Niệm Phật Đường
Welcome
Login / Register

News - Tin tức


  • Tượng Phật bằng đồng lớn nhất Đông Nam Á

    Sáng 31/8, tại Nam Định diễn ra Lễ khánh thành Đại Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni và Đại hùng Bảo điện Trúc Lâm Thiên Trường.

    Đại Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni được đánh giá là pho tượng đồng nguyên khối lớn nhất Đông Nam Á hiện nay và có giá trị văn hóa, tâm linh lớn.

    Công trình Đại Tượng Phật Thích Ca Mâu Ni có chiều cao tổng thể là 20,28m với trọng lượng 150 tấn.

     

     

     

    Read more »
  • NGƯỜI KHÉO BẮT CHUỘT SẼ

    NGƯỜI KHÉO BẮT CHUỘT SẼ

    KHÔNG LÀM VỞ CÁC CHÉN KIỂU QUÝ GIÁ TRONG NHÀ

    Nhân vụ mua bán trẻ em xảy ra ở Chùa Bồ Đề, Long Biên, Hà Nội

    TT. Thích Nhật Từ

    Hỏi: Bạch Thày, thời gian gần đây có quá nhiều câu chuyện phiền não liên quan đến các nhà chùa, làm ảnh hưởng không tốt đến lòng tin của người dân nói chung và những Phật tử nói riêng với cửa chùa và các công việc thiện nguyện. Hơn lúc nào hết, con thấy những năm trở lại đây công tác từ thiện được mọi tầng lớp trong xã hội đặc biệt quan tâm và nhiệt huyết. Đáng lẽ ra những việc làm tốt đẹp này sẽ phải được “chắp cánh” để thêm nhân rộng, nhân sâu hơn trong cuộc sống nhưng những thông tin về nơi này nơi kia người ta mượn danh nhà chùa hoặc chính những cơ sở tôn giáo do quản lí lỏng lẻo, vô trách nhiệm (thậm chí có những nơi dung túng cho những hành động sai trái) đã làm cho niềm tin vào Phật giáo và công tác thiện nguyện bị thui chột. Con và bạn bè con – những người luôn mong muốn chia sẻ với những mảnh đời bất hạnh, kém may mắn – những ngày qua vô cùng phiền não và thất vọng. Chúng con thực sự hoang mang và không biết có nên tiếp tục làm từ thiện nữa hay không? Hay chỉ đơn giản nhất, lành nhất là về giúp đỡ chính những người họ hàng ruột thịt hay những người bà con làng xóm của mình – nơi mình biết rõ thực hư ra sao? Chúng con rất mong sớm nhận được lời khuyên của Thày! Con xin cảm ơn Thày!

    (Hoàng Như Mai, Hà Nội)

     

    TT. THÍCH NHẬT TỪ TRẢ LỜI:

     

    Đọc những dòng tâm sự của chị về “Câu chuyện phiền não liên quan đến các nhà chùa”, dù chị không nói rõ chùa nào, tôi đoán là chị ám chỉ vụ “bảo mẫu Nguyễn Thị Thanh Trang (viết tắt là bảo mẫu Trang) lợi dụng quản lý lỏng lẻo của chùa Bồ Đề đã buôn bán trẻ em.” Thông cảm với các mối quan tâm của chị cũng như nhiều độc giả khác, tôi mong chị và quý độc giả nên lưu ý những vấn đề sau đây:

     

    1. Nhà dột có nơi

     

    Vụ bảo mẫu Trang lợi dụng lỏng lẻo về phương diện quản lý của chùa Bồ Đề đã buôn bán trẻ em, gây ảnh hưởng tiêu cực đến hình ảnh Phật giáo nói chung và hoạt động từ thiện Phật giáo nói riêng, thực chất chỉ là trường hợp cá biệt.

     

    Khái niệm “nhà dột có nơi” là hình ảnh chuẩn xác có thể sử dụng để mô tả về tình trạng buôn bán trẻ em tại một trung tâm từ thiện (dù là của nhà chùa hay nhà nước). “Cơn bảo tố” truyền thông, theo hướng tả thực có, theo cách lợi dụng câu view cũng có, đã lạc dẫn độc giả đến độ, nhiều độc giả, trong đó có chị và nhiều Phật tử lầm nhận rằng đây là hiện tượng phổ quát. Từ sự ngộ nhận ngữ cảnh do tác động lạc dẫn của giới truyền thông, nhiều người “thực sự hoang mang” rồi trở nên hoài nghi khi tự vấn “không biết có nên tiếp tục làm từ thiện nữa hay không?”

     

    Thái độ hoài nghi về các hoạt động từ bi, nhân ái và thiện nguyện… có khuynh hướng làm “thui chột” niềm tin cao cả của con người vào việc từ thiện là điều nên tránh. Dầu không thể phủ định trách nhiệm của người đứng đầu chùa Bồ Đề trong việc quản lý lỏng lẻo, dẫn đến sự việc đáng tiếc, các nhà báo và độc giả không nên lầm nhận khi cố tình viết rằng “Chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em”! Thực ra trong vụ việc này, bảo mẫu Trang buôn bán trẻ em ở trong Chùa Bồ Đề, chứ Chùa Bồ Đề không làm việc thất đức đó.

     

    “Cửa chùa” trong văn hóa Phật giáo Việt Nam còn được gọi là “cửa từ bi và trí tuệ.” Thực hiện mở cửa từ bi, Tăng Ni thường làm các công tác từ thiện, trong đó, cô nhi viện là một hoạt động thiện nguyện, nhằm giúp các mầm non bất hạnh nương cửa Phật từ bi để có một tương lai tươi sáng.

     

    Bổ sung cho “cửa từ bi,” chùa còn có “cửa trí tuệ” tượng trưng cho sự dẫn đường soi lối đúng đắn mà trong ứng dụng bao gồm tầm nhìn đúng, nhận thức đúng, phương pháp đúng, quản trị đúng, giáo dục đúng và định hướng nghề nghiệp đúng cho các thành phần bất hạnh. Đừng vì một hiện tượng cá biệt, do ảnh hưởng lây lan của giới truyền thông theo hướng thiên cực, lạc dẫn mà ta trở nên chai sạn trước nỗi khổ niềm đau của các thành phần cơ nhở và bất hạnh.

     

    Một người lái xe bị tai nạn giao thông làm cho thương tật, do không tuân thủ luật giao thông, không thể bị cường điệu thành tình trạng “hễ ai tham gia giao thông đều gây tai nạn hay đều trở thành nạn nhân giao thông”. Hàng ngày, do bất cẩn hoặc phạm luật giao thông, nhiều người chết hoặc bị thương vì tai nạn giao thông; không vì thế mà các con đường đều bị đóng, người tham gia giao thông đều bị cấm, hoặc các phương tiện giao thông không được tiếp tục lưu chuyển.

     

    Tương tự, sự cố bảo mẫu Trang bán trẻ em xảy ra ở chùa Bồ Đề là một sự cố, phạm tội hình sự, mà Luật pháp nghiêm minh cần nghiêm trị đúng người, đúng tội. Bảo mẫu Trang bị cáo buộc phạm tội bán trẻ em không nên hiểu đồng nghĩa rằng “chùa Bồ Đề bán trẻ em,” hay ngộ nhận tai hại hơn “các tu sĩ Phật giáo trong Chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em.”

     

    Dù sao, sự việc đau lòng nêu trên là bài học “kiếp nạn cho nhà chùa và ni sư Đàm Lan, trụ trì chùa Bồ Đề”. Người có lòng từ bi chẳng những không làm thui chột lòng nhân ái, mà còn tin tưởng sâu sắc vào các hoạt động từ thiện xã hội nói chung, từ thiện Phật giáo nói riêng, nhất là khi các công tác thiện nguyện này được làm với tâm từ bi và trí tuệ.

     

    Đừng bỏ lở cơ hội và hãy tiếp tục làm việc thiện, góp phần làm vơi đi nỗi khổ niềm đau của những người kém may mắn. Nhịp cầu nhân ái này làm cho tình người được tỏa sáng, cuộc sống này trở nên hiền thiện và yêu thương nhau.

     

    2. Chùa Bồ Đề “không buôn bán” trẻ em

     

    Bên cạnh những nhà sư và sư cô thực hành lòng từ bi và nhân ái qua các hoạt động từ thiện như thành lập Tuệ Tĩnh đường, dưỡng lão viện, cô nhi viện… trong xã hội Việt Nam, có hàng triệu tấm lòng sẵn sàng góp bàn tay tình thương nhằm “chắp cánh” các hoạt động thiện nguyện chứa đựng các giá trị nhân văn cao quý.

     

    Theo Phật giáo, việc làm thiện cho đời cần được nhân rộng bằng thái độ vô ngã và tâm vị tha, thông cảm nỗi khổ niềm đau của tha nhân như chính vấn nạn bản thân. Các hoạt động từ thiện và nghĩa cử cao thượng đó ít được giới truyền thông giới thiệu, quảng bá. Ngược lại, các thông tin xấu lại được chắp cánh bay xa. Mặt trái của truyền thông theo hướng này là điều thật đáng buồn. Cũng có một số nhà báo lợi dụng vào quyền lực của truyền thông đưa một vài “cái xấu cá biệt” lên ngôi “thượng đế”. Thay vì tán dương cái thiện để cái thiện được xã hội hóa, kẻ làm truyền thông thiếu đạo đức nghề nghiệp thường đánh tráo các khái niệm, chủ ngữ và vị ngữ dẫn đến các ngộ nhận và lạc dẫn một cách đáng tiếc.

     

    Trong trường hợp mua bán trẻ em xảy ra ở Chùa Bồ Đề, thay vì thông tin rằng “bảo mẫu Trang bán trẻ em ở chùa Bồ Đề” (bảo mẫu Trang là thủ phạm tội ác), thì một số nhà báo và trang mạng cố tình ghi sai chủ ngữ “chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em” (ngụ ý thủ phạm là Chùa Bồ Đề, tức Phật giáo) là một hành động ác ý, có sức mạnh “châm dầu vào lửa” lên chùa Bồ Đề nói riêng và Phật giáo nói chung.

     

    Tiêu biểu cho nhóm truyền thông lạc dẫn nêu trên có thể kể bao gồm tinmoi.vn (vụ chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em), kenh14.vn (buôn bán trẻ em chùa Bồ Đề), vietnamnet.vn (đường dây mua bán trẻ em qua chùa Bồ Đề), vietbao.vn (sự thật khủng khiếp về chùa Bồ Đề: “kênh” trung gian mua bán con nuôi), dantri.com.vn (Chùa Bồ Đề sau vụ bán trẻ sơ sinh), doisongphapluat.com (vụ mua bán trẻ chùa Bồ Đề), megafun.vn (thực hư tin đồn chùa Bồ Đề mua bán trẻ em bị bỏ rơi), hoặc facebook của cộng đồng nuôi con (thông tin chùa Bồ Đề buôn bán, bỏ rơi trẻ em), và kienthuc.net.vn (tóm gọn bằng chứng sống chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em), v.v… Quý độc giả đừng để mình bị lạc dẫn bởi cách tráo đổi chủ ngữ lắt léo của các nhà báo và các trang mạng xã hội, mà kết tội oan trái cho Chùa Bồ Đề ở ngữ cảnh cụ thể và từ thiện Phật giáo ở ngữ cảnh lớn hơn.

     

    Các trang mạng xã hội nêu trên đã lắt léo thay đổi chủ ngữ “bảo mẫu Trang” thành “chùa Bồ Đề” buôn bán trẻ em. Xin lưu ý, chùa Bồ Đề không buôn bán trẻ. Ni sư Đàm Lan không buôn bán trẻ em. Ni sư Đàm Lan được giới chức hữu quan và nhóm thanh tra kết luận không liên quan gì đến vụ mua bán trẻ em. Ni sư Đàm Lan và chùa Bồ Đề cũng như các cháu thiếu nhi là nạn nhân của vụ múa trẻ em của bảo mẫu Trang. Xin các anh chị nhà báo của các trang mạng nêu trên đừng giả vờ lẫn lộn chủ ngữ, vì sự lẫn lộn của các quý vị có thể dẫn đến hậu quả “phá nát” hoạt động thiện nguyện chùa Bồ Đề, vốn tồi tệ không thua kém gì việc mua bán trẻ em ở chùa Bồ Đề. “Phá nát” ở đây được hiểu theo nghĩa nhiều nhà thiện nguyện đánh mất niềm tin vĩnh viễn vào Chùa Bồ Đề nói riêng và vào từ thiện Phật giáo nói chung.

     

    Tôi không tin rằng các nhà báo thuộc các trang mạng nêu trên thiếu kiến thức về ngôi thứ nhất làm chủ ngữ cho hành động “buôn bán trẻ em” ở ngữ cảnh này là bảo mẫu Trang. Cố tình đánh tráo chủ ngữ trong ngữ cảnh này, từ “bảo mẫu Trang” thành “Chùa Bồ Đề” đã làm làm cho quần chúng đánh mất niềm tin vào việc từ thiện của Phật giáo. Dù là vô tình viết sai chủ ngữ hay cố tình ác ý thì hậu quả nghiêm trọng là các nhà báo này đã làm cho cái thiện tại chùa Bồ Đề nói riêng và từ thiện Phật giáo nói chung bị “đứt cánh”, ít nhất không thể bay được trong một vài năm tới, do sự ngộ nhận và làm mất niềm tin của quần chúng.

     

    Thế mới biết, đạo đức trong truyền thông nên trở thành “cán cân lương tâm” của những người tham gia vào lĩnh vực thuộc “quyền lực thứ ba” này. Như người xưa từng nói “nhất ngôn khả dĩ hưng bang, nhất ngôn khả dĩ táng bang”, một ngộ nhận trong truyền thông, dù do sơ suất hay cố tình, có thể tạo ra các bất ổn xã hội lâu dài và rộng lớn. Đây là điều người làm truyền thông không nên quên.

     

    3. Trách nhiệm thuộc về ai?

     

    Câu hỏi “trách nhiệm thuộc về ai?” không chỉ có chức năng truy tìm nguyên nhân, mà còn có tác dụng tìm kiếm giải pháp. Đỗ lỗi cho nhau không phải là giải pháp. Do đó, tìm nguyên nhân và giải pháp cho câu chuyện buồn ở Chùa Bồ Đề góp phần chấn chỉnh hoạt động của các trung tâm mồ côi của nhà nước và thiện nguyện trên toàn quốc. Về vấn đề này, ta thấy trách nhiệm của Phật giáo được thể hiện như sau.

     

    Vào ngày 7/8 TT. Thích Đức Thiện, Phó tổng thư ký GHPGVN cho biết Văn phòng 1 GHPGVN đã cử đoàn công tác đến Chùa Bồ Đề làm việc với Ni sư Trụ trì Thích Đàm Lam, đồng thời yêu cầu Ni sư Trụ trì cần tuân thủ quy định của pháp luật về việc nhận nuôi và quản lý trẻ em mồ côi, để hoạt động từ thiện xã hội của Phật giáo không bị ảnh hưởng tiêu cực, tiếp tục tỏa sáng như nó đã từng trong thời gian qua.

     

    Cùng ngày, TT. Thích Tiến Đạt, Phó Trưởng Ban thường trực Ban Pháp chế GHPGVN khẳng định với báo giới rằng “quan điểm của GHPGVN là đề nghị các cơ quan chức năng sớm điều tra, làm rõ và có kết luận rõ ràng về việc này, trên cơ sở đó, ai sai đến đâu thì xử lý đến đó.” Nói cách khác, lãnh đạo Phật giáo không bao che, đồng thời thể hiện tinh thần trách nhiệm và sự tôn trọng luật pháp.

     

    Theo BBC Việt ngữ, Ni sư Đàm Lan chính là người đệ đơn yêu cầu các cơ quan chức năng nhập cuộc điều tra, làm rõ trắng đen các cáo buộc “Chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em” của một số nhà báo thiếu thiện chí. Điều này cho thấy Ni sư Đàm Lan sẵn sàng chịu trách nhiệm pháp lý về sự quản lý lỏng lẻo của mình.

     

    Trong quan hệ tương quan, vụ mua bán trẻ em xảy ra ở Chùa Bồ Đề không thể quy toàn bộ trách nhiệm vào Ni sư Đàm Lan, Trụ trì Chùa Bồ Đề, mặc dù Ni sư Đàm Lan là người phải chịu trách nhiệm chính và trực tiếp. Ở đây, phải nói rằng cũng có sự quản lý lỏng lẻo của các cơ quan nhà nước về các cơ sở chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em một cách thiện nguyện. Đây là bài học quản lý nhà nước về công tác quản lý các cô nhi viện. Đề cập đến trách nhiệm liên quan, chúng ta không thể đổ lỗi toàn bộ vụ việc lên Chùa Bồ Đề, mà không làm rõ trách nhiệm của chính quyền địa phương và các ban ngành liên quan khác.

     

    Các cấp chính quyền cần quan tâm, giám sát và hỗ trợ tốt hơn cho các trung tâm thiện nguyện làm tốt lòng từ bi của mình. Bất cứ trung tâm từ thiện nào (chứ không nhất thiết ở chùa Bồ Đề), khi công tác quản lý, kiểm tra, giám sát không đến nơi đến chốn, đều có thể xảy ra những vụ việc buôn bán trẻ em như nhau.

     

    Về phía các Trung tâm từ thiện, khi nhận trẻ mồ côi vào Trung tâm, ban giám đốc Trung tâm phải trình báo chính quyền địa phương. Trung tâm nuôi trẻ mồ côi có trách nhiệm lập hồ sơ, đăng ký khai sinh cho các cháu với chính quyền, giám sát các bảo mẫu, đảm bảo chế độ dinh dưỡng, quyền được chăm sóc, được đến trường học, không bị ngược đãi, không bị xâm hại, không bị lợi dụng mua bán trục lợi... Khi cho ai làm con nuôi phải làm các thủ tục theo quy định của luật pháp, để tránh các đối tượng xấu lợi dụng sơ hở trong quản lý, buôn bán trẻ em. Do kém quản lý của nhà chùa, bảo mẫu Trang và một số nhà báo đánh lận con đen đã tạo ra biết bao nỗi hàm oan cho Ni sư Đàm Lan, Chùa Bồ Đề và Phật giáo.

     

    Một trách nhiệm đạo đức và xã hội khác cũng cần nêu ra ở đây. Khi ca tụng các nhà báo và phóng viên chân chính biết soi sáng ngòi bút và ý tưởng của mình bằng đạo đức nghề nghiệp, truyền thông cái đúng và có giá trị, chúng ta không nên dung túng những kẻ lợi dụng sức mạnh truyền thông, lắt léo bẻ cong ngòi bút, cố tình tráo đổi chủ ngữ (theo kiểu “Chùa Bồ Đề buôn bán trẻ em,” mà thực chất là “chỉ có bảo mẫu Trang buôn bán trẻ em” xảy ở Chùa Bồ Đề) dẫn đến nhiều nỗi hàm oan và thiệt hại cho các nạn nhân mà trong câu chuyện “bảo mẫu Trang bán trẻ em ở chùa Bồ Đề”, nạn nhân của truyền thông ở đây chính là Chùa Bồ Đề và đạo Phật.

     

    Khi lên án cái xấu và sự phạm pháp, đòi hỏi xử lý nghiêm minh những người vi phạm đúng người đúng tội, giới truyền thông cũng không nên thiếu trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp, để tuyệt đối không làm ảnh hưởng tiêu cực đến truyền thống từ bi và nhân văn tốt đẹp của các cơ sở từ thiện nói chung và của từ thiện Phật giáo nói riêng, chỉ vì một vài cá nhân xấu trục lợi, đánh mất lương tâm.

     

    “Người khéo bắt chuột sẽ không làm vở các chén kiểu quý giá trong nhà” là điều mà người làm công tác truyền thông nên lưu tâm!

    Source: TVNHS/USA

     


     

    Read more »
  • Phương pháp trị liệu Tiểu Đường

    TRƯỚC KHI HÀNH GIẢ BẮT TAY VÀO PHƯƠNG PHÁP TRỊ LIÊU. NÊN MỖI BUỔI SÁNG NGỒI TỊNH TÂM, ĐỌC THẦM THẦN CHÚ DƯỚI ĐÂY.

    Thần chú của Đức Phật Vô Lượng Thọ (AMITAYUS Buddha);

    OM NAMO BHAGAVATE APARIMITA AYUR JNYANA SUVINI CITTA TETSO RADZAYA TATHAGATAYA ARAHATE SAMYAK SAMBUDDHAYA TADHYATA OM PUNYE PUNYE MAHAPUNYE APARAMITA PUNNYE APARAMITA JNANA SOMBHARO PATSITE OM SARVA SAMSKARA PARISHUDDHA DHARMATE GAGANA SAMUDGATE SVABHAVA VISHUDDHE MAHANAYA PARIVARE SOHA.

    OM AMARANI JIWANTIYE SVAHA

    Hai câu chú trên dùng để cầu sống lâu và cầu trị bịnh cho mình hay cho người khác.
    Khi trì tụng thì hành giả phải nhất tâm. Hành giả phải tụng càng nhiều càng tốt.

    -----------------------------------0O0-------------------------------------------------------------

    Nước ép củ chuối hột giúp ổn định đường huyết. Ngoài ra, chuối hột còn được dân gian dùng trị nhiều bệnh khá hiệu quả mà không tốn kém. Cây chuối hột có tên khoa học là Musra barjoo sieb, có nơi gọi là chuối chát.

    Để chữa bệnh tiểu đường, đào lấy củ cây chuối hột, rửa sạch, giã nát, ép lấy nước uống. Việc dùng thường xuyên và lâu dài có tác dụng ổn định đường huyết.

    Vì củ chuối không nhiều và đào củ phức tạp, có thày thuốc (ở Trung Quốc) đã cải tiến cách dùng: Cắt ngang cây chuối hột, khoét một lỗ, đậy nylon lên, để nước cây chuối tiết ra đọng vào đó. Lấy nước này cho người bệnh uống. Khi đoạn trên héo thì cắt thấp xuống phía dưới; một cây cắt ngang như thế dùng được nhiều lần. Mùa mưa, nước chuối loãng thì uống nhiều hơn mùa nắng. Điều trị theo cách này, bệnh cũng thuyên giảm rõ rệt.

    Cũng có thể chọn cây chuối có bắp đang nhú, cắt ngang gốc (cách mặt đất khoảng 20 cm), lấy dao khoét một lỗ rỗng to ở thân chuối, để một đêm, sáng hôm sau múc nước từ lỗ rỗng (do thân chuối tiết ra) mà uống.

    Vị thuốc đa năng

    Theo cuốn “450 vị thuốc nam có tên trong bản Dược thảo Trung Quốc”, lá và vỏ quả chuối hột khô sắc uống làm thuốc lợi tiểu và chữa được chứng phù thũng sưng chân; rễ sắc uống chữa cảm mạo, bệnh dạ dày, đau bụng.

    Chữa sỏi thận: Lựa quả chuối hột thật chín, lấy hột phơi khô, tán nhỏ nấu lấy nước uống; cho 7 thìa nhỏ bột hột chuối vào 2 lít nước, đun nhỏ lửa khi còn 2/3 nước là được. Uống hằng ngày như nước trà, liền 2-3 tháng, cho kết quả khá tốt.

    Một cách khác: Dùng chuối hột một buồng già đem thái mỏng, phơi khô, tán nhỏ thành bột, mỗi ngày uống 3 thìa canh, uống liền 2-3 tháng. Hoặc quả chuối hột đã thái mỏng, sao vàng, hạ thổ 7 ngày; mỗi ngày lấy 1 vốc tay (chừng 1 quả) sắc với 3-4 bát nước, uống vào lúc no.

    Ngoài ra, quả chuối hột còn xanh được dùng điều trị bệnh hắc lào: Cắt đôi, xát trực tiếp vào nơi tổn thương, dùng liên tục 7-8 ngày là khỏi. Với trẻ táo bón, người ta lấy 1-2 quả chuối chín đem vùi vào bếp l

    Source: SKDS

    Read more »
  • Rau Muống Một Vị Thuốc Nam Thuần Túy

    Như đã biết rau muống là rau quốc hồn quốc túy của đại tộc Bách Việt cho nên suy diễn một cách giản dị là rau muống nếu đem dùng vào việc chữa bệnh thì nó là một vị thuốc Nam nói riêng và là vị thuốc dân tộc của chủng đại Bách việt nói chung. Nhưng nói gọn lỏn như thế sẽ có người thắc mắc cho là hồ đồ. Dù cho Trung Quốc thời thượng cổ ở phương Bắc vì khí hậu và phong thổ không hạp nên không có rau muống nhưng về sau tiến xuống phương Nam họ cũng có rau muống ở những vùng sau này họ chiếm được như Quảng Đông, Quảng Tây, cho nên họ cũng có thể dùng rau muống làm thuốc Bắc được.

    Hoặc ngay cả họ không có rau muống họ vẫn có thể dùng cây cỏ và các dược liệu không có trong nước làm thuốc Bắc chẳng hạn như quế Việt Nam, sâm Cao Ly chẳng hạn.

    Trở ngại lớn là chúng tôi rất khó khăn trong công việc tìm tòi một thứ thuốc Nam trăm phần trăm biết rõ không bị ảnh hưởng Trung Hoa. Kẹt một nỗi thiếu những tài liệu nói rõ những cây cỏ dược liệu do chính chúng ta phát hiện ra. Sách vở và tài liệu thuốc Nam tìm không có bao nhiêu. Nam y thường chỉ dân dã nhà quê dùng, không để lại trong sách vở. Nhiều tài liệu nói là thuốc Nam nhưng thấy đầy dẫy trong sách thuốc Bắc mà các thầy Trung Hoa đã dùng từ ngàn xưạ Có sách liệt kê những cây cỏ mọc trên lãnh thổ Việt Nam và nhận là thuốc Nam. Thêm vào đó phần lớn các danh y VN đều có học hay bị ảnh hưởng Hoa Y.

    Theo chúng tôi một vị thuốc Nam thuần túy và có giá trị chữa bệnh phải có những điều kiện lý tưởng sau đây:

    -- Thổ sản của Việt Nam.

    -- Không phải là thổ sản Trung Quốc.

    -- Không có trong Hoa y càng tốt, nếu có, phải loại trừ tất cả những chủ trị, cách chữa trị của Hoa y ra, nhất là những chủ trị giống thuốc Nam. Làm như thế để tránh có người cho rằng chúng ta lấy của Hoa y. Mặc dầu nếu nghĩ ngược lại, biết đâu có khi Hoa y lấy của ta thì sao? Gạt hết những gì giống nhau như thế sẽ bất công cho thuốc Nam. Dĩ nhiên là vậy, cũng phải đành vậy, thuốc Nam xưa nay vẫn chịu thiệt thòi như vậy rồi:

    Thuốc Nam đánh giặc, thuốc Bắc lấy tiền.

    Chúng tôi chủ trương nếu không chứng minh được Hoa y mượn của thuốc Nam, chúng ta dù có đau lòng, cũng phải làm như vậy.

    -- Có giá trị chữa bệnh đã được y học Tây phương hiện đại chứng minh.

    Chúng tôi chọn rau muống là một cây thuốc Nam tiêu biểu vì nó có đầy đủ những điều kiện lý tưởng trên.

    Trước khi đi vào đề tài rau muống một vị thuốc Nam, xin nói tổng quát vài nét về rau muống.

    Tổng quát về rau muống

    . Tên thực vật học: Ipomoea aquatica Forsk.

    . Tiếng Pháp: Liseron d'eau .

    . Tên Trung Hoa: Úng Thái, Quảng Đông đọc là ống xôi .

    . Tên Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân: Kangkung.

    . Tên Thái: Pak bung (đọc là pạc bung).

    . Tên Mường: Muông.

    . Tên Cambodia: Tluol.

    . Tên Nhật: Horensọ

    . Tên Guam: Kankan hoặc cancon, kangkung.

    . Tên Paulau (một "quốc gia" thuộc Tiểu đảo, Micronesia): Kangum, kangkum.

    . Tên Mỹ: Water morning glorỵ

    Rau muống mọc ở vùng circumtropical và ở đông phương rau muống được trồng làm thực phẩm. Rau muống trồng hay mọc dại ở ao, đầm, đìa, sông, hồ, bưng, bàu. Rau muống thuộc họ dây bò, cuộn (convolvulaceae), cùng họ hàng với khoai lang (Ipomoea batatas), dây bìm bìm. Trước đây bìm bìm có tên thực vật học là Ipomoea bimbim, chữ bimbim này lấy theo tên Việt Nam bìm bìm...

    Rau muống bò hay nổi thành từng bè (rau muống bè) trên mặt nước. Có những giống trồng bằng hạt làm rau. Loại thông thường dùng làm rau ăn cọng xanh, nhưng cũng có loại cọng tim tím gọi là rau muống tía. Cọng rau muống rỗng (nên người Trung Hoa còn gọi là không tâm thái, rau ruột rỗng) láng, mọng, rế lan, lá có đáy cụt tròn bầu, hình trái tim, hình mũi tên, hình mũi mác, thùy lá nở rộng hay thon hẹp, cuống hoa có một hay vài hoa hình phếu dài từ 3-5cm, màu trắng hoặc màu hoa cà (nửa hồng nửa lam), tím nhiều ở giữa hoa, cánh ngoài láng, thuôn hình noãn. Hoa có cả nhụy đực, nhụy cái, bầu noãn có hai bao noãn hình quả trứng dài 8-10mm, hột có lông (có loại hột rau muống trồng bán tại các chợ không có lông).

    Ở Việt Nam rau muống trồng từ đầu mùa xuân:

    Cuối thu trồng cải, trồng cần,

    Ăn rong sáu tháng cuối xuân thời tàn,

    Bấy giờ rau muống đã lan,

    Lại ăn cho đến thu tàn thời thôi

    Rau muống tàn vào cuối thu cho nên rau muống tháng chín già, cỗi rất xơ dai:

    Rau muống tháng chín, nàng dâu nhịn cho mẹ chồng ăn

    Rau muống ngon tùy từng vùng: Cua Phụng Pháp, rau muống Hiên Ngang

    Mua rau muống, muốn chọn thứ rau ngon phải xem xét lá rau:

    Mua bầu xem cuống,

    Mua muống xem lá,

    Mua cá xem mang.

    Sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư có viết:

    "Rau muống mọc ở các ao hồ, là một thứ rau ta rất hay ăn. Người ta hái và bó nhiều ngọn với nhau thành từng mớ, các ngọn rau có lá, người ta nhặt những lá sâu lá úa và bỏ những cuống già đi, rồi đem luộc hoặc xào, hoặc nấu canh. Xào thì phải có mỡ và thường cho thêm tỏị Nấu canh thì thường nấu với tương, nấu với cua đồng, tôm he, sườn lợn. Rau muống luộc mà chấm với tương ăn cũng ngon, còn nước luộc rau thì đem chan vào cơm mà ăn với cà cũng thú vị". (Quốc Văn Giáo Khoa Thư Lớp Dự Bị, Trần Trọng Kim, Nguyến Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thân).

    Món giản tiện nhất là rau muống luộc ăn với cà pháo muối chua.

    Anh đi anh nhớ quê nhà,

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    Nhà em có vại cà đầy,

    Có ao rau muống, có đầy chum tương

    Còn trời, còn đất, còn mây,

    Còn ao rau muống, còn đầy chum tương.

    Nước rau muống luộc có thể để vậy vắt chanh chan cơm hay đánh dấm với cà chua, hành, tỏi... Rau muống xào tỏi phải kèm vài ngọn kinh giới (Lê Văn Siêu, Văn Minh Việt Nam).

    Phải kể thêm là rau muống còn nấu suông nghĩa là không có gì cả ngoài mắm muối, nấu canh trứng cáy. Rau muống ăn sống thường là rau muống chẻ, nhiều khi vội, chỉ chẻ làm tám, làm tư hay để nguyên cả cọng. Rau muống còn làm nộm, làm salad hay rau muống trộn dầu dấm, thịt bò.

    Dân hải đảo nấu canh hay xào rau muống với cá, người Thái Lan có món rau muống xào không hay với thịt, cá, mực rất cay. Tác giả đã từng ăn món rau muống xào rất cay tại Chiang Mai, Thái Lan, một đĩa rau muống xào đếm thấy trên hai mươi trái ớt hiểm. Ở đây họ dịch là fried morning glory (rau bìm bìm xào!). Tại Jakarta, tại City Hotel Cafe cũng có món rau muống xào rất cay gọi là kangkung hot plate tại đây dịch là "swamp cabbage hot plate". Cái cay ở đây có thêm vị safron và những gia vị của "spicy island".


    Dân Paulau cũng dịch rau muống kanggum, kangkum sang Anh Ngữ là "swamp cabbage". Dịch là "bắp cải đìa" dĩ nhiên không đúng. Rau muống và bắp cải khác nhau xa. Cabbage bắt gốc từ cổ ngữ Pháp Cabouche: "cái đầu". Bắp cải tròn trông giống cái đầu. Cũng vì lý do này người Anh Mỹ gọi một cái bắp cải là một "head".

    Người miền Nam ngoài những món thông thường, còn có món cọng rau muống muối dưa ròn tan, ăn hết xẩy. Tác giả ăn trong Đồng Tháp Mười ngày trước giờ còn nhớ. Dân quê miền Trung còn ăn rau muống sống nguyên cọng với cá, thịt cuốn với bánh tráng ăn như ăn gỏi cuốn.

    Chưa thấy loại cây cỏ nào đi vào văn chương bình dân nhiều như rau muống. Rau muống là hồn quê, hồn nước của dân Việt.

    Rau muống một vị thuốc Nam thuần túy

    Sau đây là một vài nơi có rau muống mọc, dân địa phương đã dùng rau muống làm thuốc dân dã, dân tộc:

    1. Trung Hoa

    -- Rau muống là một thứ thuốc bổ (Roi,J. 1946, Atlas Des Plantes Chinoises, Paris p.409).

    -- Một chất giã thuốc, giã độc (antidote) chữa một vài thứ trúng độc thực phẩm (Stuart G. ạ 1911, Chinese Materia Medica, Vegetable Kingdom, Shanghai, p.220).

    -- Rau muống là một thứ thuốc nhuận trường (Dragendorff G. 1898: Die Heilpflanzen der verschiedenen Volker und Zeiten, Stuttgart, p.555).

    -- Nước canh rau muống nấu với thịt heo dùng chữa phù thũng, mệt mỏi suy nhược và huyết trắng. Nước rau muống chữa ho (Hu C.Y, 1959, Traditional Chinese Remedy in prevention and treatment of diphtheria, Kiangsi J. Traditional Chinese Med., p.148).

    -- Về ngoại khoa rau muống dùng để đắp vào chỗ đau trị sưng, bầm dập bắp thịt và nhiếm trùng hậu sản (How et al, 1956, Flora of Canton, p. 587).

    2. Đông Dương (Indochina):

    -- Một thứ thuốc khử độc dùng để chữa những chứng bệnh do nước bị nhiếm độc và chữa các chứng ngộ độc (Crevost & Pételot ạ 1929, Catalogue Des Produits De L'Indochinẹ Plantes Medicales. 37:535. Pételot ạ 1952, Les Plantes Medicales Du Cambodge, Du Laos et Du Vietnam 2: 183).

    -- Đọt rau muống dùng với chồi mầm cây Heliotropium indicum giã nhuyến đắp vào những chỗ lác, hắc lào (ringworm) hoặc với các loại cây cỏ khác làm thuốc cao trị nghẹt thở, sốt mê sảng (Menaut B., 1929, Matière Medicale Cambodgienne, Bull. Écon. Indochine, 32: 465,483).

    3. Phi Luật Tân:

    -- Rau muống tía được đề nghị dùng chữa bệnh tiểu đường (Garcia, fide Quisumbing, Medicinal Plants of Philippine, p.758).

    4. Ấn Độ:

    -- Theo các cuộc nghiên cứu của y giới Ấn Độ, lá rau muống có nhiều khoáng chất và vitamin đặc biệt nhất là carotene. Các chất Hentriacontane, sitosterol và sitosterol glycoside đã phân tích được từ những lipoids rau muống (The Wealth Of India, vol. 5:238).

    5. Nam Dương (Indonesia):

    -- Tại Nam Dương (Indonesia) rau muống được coi là một dược thảo. Theo Y Dược Cổ Truyền Nam Dương, mà người Nam Dương gọi là thuốc dân tộc (Jamu) rau muống được dùng chữa nhiều thứ bệnh:

    - Dùng làm êm dịu dây thần kinh, an thần, trị bứt rứt, mất ngủ và nhức đầu.

    - Dùng nước nấu rễ rau muống rửa trĩ hoặc lá đâm dập nát ra dùng đắp lên mụn nhọt (Boorsma, fide Heyne). Rế rau muống giã với hoa dừa, me và gừng dùng phun lên người đang lên cơn suyến (Weck W. 1938, "Taru Premana", Die Balische Pharmakopoẹ Nat. Tijdschr. Ned. - Indie 98: 276).

    - Nhưng nhiều người cho rằng ăn rau muống quá độ có hại (Heyne, K., 1950 De Nuttige planten van Indonesie, 3rd edition, part I p. 1305).

    6. Việt Nam:

    -- "Tính mát hay giải được nhất thiết mọi chất độc của các thứ thuốc độc hay là người lỡ uống phải những vị trái thuốc, trái bệnh thì nó giải được hết cả.

    Dùng nó giã sống lấy nước mà uống". (Nguyến Văn Minh DTCN, tr. 1559-1560).

    -- Theo Lm Vũ Đình Trác trong 100 Cây Thuốc Vạn Linh (Y Học Việt Nam Hội Hữu xuất bản 1986) rau muống có:

    - Hoạt chất: có tannin, albumin, chất béo, glucose, vitamin B1, b12 và C.

    - Dược năng: giải nhiệt, thông máu, bổ máu, lợi tiểu, nhuận trường, giải độc.

    - Chủ trị: giải tà khí, thêm tế bào thịt. Trị các chứng đau dạ dầy, dạ dầy lở loét, xuất huyết, máu cam, kiết lị, đau bụng máu, đau bụng kinh..."

    Trong phần các toa thông dụng có nói đến các bài thuốc dùng rau muống sống giã lấy nước cho uống trị dạ dầy lở loét, máu cam và trẻ em nóng cao độ.

    Nhìn qua cách dùng rau muống để trị bệnh của các quốc gia nói trên ta thấy thuốc Bắc và thuốc dân tộc của những dân tộc "rau muống" khác có nhiều điểm giống nhaụ Giống nhau hoặc là do học hỏi lẫn của nhau, hay các sách sao lục lại của nhaụ Vì thế chúng tôi loại tất cả những chủ trị nào của rau muống trong thuốc Bắc ra ngoài trước khi có thể kết luận các chủ trị còn lại là của thuốc Nam.

    Vì một phần đất Ấn Độ có rau muống, chúng tôi cũng phải nêu ra ở trên các vị thuốc dùng rau muống ở Ấn Độ để loại những điểm trùng với các chủ trị của thuốc dân tộc Bách Việt, hầu để tránh bị gán ghép là thuốc "Nam" rau muống bị ảnh hưởng thuốc dân tộc Ấn Độ.

    Sau đây là những điểm giống nhau của vị thuốc rau muống giữa thuốc Bắc và thuốc dân tộc Đông Nam Á (ƯNA) đã thấy ở trên:

    Chủ trị của rau muống:

    Thuốc Bắc:

    - Thuốc bổ: Chữa mệt mỏi suy nhược, chữa phù thũng (vì có vit. B1)

    - Thuốc giã độc, giải độc

    - Nhuận trường

    - Trị ngoại khoa: Đắp trị sưng, bầm dập bắp thịt

    Thuốc Dân Tộc Của Các Nước ĐNA

    - Có chứa Vitamin B1, B12, C bổ máu

    - Giải độc, khử độc

    - Nhuận trường

    - Trị ngoại khoa: lác, hắc lào mụn nhọt, trĩ.

    Tất cả những điểm giống thuốc Bắc kể trên đều phải loại ra. Những điểm giống Ấn Độ như vitamin, chất béo, chất đường cũng được loại ra. Vậy những gì còn lại là của cây rau muống thuốc Nam Việt Nam và của các chi khác của đại tộc Bách việt, không có một chút gì của Trung Hoa và Ấn Độ cả. Công việc kế tiếp chúng ta phải làm là nhặt ra những chủ trị giống nhau của cây thuốc Nam của Bách việt và chúng tôi chỉ chọn những chủ trị nào đã được ánh sáng y học hiện đại soi sáng, có căn bản khoa học không "tự nhận", không mị dân, không thương mại.

    Sau đây là những điểm chủ trị giống nhau của cây thuốc Nam (VN) rau muống và của các nước ĐNA khác:

    -- Nam Dương:

    Dùng làm êm dịu dây thần kinh, an thần, trị bứt rứt, mất ngủ và nhức đầụ

    -- Cambodia:

    Sốt mê sảng.

    -- Việt Nam:

    Giải nhiệt, sốt nóng cao của trẻ em, thông máu, đau bụng máu, đau bụng kinh... Nhìn chung, chúng ta thấy cây thuốc Nam, (xin hiểu theo nghĩa hẹp là thuốc Nam của ta và cả nghĩa rộng thuốc Nam của cả vùng Đông Nam Á) rau muống thuần túy có những chủ trị chính là trị sốt nóng, đau nhức, trị sưng. Cây thuốc Nam rau muống là một liều thuốc ASA, Aspirin?

    Vắn tắt chúng tôi có thể trả lời ngay là rau muống đúng là một liều thuốc Aspirin.

    Rau muống, một liều thuốc Aspirin

    Tất cả các chủ trị trên làm y giới nghĩ ngay đến aspirin, đến prostaglandins (PG). Prostaglandin giữ một vai trò chính yếu trong cơ chế gây ra đau nhức, sưng, nóng. Thuốc trị đau nhức, sưng, nóng sốt... như loại ASA, salicylate (aspirin) và các thuốc họ hàng nhà aspirin như loại thuốc trị sưng, đau nhức không có steroid, NSAIDS (Non Steroidal Anti Inflammatory Drugs) là những chất ngăn chận sự tổng hợp prostaglandin.

    Nhật Bản trong những năm gần đây đã bảo trợ cho y giới Nam Dương nghiên cứu cây thuốc dân tộc Jamu rau muống và prostaglandins (kết quả thử nghiệm công bố tháng 2, 1992). (1)

    Khảo nghiệm rau muống tìm những hoạt chất ngăn chặn tổng hợp prostaglandins trong phòng thí nghiệm (Inhibitors of in vitro PG synthesis).

    Prostaglandin:

    Nguyên Tắc:

    Như công thức trên cho biết phân hóa tố tổng hợp (PG synthetase) là mấu chốt để khảo cứu các tác dụng lên chất PG. Muốn biết một chất có tác dụng gì lên PG chỉ cần xem chất đó có tác dụng gì lên chất phân hóa tố tổng hợp PG này, nếu chất đó có tác dụng ngăn cản lên phân hóa tố PG, thì sự tổng hợo PG sẽ không thể xẩy rạ Ưây là cơ chế tác dụng của một sốt thuốc trị đau nhức nóng sốt...

    Các khảo cứu gia thuộc Phân Khoa Khoa Học Dược Khoa, Đại Học Tokyo với sự tiếp tay của khu Dược Khoa, Phân Khoa Khoa Học và Toán Học, Viện Kỹ Thuật Bandung, Indonesia đã khảo cứu để phân chất tìm những hoạt chất có tác dụng ngăn chận tổng hợp PG trong rau muống bằng cách dùng phân hóa tố tổng hợp PG làm chất điều nghiên để khám phá những hoạt tính sinh học trong khi phân định, phân lập các chất ngăn chặn tổng hợp PG.

    Rau muống được làm khô bằng khí trời (air dried) được trích tinh bằng một dung dịch rượu ethanol (EtOH) 50% nóng và chất lọc được làm đậm đặc trong chân không. Sau đó dung dịch đậm đặc được làm đông lạnh và làm khô để có được một trích tinh khô. Thử nghiệm với phân hóa tố tổng hợp PG được thực hiện với nồng độ 750 micogram/ml dùng phương pháp đồng vị phóng xạ (radioisotop). Kết quả cho thấy cuộng rau muống ngăn cản 76.2% lượng phân hóa tố tổng hợp PG.

    Phân Lập Coumarins và Amides

    500 gam cuộng rau muống khô được đem trích tinh hai lần với hexane trong 4 giờ và 4 lần với acetone trong bốn giờ. Trích tinh được làm mười lần để có một lượng trích tinh rút ra từ 5 kg cuộng rau muống khô.

    Sau đó acetone được loại ra khỏi dung dịch acetone trong chân không để có được 33.5 g trích tinh acetone.

    Trích tinh này phân định với dung dịch rượu methanol (MeOH) và hexane để có được một phân lượng methanol 4.2 g. Dung chất methanol này có hoạt tính khá cao chống lại phân hóa tố tổng hợp PG. Trích tinh acetone cuộng rau muống khô ngăn chặn 90% sự tổng hợp PG trong thí nghiệm ở nồng độ 750 microgram/ml.

    Cuối cùng trích tinh methanol được dùng phương pháp sắc ký trên Sephadex LH-20 (MeOH) và trên các cột chất keo silica, làm đi làm lại nhiều lần cho ra bốn hợp chất phenolic sau: umbelliferone (60mg), scopoletin (70mg), N-trans-feruloyltyramine (30mg) và N-cis-feruloyltyramine (8mg). Các chất này được nhận diện bằng cách so sánh với các chất mẫu chính thống. N-feruloyltyramine gồm có ferulic acid và tyramine, cả hai không có tác dụng ngăn cản lên sự tổng hợp PG. Ưiều này chứng tỏ hai cấu thể không hoạt tính này khi được nối bởi một dây nối amide sẽ trở thành hoạt động.

    Rau muống có chứa những hoạt chất ngăn chăn sự tổng hợp PG, rau muống là một liều thuốc aspirin và là liều thuốc trị đau nhức, sưng họ hàng nhà aspirin.

    Tóm Lược:

    Cây thuốc Nam rau muống là một liều thuốc aspirin đúng như thượng cổ Bách Việt đã dùng để chữa bệnh.

    Riêng về chủ trị "thông máu" của rau muống có nói trong sách của Lm Vũ Ngọc Trác, cũng là một chủ trị của aspirin. Aspirin tác dụng lên sự ngưng tập của các phiến bào (platelet aggregation) làm máu không dón cục lại cho nên có hai tác dụng lợi và hại. Lợi là tránh tắc mạch máu, tránh bị kích não, đứt gân máu (stroke). Rau muống làm "thông máu". Các bác sĩ Tây y ngày nay cho những người có nguy cơ cao bị kích não mỗi ngày uống một viên aspirin trẻ con.

    Hại là làm chẩy máu lâu dài vì ngăn chăn tạo ra cục máu, cho nên người sắp mổ xẻ hay ngay sau khi mổ xẻ thường không được uống aspirin và các thuốc họ hàng của nó và bây giờ biết thêm nữa là tránh ăn rau muống. Do đó phần chủ trị "xuất huyết", "máu cam" của rau muống trong sách của linh mục hoàn toàn sai và rất nguy hiểm. Rau muống làm xuất huyết chứ không chữa xuất huyết.

    Rau muống dùng trị đau bụng máu nhưng các bà, các cô bị chứng kinh nguyệt dây dưa, trước khi và trong khi có kinh không nên ăn rau muống nhiều…

    Cũng vì lý do làm chẩy máu này phần chủ trị "lở loét dạ dầy", cũng phải cẩn thận. Một người đang bị chẩy máu dạ dầy, ruột đầu ăn rau muống nhiều sẽ bị chẩy máu nặng thêm và lâu hơn...

    Tương tự rau muống dùng ngoại khoa chữa sưng, bầm dập bắp thịt, trĩ nếu có hiệu quả cũng là do tác dụng trị sưng của rau muống. Nói về công dụng huyền diệu của aspirin rau muống thì không biết lúc nào mới hết. Xin ngưng ở đây.

    Tóm lại rau muống là một cây thuốc Nam, cây thuốc của chủng Bách Việt thuần túỵ Rau muống là liều thuốc aspirin . Từ vua cho đến thứ dân đều mê rau muống. Người lao động làm lụng bằng bắp thịt mệt mỏi đau nhức thân thể thèm đĩa rau muống luộc, nước chan cơm, ăn với quả cà muối; người làm việc trí óc nhức đầu thèm một đĩa rau muống xào; một cô gái mới lớn, trứng rụng tùm lum, tùm la, đau bụng máu thèm bát canh rau muống nấu tôm cho mát dạ con, một người già nhức mỏi vì phong thấp thèm một bát canh rau muống nấu với cua đồng (cua đồng giã lọc nước nấu canh có rất nhiều chất vôi Calcium)... Dân Bắc kỳ ghiền rau muống vì dân Bắc kỳ nổi tiếng về làm việc. Đào Duy Anh, trong Việt Nam Văn Hóa Sử Cương đã viết: "Sức làm việc khó nhọc, nhất là người miền Bắc, thì ít dân tộc bì kịp" (tr.23).

    Triệu triệu người trên thế giới dại dột ghiền thuốc đau nhức vì không biết tới rau muống.



    Kết luận

    Nguồn gốc chữ muống như đã thấy có cùng gốc với tên Mã Lai, Nam Dương, các đảo khác, Thái. Điều này chứng tỏ rõ ràng tộc Việt thuộc chủng Bách Việt không phải thuộc chủng Trung Hoa.

    Rau muống là một vị thuốc Nam thuần túy của Việt Nam và là cây thuốc dân tộc Jamu Nam Dương, Cambodia. Việt Nam và các quốc gia này đã gặp nhau ở cây rau muống này từ thượng cổ. Gặp nhau ở đâủ Phải là ở miền nam Trung Hoa, nơi có đầy sông nước.

    Rau muống là một biệt thái (sắc thái đặc biệt) của chủng Bách Việt. Rau muống có một nền văn minh và văn hóa riêng biệt như trồng lúa nước, giỏi về sông nước như đánh cá, thủy vận, ăn cá mắm và nước mắm, ăn rau mọc chỗ có nước là rau muống.

    Thuốc Dân Tộc Của Các Nước ĐNA

    Có chứa Vitamin B1, B12, C bổ máu

    Giải độc, khử độc

    Read more »
  • Mật Tông Quán Đảnh - Thật hay Giả

    Trong giới tu luyện có một trường hợp gọi là Quán đỉnh (Guanding). Đó là một nghi thức tôn giáo có từ pháp tu của trường phái Phật giáo Mật tông Tây tạng. Mục đích của nó là, qua thủ tục Quán đỉnh, một người sẽ không được phép bước vào một trường phái khác và sẽ được chấp nhận như một người đệ tử chánh thức của trường phái đã làm lễ Quán đỉnh cho họ. Điều gì lạ ở ngày nay? Người ta cũng thấy xuất hiện nghi thức đó trong giới tu luyện khí công. Nó không chỉ được thực hiện trong Mật tông mà cũng có trong Lão giáo. Tôi đã nói, tất cả những phương pháp mật tông được truyền bá trong xã hội dưới nhãn hiệu Mật tông đều là giả không có ngoại lệ. Tại sao? Vì Mật tông đời Đường đã biến mất trên đất nước Trung quốc đã hơn một ngàn năm nay và nó hoàn toàn không còn nữa. Mật tông Tây Tạng chưa bao giờ được hoàn toàn du nhập trên đất nước người Hán vì trở ngại ngôn ngữ. Nhất là vì đó là mật tông, nó phải được tu luyện bí mật trong các chùa tháp. Nó cũng phải được bí mật truyền thụ bởi một vị thầy và vị thầy sẽ đem người đệ tử đi tu luyện bí mật. Nếu điều kiện nầy không được thực hiện, người ta nhất thiết không truyền giáo cho người đệ tử.

     

    Nhiều người đến Tây Tạng với mục đích là tìm một người thầy dạy cho Mật tông hầu sau nầy trở thành thầy khí công, có danh vọng và làm giàu. Xin hãy suy nghĩ về điều nầy. Một vị Phật sống lạt ma đã nhận được sự chân truyền giáo pháp hẳn là một người có những huyền năng siêu phàm mạnh mẽ, vậy họ có thể đọc được tư tưởng của một người học trò như vậy. Khi nhìn qua người đó, ngài đã biết rõ ràng mục đích của họ: Người đến đây tìm học pháp để trở thành thầy khí công vì danh lợi, đó là hủy hoại pháp tu của Phật môn chúng ta. Có thể nào một Pháp môn tu luyện trang nghiêm của Phật lại để cho quí vị hủy hoại một cách dễ dàng bởi lòng tham muốn của quí vị được làm thầy vì danh vì lợi? Mục đích gì thúc đẩy quí vị? Vậy người ta nhất định không truyền giáo và người đó sẽ không nhận được một sự chân truyền nào cả. Dĩ nhiên, các chùa tháp rất nhiều, người đó có lẽ có thể học được một chút gì bề ngoài vậy. Nếu tâm ý của một người không ngay thẳng, họ sẽ bị nhập thân (Futi) khi họ muốn làm một thầy dạy tu để làm những điều xấu. Con vật nhập thân người cũng có nhiều huyền năng siêu phàm nhưng đó không phải là Mật tông Tây tạng. Những người đi tìm Pháp chân thật, khi đến nơi, có lẽ họ đã ở lại luôn nơi đó không bao giờ rời nữa, đó là người thật sự chân tu.

     

    Một điều lạ là ngày nay có nhiều môn phái Lão giáo cũng có hành lễ Quán đỉnh. Lão giáo tu luyện trên kinh mạch, tại sao phải làm cái gọi là Quán đỉnh? Có một lần tôi đi truyền pháp ở miền Nam. Theo sự hiểu biết của tôi, có hơn mười trường phái tà giáo thực hành Quán đỉnh, nhất là tại vùng Quảng Đông. Theo họ nghĩa là gì? Khi người thầy làm Quán đỉnh cho quí vị, quí vị trở thành đệ tử của họ và quí vị không thể thọ học một môn pháp khác. Nếu làm trái lại, họ sẽ phạt quí vị. Họ đã làm như vậy. Phải chăng đó là một việc không đàng hoàng? Điều mà họ truyền dạy là nhằm trị bệnh và giữ gìn sức khỏe. Điều mà dân chúng muốn học nơi họ chỉ là để được có một sức khỏe tốt. Vậy tại sao phải làm điều đó? Có người cho rằng người ta không thể tập luyện một phương pháp khác sau khi đã học tập phương pháp của họ. Nhưng hỏi họ có thể cứu độ người ta đưa đến giải thoát không? Đó là hướng dẫn sai các đệ tử. Nhiều người làm như vậy.

     

    Lão giáo không nói về Quán đỉnh, nhưng người ta cũng thấy có xuất hiện sự Quán đỉnh. Tôi có thấy một thầy khí công có tiếng nhất về Quán đỉnh, cột trụ Công (Gongzhu) của ông ta cao đến đâu? Nó chỉ cao bằng một cái nhà lầu hai ba tầng, dù danh tiếng ông ta là một đại sư khí công, cái cột trụ Gong của ông ta bị xuống thấp một cách thật đáng tội nghiệp. Hằng trăm người, có khi có cả ngàn người, nối đuôi nhau để được ông ta làm Quán đỉnh cho họ. Cột trụ Công của ông ta có hạn, nó chỉ cao đến mức đó, sau một thời gian nó sẽ không còn gì nữa, ông ta sẽ dùng gì để còn làm Quán đỉnh cho người ta? Phải chăng đó là gạt người? Một sự Quán đỉnh thật sự, khi được quan sát từ một không gian khác, xương của người được Quán đỉnh từ đầu đến chân trở thành như ngọc trắng. Sự thật, đó là một sự thanh lọc cơ thể bằng Công lực, một chất năng lượng ở cao tầng, một sự đổ trút xuống từ đầu chí chân. Vị thầy khí công đó có thể thực hiện được điều đó không? Họ không thể. Vậy tại sao làm vậy? Dĩ nhiên, ông ta không nhất thiết có ý muốn tạo ra một đạo mới. Mục đích của ông ta chỉ là một khi quí vị học phương pháp của ông ta, quí vị là người của ông ta. Quí vị phải đến lớp học và học những điều của ông ta dạy. Ông ta nhắm vào việc lấy tiền của quí vị, ông ta sẽ không kiếm đâu ra tiền nếu không có học trò.

     

    Cũng như những đệ tử của các Phật Pháp môn khác, đệ tử Pháp Luân Đại Pháp sẽ kinh nghiệm nhiều lần sự Quán đỉnh từ các vị thầy nơi cao tầng. Nhưng người ta không để cho quí vị biết. Những người có huyền năng siêu phàm hoặc những người nhạy cảm có thể cảm thấy được nó trong giấc ngủ hoặc những lúc khác khi thình lình một luồng hơi ấm chạy từ đỉnh đầu tràn xuống toàn cơ thể của họ. Mục đích của Quán đỉnh không phải là để thêm công lực cho quí vị vì cái Công lực nầy phải đến từ sự tu luyện của chính quí vị. Đây là một phương pháp trợ giúp để thanh lọc cơ thể của quí vị và tối lọc nó hơn nữa. Một người sẽ qua nhiều lần Quán đỉnh như vậy. Các cơ thể của quí vị sẽ được thanh lọc ở mỗi tầng cấp. Vì sự tu luyện là do tự nơi mỗi người và Công lực là do nơi Thầy, vì vậy chúng tôi không thực hành thủ tục Quán đỉnh nầy.

     

    Có người cũng muốn thi hành nghi lễ tôn xưng Thầy. Nói về vấn đề nầy, tôi cũng muốn nói nhân dịp nầy rằng nhiều người cũng muốn làm như vậy đối với tôi. Thời đại hiện nay của chúng ta không giống như thời xa xưa xã hội vua chúa Trung Quốc. Phải chăng quì gối và dập đầu xuống đất để tôn xưng Thầy là đủ? Chúng ta không thi hành thủ tục đó. Nhiều người tu trong chúng ta nghĩ rằng: Nếu tôi quì gối, đốt nhang và tôn thờ Phật với một tấm lòng chân thật, Công lực của tôi sẽ được gia tăng. Tôi thấy nghĩ như vậy thật đáng buồn cười. Sự tu luyện chân thật hoàn toàn tùy thuộc nơi người tu. Thật là vô ích đi tìm cầu nơi cái gì khác. Quí vị không cần xưng tụng Phật, không cần đốt nhang đèn. Nếu quí vị tu luyện chân chánh theo tiêu chuẩn của một người tu, đức Phật sẽ rất hài lòng nhìn thấy quí vị. Nếu quí vị luôn làm những điều xấu bên ngoài, cho dù quí vị đốt nhang và dập đầu xuống đất trước Ngài, Ngài cũng đau lòng nhìn thấy quí vị. Phải vậy không? Sự tu luyện chân thành là tùy nơi chính người tu. Có ích lợi gì hôm nay quí vị dập đầu xuống đất và tôn xưng Thầy, nhưng một khi rời khỏi nơi đây, quí vị vẫn làm theo tự ý thích? Chúng ta hoàn toàn không để ý đến thủ tục nầy. Nếu chúng ta làm như vậy, quí vị có lẽ phương hại đến danh tiếng của tôi nữa.

     

    Chúng tôi đã ban cho mỗi quí vị nhiều điều như vậy. Tôi sẽ xem là đệ tử tất cả những quí vị thật sự tu luyện và nghiêm khắc hành xử theo Đại Pháp. Ngày nào quí vị còn thực hành Pháp Luân Đại Pháp, chúng tôi sẽ xem quí vị là đệ tử. Nếu quí vị không thực hành nó, chúng tôi không làm gì được cho quí vị. Quí vị mang danh hiệu đó để làm gì nếu quí vị không tu luyện nó? Không cần quí vị là một người tu của khóa thứ nhất hay khóa thứ nhì. Làm sao quí vị được xem là đệ tử của Pháp Luân Đại Pháp nếu quí vị chỉ tập luyện các động tác thôi? Để giữ một cơ thể khỏe mạnh và tinh tấn về bên trên cao tầng, quí vị phải thật sự tu luyện theo tiêu chuẩn Tâm tính của chúng tôi. Vậy, chúng tôi không cần thiết đến những thủ tục đó. Ngày nào quí vị thực hành tu luyện, quí vị là người tu của Pháp môn chúng tôi. Pháp thân của tôi biết tất cả. Nó biết tất cả những gì quí vị nghĩ và nó có khả năng thực hiện tất cả. Nó sẽ không lo đến quí vị nếu quí vị không tu luyện, nhưng nó sẽ giúp quí vị suốt cuộc hành trình đến bước cuối cùng nếu quí vị tu luyện.

     

    Có pháp môn, người tập còn không nhìn thấy vị thầy, họ nói rằng chỉ cần dập đầu xuống đất về hướng gì đó và trả một vài trăm đồng là xong. Phải chăng là một phương cách để gạt mình và gạt người? Hơn nữa, những người học trò đó sẽ trở thành rất trung thành từ đó và bắt đầu bênh vực và che chở cho môn phái và thầy của họ. Họ cũng nói với người khác là chớ có học những pháp môn khác. Tôi cho rằng đó thật là buồn cười. Cũng có người làm cái gọi là Mo Ding (sờ đỉnh đầu). Không ai biết điều đó có hiệu quả gì.

     

    Không chỉ có những khí công được truyền bá dưới nhãn hiệu của mật tông là giả, nhưng tất cả những khí công truyền bá dưới nhãn hiệu của Phật giáo cũng là giả. Xin hãy suy nghĩ điều nầy. Những pháp môn tu luyện trong Phật giáo vẫn nằm trong một phương thức từ nhiều ngàn năm. Nó có còn là Phật giáo nữa chăng nếu người ta sửa đổi nó? Những pháp môn tu luyện là nhắm để tu luyện thành Phật, chúng rất nghiêm túc. Hơn nữa chúng vô cùng là tinh tế, một chút sửa đổi có thể đưa đến hỗn loạn tất cả. Cũng như sự chuyển hóa Công lực là rất phức tạp, điều gì con người cảm giác là không có nghĩa gì cả, người ta không thể tu luyện dựa trên cảm giác của mình. Những hình thức tôn giáo cho các thầy tu là một phương thức tu luyện. Một khi bị sửa đổi, nó không còn là những điều của pháp môn đó nữa. Có một đấng Đại giác làm chủ mỗi môn pháp, và mỗi môn pháp đều đã tạo nên vô số các đấng Đại Giác. Không ai dám tùy tiện sửa đổi phương pháp tu luyện của môn pháp. Một người thầy khí công nhỏ nhoi, có phước đức bao la gì mà y dám làm phật lòng vị Thầy sáng lập và sửa đổi pháp môn tu luyện thành Phật? Pháp môn đó có còn là nó nữa không nếu nó đã bị sửa đổi? Vậy những môn khí công giả mạo rất dễ phân biệt.

    QUÝ HÀNH GIẢ KHI CHỌN CON ĐƯỜNG TU MẬT, PHẢI CẨN THẬN CÁCH ĐIỂM ĐẠO THEO TRUYỀN THỐNG VIDEO DƯỚI ĐÂY.


     Source: Anhduong

    Read more »
RSS