp là thế này, thế nọ, là ma. Phá vỡ các cái thấy biết hai bên thiên lệch “có không” đó, tiến thẳng vào vực Ðệ Nhất Nghĩa không, tức là Như Lai địa bất sanh, bất diệt. Khi này, cả hai danh từ Phật ma không chỗ lập cước, không còn bóng dáng pháp hay phi pháp, tất cả quét sạch là chỗ “không pháp có thể tu, không Phật có thể thành”. Chỗ này tối kỵ lý thuyết suông, phải buông thân mạng, nỗ lực hành trì mới có chút phần tương ưng. Cố gắng! Cố gắng!!

    Hình ảnh và lời quả quyết của bậc Ðại Sĩ dưới cội Bồ Ðề năm xưa như còn đồng vọng: “Nếu không đạt Ðạo dù thân này tan nát thành tro bụi, ta quyết chẳng rời chỗ ngồi này”.

    Dũng mãnh tinh tấn vô biên! Lời cả quyết của đấng cha lành ba cõi. Từ bi tri tuệ vô tận! Lời quả quyết của bậc Ðạo Sư muôn loài! Lời quả quyết cuả Người, gông cùm ba cõi tiêu tan. Ánh huệ nhật chiếu rạng, quét sạch mọi mê mờ của chúng sanh.

    Chúng con, những chúng sanh bất hạnh! Chỉ nương chút âm vang diệu vợi của người. Ðau đớn, cố gắng, nguyền xếp mình làm tròn di huấn muôn thuở.

    5. Ma tà kiến

    Ma này thường gọi là chấp chướng. Người tu thiền định muốn khỏi rơi vào định tà, thì phải dứt tà kiến. Vì sao tà kiến làm mất chánh định như thế?

    Bởi các cố chấp như: Chấp tánh chẳng hoại gọi là chấp có, chấp tánh vốn không gọi là chấp không. Chấp vốn bất tử gọi là chấp thường. Chấp theo hơi hám diệt gọi là chấp đoạn. Chấp không sanh ra có là kiến chấp thuộc tự nhiên. Chấp khí hóa ra hình là thuộc chấp tà nhân… Như thế gồm các loại cố chấp chẳng có, chẳng không, tức có, tức không và tất cả tà chấp, tà kiến, nhân duyên tự nhiên, đều chẳng rời hai đầu có không, đoạn thường, tự chướng bản lý, dần dần xa vào các ngõ tẻ.

    Chú
    Còn thấy hai, còn vọng tưởng; muốn dứt vọng tưởng, chớ thấy hai. Muốn đến chỗ chẳng thấy hai, chỉ một phen “biết vọng liền buông”. Buông hết, bố thí sạch, tự nhiên yên ổn. Người xưa nói: “Tìm tâm chẳng được”. Chỉ câu “tìm chẳng được” này là chỗ dứt bạch sạch hết, chẳng còn gì để mò bắt. Thế nên, liền khi đó được xác minh một cách tỏ rằng: “Ta đã an tâm cho ông rồi”. Thật là một thủ thuật giản dị lạ thường, chưa từng có, là phương pháp không phương pháp, không để dấu vết,là không tam muội. Chỗ độc đáo này chỉ thầy trò tương đắc, người ngoài không chỗ dùi mài. Tuy nhiên cửa cam lồ đã mở, lòng từ bi của Phật Tổ tràn khắp nơi nơi. Chúng ta phải tự nỗ lực, không việc gì ngoài mình, đừng chạy lăng xăng vô ích. Người tu hành nào không điều được tâm, cứ để buông lung, ruổi theo cảnh ngoài, sẽ vướng các chấp, hoặc có, hoặc không, hoặc đoạn, hoặc thường…

    Xa dần chánh đạo, bản lý bị chướng. Bản lý tức là pháp môn không hai, cũng chính là Trung Ðạo Ðệ Nhất Nghĩa không. Bản lý này đã không sáng, tức nhiên các lối tẻ hiện bày và như thế hành giả này lạc vào đường tà bị tà ma ốp. Thân tu Ðạo chánh, tâm đã theo tà, miệng nói việc tà, dự trước đoán sau, lấy làm kế sống. Lâu dần tà lực cũng mất. Hành giả tự mất thăng bằng, hiện thân mang họa. Cuối cùng bị đọa đường ác.

    Thế nên các thiền giả thận trọng từng bước, chớ vọng cầu, phải triệt để hoàn toàn cơ sở chấp ngã. Ðồng thời mạnh mẽ siêng năng áp dụng công phu quyết một đời xô ngã núi sê mi, phá tan hành trì ngã chấp. Nên nhớ! “Nam nhi tự hữu xung thiên chí …” Vừa nói gì ??

    6. Ma vọng tưởng

    Ma vọng tưởng này là tự chướng. Tự chướng chẳng không thì dòng sanh diệt tiếp nối, điên đảo tán loạn che chướng bản tâm, do đó người tham Thiền cần phải lưu tâm nhiều ở điểm này. Nay xin đưa ra một vài vọng chướng tiêu biểu để trình bày như:

    1.      Vọng tưởng ta ngộ đạo

    2.      Vọng tưởng ta tu chứng

    3.      Vọng tưởng ta được định

    4.      Vọng tưởng ta phát Huệ

    5.      Vọng tưởng ta biết nhiều

    6.      Vọng tưởng ta giỏi văn

    7.      Vọng tưởng ta có danh hiển đạt

    8.      Vọng tưởng nhiều người cung phụng ta

    9.      Vọng tưởng ta làm thầy thiên hạ

    10.  Vọng tưởng nhiều người qui hướng ta

    11.  Vọng tưởng ta nối tiếp Tổ đăng

    12.  Vọng tưởng ta sẽ làm trụ trì

    13.  Vọng tưởng ta hoá Ðạo

    14.  Vọng tưởng ta truyền lục

    15.  Vọng tưởng nhiều người nối dõi ta

    16.  Vọng tưởng ta sẽ được nhập tạng

    17.  Vọng tưởng ta có thần thông

    18.  Vọng tưởng ta được huyền diệu

    19.  Vọng tưởng ta rất kỳ đặc

    và có nhiều quái lạ như: ta sẽ sống lâu, ta sẽ cải lão hoàn đồng, ta sẽ bay cao, ta sẽ thành Phật… Các cuồng vọng như thế làm rối rắm động niệm, trái với chân thể thanh tịnh của mình. Vì thế, người sơ cơ học Ðạo phải biết mà dứt nó.

    Chú
    Mê mờ bản lý, nên điên đảo vọng tưởng. Vọng tưởng sinh động thì bản tâm bị che chướng. Loanh quanh mãi trong mê mờ cuồng vọng, tức chân thể thanh tịnh chìm lặng. Khác gì kẻ đi trong đêm đen không đèn đuốc. Người xưa nói: “Ðất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự chiếu”. Nơi đây chúng ta có thể nói cách khác rằng nếu chúng ta chịu dừng thì chuyện gì điên đảo? Vọng tưởng là gì? Thử nhìn lại xem! Vốn dĩ là ảo mộng mà! Lỗi chúng ta cứ chấp rồi lao theo. Lao theo nên điên đảo. Ðã điên đảo thì vọng càng thêm vọng. Ngay đây nếu chúng ta biết dừng, còn gì lăng xăng nắm bắt! Còn chăng hư không thênh thang rỗng suốt, cái gì mê mờ chướng ngại cái gì? Thử nói xem!

    Tóm lại là chúng ta có chịu dừng hay không? Dừng thì trời “Không” sáng suốt, đất tâm yên ổn, huệ nhật hằng soi, thiếu sót chỗ nào?
    Trái lại rong rêu mải miết, nên hóa điên cuồng. Khổ thay! Khổ thay!

    Có thi rằng:

    Lớn thay! người sức mạnh
    Biết vọng liền khôngtheo
    Quê xưa trăng tỏ rạng
    Tùng xanh tiếng suối reo
    Khoái thay! người biết vọng
    Miền “chân không” mở ra
    Ðường xưa tự bày hiện
    Quê nhà thật không xa
    Hương quê thoảng trăng sao
    Tình quê miền bất nhị
    Hư không trải gấm hoa
    Người quê một mình đi
    Gió ngát hương giải thoát
    Hoa đơm đóa từ bi
    Tuyết tuôn thành định lực
    Trăng soi bất tư nghì

    Một tiếng quát!

    7. Ma khẩu nghiệp

    Ma này là cuồng chướng. Người tu mà chẳng kiểm điểm ngôn ngữ của mình mặc ý cao đàm hùng biện, làm tổn thần lao niệm, sẽ mất Thiền định chân chánh. Nhân sao mà khẩu nghiệp có lỗi lớn như thế? Bởi hay: Ðàm huyền thuyết diệu, giảng giáo nói tông. Khoe mình đắc ngộ, chê người ngu mê. Luận chỗ hay dở. Nói điều phải quấy của người. Ngâm ca thi phú, nói bừa những việc không đâu. Bình nghị những việc hưng phế xưa nay của quốc gia, xưa thì cho người hiền mà ngu, nay thì bảo người hung mà giỏi. Toàn những việc chẳng dính líu về mình mà cứ gân cổ tranh luận. Lại vô cớ khen chê việc hơn thua của người. Phô diễn các cảnh dục lạc, khiến người sanh đắm trước. Bàn cãi những chuyện bất bình làm cho kẻ nghe phát phẫn. Trước mắt thì công kênh đề cao. Sau lưng thì lại chê bai biếm nhẽ. Ðó là những lời nói lợi hại làm mất chánh định của người. Người tu Thiền đời sau phải thận trọng nghiêm ngặt. Bởi loại cuồng chướng này, chẳng những làm cho chúng ta chẳng kiệm ngôn, dưỡng đức mà còn khiến cho tâm chúng ta tán động.

    Thế nên những kẻ sơ cơ, phải ngừa phòng khẩu nghiệp cẩn thận!

    Chú
    Ba nghiệp thân miệng ý. Miệng có bốn lỗi là: nói lời dữ, nói dối vọng, nói thêu dệt, nói hai chiều. Công phu đến đây, hành giả không khéo điều phục khẩu nghiệp có thể sanh ra đại ngôn cuồng vọng, buông lời bừa bãi làm chướng ngăn con đường vào thánh. Vì lẽ đã có chút công phu, lại nếm trải và thu hoạch phần nào kết quả trong sự tu tập, luôn luôn hành giả tự thấy mình được chút gì gì đó gọi là “sở đắc”. Từ căn cứ này, nếu tâm chưa thật an thì chính “chút sở đắc” đó làm hại hành giả. Ngay đây, người có mắt sáng liền khám phá kịp thời những cuồng vọng, tạo thế an bình cho chánh định. Trái lại, với người biện biệt chưa rành, thủ thuật chưa khéo thì ngô ngã phân ranh, si mê chồm dậy. Cứ thế buông xuôi lao theo, chẳng khác nào thùng rỗng khua vang. Thực tế mà nhận sở đắc gì? Mình được cái gì? Tương lai mù mịt, đường trước lờ mờ. Dự phóng gì? Nhìn trước ngó sau, khối si mê nhiều kiếp chưa chuyển nổi, núi nhân ngã lâu đời chưa đập tan. Khổ thay! Ngồi đó mà khua động môi lưỡi. Chính mình chưa yên, thì nói gì đến việc hay dở của người, sự hưng phế của nước. Thì thôi! Ðã biết nói nhiều loạn tâm tổn thần, thì sao ngang đây chưa chịu dứt bặt, sống lại cho chính mình để tâm mình được an ổn, định lực của mình được kiên cố. Tóm lại:

    Người hay nói – Loạn
    Người nói nhiều – Tổn

    Người xưa bảo: “Hãy bịt lỗ đít lại mới có chút phần tương ưng” . Lời này của người xưa, bọn ta hết chỗ cắm mỏ. Khoái thay!

    8. Ma bệnh khổ

    Ðây là khổ chướng. Thân có nhiều bệnh tật là do nghiệp nặng. Hoặc tự mình làm mất sự điều hòa, biến sanh các thứ bệnh, làm cho người học đạo tu hành chẳng an, chẳng thọ dụng được pháp lạc thù thắng. Nay xin nêu dẫn một vài điều thiết yếu để người tu hành đề phòng.

    Trước hết phải điều hòa tì vị, chỉ nên dùng những thức ăn thích hợp với cơ thể. Bớt ăn những vị quá đậm đà. Chớ ăn đồ sống và lạnh, khi đói chớ tụng đọc, khi no chớ làm việc nặng, sau khi ăn không nên ngủ liền. Về đêm chớ ăn no quá.

    Tóm lại người ưa ăn những thứ nhừ nát, hoặc thích những thứ rang nấu. Khoái ăn đồ ướp ngũ vị, dùng nhiều những thứ không hợp với thân. Lại, ngồi thiền chỗ đất thấp, ngủ nghỉ chỗ gió nhiều. Lúc ra mồ hôi mà xuống nước. Ðang dang nắng mà dùng đồ lạnh mát. Tắm rửa ngoài trời trống gió, ngủ nghỉ dưới chỗ nhiều sương. Cùng các trường hợp: no quá, đói quá, mừng quá, giận quá, nóng quá, lạnh quá. Chỗ mưa nhiều, sương nhiều, trong thương ngoài cảm tất cả tại lỗi không biết điều hòa, nên hay sinh các chứng thương nhọt, thân không làm sao an được. Kẻ tu học đời sau phải biết để phòng bị đó.

    Chú
    Người tu hành trước nhất phải thấy thân này và ngoại cảnh đều không thật, là báo nghiệp không tự tại của mình. Nó hư giả, mỏng manh, bại hoại, là pháp sinh diệt vô thường. Tuy nhiên chúng ta cần nó, đang dùng nó trong việc tu hành thì phải điều chỉnh thế nào cho nó được yên ổn,để Ðạo nghiệp của ta được viên mãn. Kinh nghiệm sống ở đời. Việc ăn uống ngủ nghỉ, chúng ta phải luôn luôn điều hợp thích đáng. cái gì thái quá hay sanh bất cập. Ðã vậy việc áp dụng thân tâm tu hành hàng ngày chúng ta cũng phải tiết chế, không nên cố chấp. Như ta đã biết, thân này tạm bợ như rắn độc chung lồng, việc kích động chống trái nhau không lúc nào vắng thiếu. lại thêm cảnh nóng lạnh bức ngặt bên ngoài phụ họa, làm cho đã khổ lại càng khổ, nên nói: “khổ, khổ”. Chúng ta là người đã thấy được phần nào nguyên nhân các khổ. Chúng ta cũng có sẵn phương pháp dứt trừ nguyên nhân các khổ đó. Nắm chắc bảo đảm và rõ ràng. Như vậy chúng ta còn ngần ngại gì? Chần chờ lúc nào nữa? Chưa chịu hạ thủ cho rồi? Người xưa nói: “Nay đây quyết một đời này cho xong”.

    Chúng ta cũng thấy rằng: “Muốn dứt tai ương về sau, ngay đây phải quyết định. Trong lúc chúng ta còn đủ sáng suốt, đủ điều kiện, nắm sẵn cơ hội trong tay, mà chúng ta chưa chịu dứt khoát còn đợi gì nữa?”

    Chớ để ngày qua, già suy bệnh hoạn thân thể suy hao, tinh thần mờ tối, chẳng đủ sức dụng công đắc lực, không còn hạ thủ một cách quyết liệt nổi. Gắng lên!

    Cảnh huyễn, người huyễn, ta mượn tạm các cái huyễn để làm việc huyễn, mọi việc xong rồi huyễn pháp đều buông. Tổ sư nói: “Thân huyễn nhà mộng, vật sắc hư không đời trước không định, kiếp sau đâu thông. Xuống lên xuôi ngược, thay đổi mất công, ba cõi ràng buộc biết thuở nào xong…”

    Ngay đây quyết định là xong, một buông tất cả đều buông, không thì nhiều kiếp mang tai họa! Cố gắng! Quỉ dữ vô thường không phân biệt thân sơ, chẳng nhận đồ đút lót. Chúng ta tự liệu trước, việc đến trở tay không kịp, khi đó kêu khổ ai cứu cho? Chi bằng ngay bây giờ tự xoay lại mình hỏi thử: Ta là gì? Ôi chao!

    9. Ma Hôn Trầm

    Tức là chướng ngại của ngủ nghỉ quá nhiều. Nếu người tu hành không tự rèn luyện để thời gian ngủ nghỉ quá nhiều thì chân tâm chẳng sáng, tánh huệ lặng chìm, sẽ rơi vào chỗ mờ tối, núi đen hang quỷ. Nguyên nhân nào mà ngủ nghỉ nhiều sanh chướng như thế.

    Ðấy cũng bởi do ăn nhiều, dùng toàn chất vị đậm đà. Nói nhiều tổn hơi, thân nhọc, tỳ khốn tinh thần không minh mẫn, hơi trược hỗn loạn. Kẻ ngu si nhiều bực tức, lại lười nhác buông lung, chẳng nhớ việc sanh tử, chỉ thích vui giả tạm. Người dụng công tu hành phải khắc tỉnh tinh tiến, noi gương người xưa dùng đùi đâm bắp thịt, đụng đầu vào gốc cột, lạy Phật và đốt đèn, đi kinh hành chỗ hiểm, thân chịu khó mài luyện, ma ngủ mới nhẹ dần. Kẻ thiếu khổ luyện hay mặc tình rong rêu, chân tâm bị mờ tối, những người tu thiền, dũng mãnh hàng phục chướng nàỵ

    Chú
    Các chướng kể trên trừ oan chướng nhiều đời và cách đề phòng những lỗi thái quá trong lúc dụng công. Ngoài ra đều do hành giả chưa nhận được bản tâm, chưa thấy thật tánh, rong ruổi bên ngoài, cuồng loạn vọng tưởng mà gây nên. Nay xét về những chướng ngại của ma ngủ như đã nói: “Cái gì thái quá thì sanh bất cập”. Cũng vậy để cho ma ngủ tự do quá, thì việc dụng công cuả chúng ta không tiến. Tâm huệ không phát là ngủ ngà ngủ gật, thiếu sự sáng suốt là cảnh giới núi đen hang quỉ. Người tu hành lọt vào đó, họa tan thân mất mạng không thể tránh khỏi, nói gì là tiến đạo nghiêm thân? Hơn nữa ma ngủ cùng loạn tưởng là hai ác chướng khó trị nhất của các thiền giả. Có thể nói rằng hai chướng này là hai gọng kìm luôn luôn kẹp chặt hai đầu, bao vây hành giả, lẩn quẩn trong đó. Với hai chướng này, hành giả phải siêng năng, mạnh mẽ lập thệ quyết định buông bỏ thân mạng khắc trị bọn chúng đạt Ðạo mới thôi. Mặt khác hành giả phải khẩn cầu sám hối những chi tập đời trước, đồng thời phòng bị nghiêm nhặt không để cho chúng có cơ hội nhỏ nào hẻo lánh được. Hội đủ những điều trên rồi, hành giả còn phải khéo léo điều thích thân tâm đối với ngoại cảnh, chớ nên để lệch ngã mà lý sự phải viên dung. Ngừời xưa bảo: Khắc chữ Tử trên trán.
    Hoặc phải nhớ khẩu hiệu: Sinh tử việc lớn vô thường nhanh chóng.

    Trong lúc dụng công, hành giả chỉ một bề ngó thẳng tới trước mà tiến. Quăng ném tất cả sở hữu, dẹp bỏ liên hệ chung quanh, ngay khi nhào nặn công phu không để việc ngoài dính mắc. Giả sử ốm đau cũng được, đói khổ cũng xong, lành lặn cũng được, rách rưới cũng chả sao, sống đến 120 tuổi cũng được, ngã chết tại chỗ cũng thế thôi. Tóm lại, đối với cảnh ngoài thế nào cũng được, hành giả chớ nên bận tâm, chỉ dồn mọi nỗ lực, áp dụng công phu sao cho đắc lực, được như thế mới có ngày xong. Người xưa dùng dùi đâm vào bắp thịt, đụng đầu vào gốc cột…Gương sáng còn đó, chúng ta phải lấy đó noi theo, chớ cho dễ dàng, để một đời trôi suông vô ích.

    Trong phần nói về ma oan nghiệt nhiều đời ở trước và phần nói về ma mê ngủ này, ngoài cách tự tỉnh, tự tiến, còn dặn hành giả phải khẩn thiết sám hối. Ở đây, theo thiển ý của bút giả, xin nêu ra phương pháp sám hối có hai:

    1.      Tác pháp sám hối – Cách này như trong các kinh Ðại Thừa dạy: Sám hối bằng cách thống trách tự mình, ai khẩn trông cầu mười phương Tam Bảo xót thương chứng biết. Lại phát chí kiên quyết dứt bỏ những lỗi lầm đã gây. Ðồng thời nương vào bi trí vô biên của mười phương Tam Bảo, nguyện giữ vững tâm niệm, sống theo lời dạy của các Hiền Thánh.

    2.      Tâm niệm sám hối – Sám hối tự tâm, tức là trong sinh hoạt hàng ngày. Vừa có một niệm khởi lên liền buông không theo. Luôn tự khám phá, khéo làm việc này cho được liên tục. Càng buông định lực càng mạnh. Huệ giác càng sáng, được thế oan nghiệp nhiều đời sẽ chuyển. Vọng nhiễm chấp trước truyền kiếp tiêu tan. Huệ-không bày hiện. Khi này, gì là tội? Sám hối cái gì?

    10. Thiên ma

    Loại ma này chẳng giống các ma kể trên. Ðây là người tu hành chân chánh sắp được chứng Ðạo. Tâm tình đã thông hợp trạm nhiên chẳng động, khiến bọn thiên ma và các quỉ thần thảy đều kinh hoảng, cung điện của chúng sụp đổ, cõi đại địa chấn động. Ma chúa mất hồn, ma dân té hoảng. Các loại ma mị, phần nhiều có ngũ thông, bọn chúng kéo đến não loạn hành nhân làm cho chẳng vào được vị thánh. Chúng biến các cảnh quái dị, và các cảnh dục làm rối loạn tâm định của hành giả. Nếu trong tâm hành giả vừa có mảy may niệm thủ xả, thì bọn kia nắm được tiện lợi. Hành giả sẽ bị hại, tự phát điên cuồng cho rằng mình thành Phật. Hiện đời không thoát khỏi vương pháp. Khi chết sa vào ngục vô gián.

    Vì thế những kẻ tham thiền, phải chánh niệm phân minh, trí huệ luôn sáng suốt, một lòng thường chẳng động. Mặc cho bọn ma kia tác uy, tác quái, ta như chẳng thấy, chẳng nghe. Dùng chánh định hàng ma như thế, tự nhiên loài ma mị tiêu diệt. Các hành giả đời sau dè dặt biện rành đó.

    Chú
    Ma cũng tự tâm, không ma cũng tự tâm; ma, không ma gì cũng tự tâm; còn mống tâm dấy niệm là còn tâm ma. Từ trên mười thứ ma chướng, chẳng ngoài tâm ta mà có ra. Tâm ta nếu lặng yên chẳng động, ngàn thánh còn chẳng biết, huống loài ma mị làm gì biết được.

    Tuy nhiên các hành giả trong Tông môn là người tu hành chân chánh phải luôn luôn phòng bị tâm mình cho cẩn mật, chớ để cho bọn ma mị bên ngoài có cơ hội thuận tiện. Công phu càng đắc lực, hành giả càng cẩn mật hơn, bởi tâm càng tịnh, ma lực càng mãnh liệt. Giai đoạn này chánh niệm phải tỏ rõ, trí huệ luôn chiếu suốt, tâm an trụ chẳng động. Ðã vậy, thì mặc cho loài ma quái kia quấy phá, khác nào bọn chúng nắm bắt hư không.

    Ðể đúc kết những điều trình bày trên, các hành giả sơ cơ nên nhận rằng: “Tâm là gốc, ma không ma gì cũng tự tâm ta. Tâm động ma loạn, tâm bất động là chỗ không thể nghĩ bàn, cảnh giới này ngàn thánh xuất thế cũng chẳng biết huống nữa là ma”. Như vậy:

    Muốn ngồi yên trị ma thì phải thế nào?

    Chỉ có bất động. Tâm bất động thì đất nước yên lành, các bóng dáng ma mị dứt bặt. Người xưa nói: Một tâm chẳng sanh, muôn pháp đều bặt”. Hoặc nói: Mê ngủ nếu không, các mộng tự trừ . Còn nói mớ, nói mộng làm gì?

    Source Quangduc

    Read more »
RSS